4082 - NATO trước mối lo Mỹ thu hẹp chiếc "ô an ninh"
Trong nhiều thập niên, NATO vận hành dựa trên một nguyên tắc gần như bất biến: Sức mạnh quân sự Mỹ là nền tảng cuối cùng bảo đảm an ninh cho châu Âu. Nhưng những tín hiệu phát đi từ Washington trong những tuần gần đây cho thấy nguyên tắc đó đang bị xem xét lại một cách sâu rộng.
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio dự cuộc họp ngoại trưởng NATO tại Helsingborg, Thụy Điển, ngày 22/05/2026. Julia Demaree Nikhinson/Pool AP - Julia Demaree NikhinsonChính quyền Donald Trump được cho là chuẩn bị thông báo cắt giảm đáng kể các năng lực quân sự mà Mỹ dành sẵn cho NATO trong trường hợp xảy ra khủng hoảng hoặc chiến tranh lớn ở châu Âu. Việc Mỹ xem xét lại cam kết quân sự với NATO đang phủ bóng hội nghị ngoại trưởng các nước thành viên Liên minh tại Thụy Điển hôm nay.
Theo AP, phát ngôn viên Lầu Năm Góc Sean Parnell hôm thứ Ba 19/05 cho biết Mỹ thực sự đang cắt giảm số lượng quân lính có thể cung cấp cho NATO như một phần của “quy trình toàn diện nhiều tầng”, tập trung vào việc tái định hình hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu.
Dù Nhà Trắng chưa nói đến việc rút khỏi Liên minh hay từ bỏ Điều 5 về phòng thủ tập thể, thông điệp gửi tới các đồng minh châu Âu đã đủ rõ ràng: Washington không còn muốn giữ vai trò “người bảo trợ an ninh” gần như tuyệt đối như trong suốt thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh.
Động thái này phản ánh một sự chuyển dịch chiến lược rộng lớn hơn của nước Mỹ. Đối với tổng thống Donald Trump, ưu tiên an ninh của Washington giờ đây không còn nằm ở châu Âu mà là ở khu vực Tây bán cầu cũng như Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, nơi mà Trung Quốc được xem là đối thủ chiến lược lớn nhất. Trong logic của chủ trương “America First”, việc duy trì hàng chục nghìn binh sĩ và cam kết quân sự khổng lồ tại châu Âu bị coi là gánh nặng tốn kém mà các đồng minh giàu có của Mỹ phải chia sẻ nhiều hơn.
Từ khi xung đột tại Ukraina bùng phát năm 2022, Mỹ đã nâng số quân đồn trú tại lãnh thổ của NATO lên khoảng 76.000 người, mức cao nhất kể từ sau Chiến tranh Lạnh. Nhưng theo các nguồn tin từ NATO và Lầu Năm Góc, Washington hiện muốn thu hẹp phần lực lượng theo mô hình “NATO Force Model” được cho đã được hình thành để xác định các đơn vị có thể nhanh chóng triển khai trong trường hợp Liên minh bị tấn công.
Sự thay đổi có vẻ kỹ thuật này thực tế mang ý nghĩa chiến lược rất lớn. Trong nhiều thập niên, sức mạnh của NATO không chỉ nằm ở số lượng binh sĩ hay xe tăng, mà còn ở các cam kết chắc chắn của Mỹ. Đối với các quốc gia vùng Baltic hay Ba Lan, niềm tin rằng Washington sẽ phản ứng tức thời nếu Nga mở rộng xung đột là nền tảng của khả năng răn đe.
Khi mức độ chắc chắn đó suy giảm, ngay cả khi quân đội Mỹ vẫn hiện diện tại châu Âu, cán cân tâm lý chiến lược cũng thay đổi. Điều khiến nhiều thủ đô châu Âu lo ngại hơn cả là tính khó đoán của chủ nhân Nhà Trắng hiện nay. Trong vài tuần qua, Washington liên tục phát đi các tín hiệu mâu thuẫn: Lúc thì tuyên bố cắt giảm khoảng 5.000 quân tại châu Âu, lúc lại thông báo sẽ triển khai thêm binh sĩ tới Ba Lan sau chiến thắng của tổng thống Karol Nawrocki, nhân vật theo xu hướng dân tộc chủ nghĩa được Donald Trump công khai ủng hộ.
Những thay đổi đột ngột này khiến các đồng minh cảm thấy chính sách an ninh xuyên Đại Tây Dương ngày càng phụ thuộc vào quan hệ cá nhân và các tính toán chính trị ngắn hạn của ông Trump hơn là một chiến lược ổn định lâu dài. Một số nghị sĩ Mỹ thậm chí công khai chỉ trích cách xử lý của chính quyền Trump, cho rằng các đồng minh NATO đã bị “bất ngờ” và không được tham vấn đầy đủ.
Đối với châu Âu, vấn đề không đơn thuần là số lượng binh sĩ Mỹ. Điều đáng lo hơn là khoảng trống năng lực mà Mỹ để lại nếu thật sự Washington giảm vai trò quân sự.
Dù ngân sách quốc phòng đã tăng mạnh kể từ năm 2022, phần lớn quân đội châu Âu vẫn phụ thuộc Washington trong các lĩnh vực cốt lõi như vận tải chiến lược, tình báo vệ tinh, phòng thủ tên lửa, tiếp dầu trên không, hay chỉ huy tác chiến quy mô lớn. Đức vẫn gặp khó khăn trong việc hiện đại hóa quân đội sau nhiều năm cắt giảm ngân sách quốc phòng. Ba Lan đang tái vũ trang với tốc độ rất nhanh, nhưng chưa thể thay thế vai trò hậu cần và răn đe của Mỹ. Các nước Baltic gần như hoàn toàn dựa vào ô an ninh NATO. Chính vì vậy, việc Mỹ rút dần khỏi vai trò “người bảo vệ chính” có nguy cơ tạo ra một giai đoạn chuyển tiếp đầy bất ổn cho an ninh châu Âu.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng niềm tin này cũng đang thúc đẩy một thay đổi mà tổng thống Pháp Emmanuel Macron từ lâu đã kêu gọi: “tự chủ chiến lược châu Âu”. Ý tưởng xây dựng một châu Âu có khả năng tự bảo vệ mình từng bị xem là tham vọng xa vời, nhưng giờ đây đang trở thành nhu cầu cấp bách.
Đức đã công bố chương trình tái vũ trang lớn nhất kể từ năm 1945. Ba Lan đang xây dựng một trong những lực lượng lục quân mạnh nhất châu Âu. Liên Hiệp Châu Âu cũng tăng đầu tư vào công nghiệp quốc phòng và các chương trình hợp tác quân sự nội khối.
Tuy nhiên, các chuyên gia quân sự cho rằng châu Âu sẽ cần ít nhất một thập niên và hàng nghìn tỷ euro để có thể thay thế phần lớn năng lực mà Mỹ hiện cung cấp. Trong khoảng thời gian đó, NATO có thể bước vào giai đoạn mong manh nhất kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc.
Đối với Vladimir Putin, đây có thể là một thắng lợi chiến lược quan trọng mà không cần một cuộc đối đầu trực tiếp với NATO. Matxcơva từ lâu đã tìm cách làm suy yếu sự đoàn kết xuyên Đại Tây Dương và gieo nghi ngờ về mức độ cam kết của Washington đối với châu Âu. Chỉ cần các đồng minh bắt đầu nghi ngờ về tốc độ hoặc quy mô phản ứng của Mỹ, hiệu ứng răn đe của NATO cũng sẽ giảm đi đáng kể.

Nhận xét
Đăng nhận xét