2199 - Hy vọng cuối cùng tốt nhất
Ivo H. Daalder and James M. Lindsay
Phạm Nhật Bình lược dịch
Cơ hội cuối cùng của phương Tây để xây dựng một trật tự thế giới tốt đẹp hơn
Hội nghị thượng đỉnh NATO tại Brussels, tháng 3 năm 2022 Henry Nicholls / Reuters
Cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine đã khẳng định điều đã rõ ràng từ lâu: trật tự dựa trên luật lệ được tạo ra sau Thế chiến thứ hai có nguy cơ sụp đổ. Nga không bằng lòng trở thành một bên liên quan có trách nhiệm trong một hệ thống do người khác thiết lập và Trung Quốc cũng vậy, nước đã ủng hộ sự hung hăng của Moscow. Cả hai quốc gia đều muốn lập lại trật tự để phục vụ lợi ích chuyên quyền của họ. Như Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã nói tại Warsaw vào tháng 3, phương Tây hiện đang phải đối mặt với “cuộc chiến giữa dân chủ và chuyên quyền, giữa tự do và đàn áp, giữa trật tự dựa trên luật lệ và một trật tự được điều hành bởi vũ lực.”
Lịch sử không được diễn ra theo cách này. Trong những ngày sôi động sau Chiến tranh Lạnh, trật tự dường như vừa không thể thách thức vừa không thể thay đổi. Washington tin rằng vị trí đứng đầu không cần bàn cãi của mình cho phép họ quyết định tương lai của các quốc gia khác cũng như của chính mình. Các đồng minh của Hoa Kỳ tin rằng họ đã thoát khỏi thảm kịch của nền chính trị cường quốc và đã bước vào kỷ nguyên của các quy tắc tự thực thi. Tuy nhiên, theo thời gian, thói quen hợp tác bị mai một và ý thức về mục đích chung cũng phai nhạt. Thay vì sử dụng thời điểm thống trị duy nhất của Hoa Kỳ để làm sâu sắc thêm và củng cố trật tự dựa trên luật lệ, phương Tây đã để hệ thống đó tàn lụi.
Washington và các đồng minh hiện có cơ hội sửa chữa sai lầm đó. Tính toán sai lầm trong lịch sử của Tổng thống Nga Vladimir Putin khi tấn công Ukraine đã nhắc nhở họ không chỉ về lợi ích và giá trị chung mà còn về tầm quan trọng của việc hành động tập thể. Phương Tây đáp trả cuộc xâm lược bằng một sự thống nhất chưa từng thấy kể từ đỉnh cao của Chiến tranh Lạnh. Hoa Kỳ và các đồng minh của họ đã áp dụng các biện pháp trừng phạt chưa từng có, bắt đầu loại bỏ nguồn năng lượng của Nga và vận chuyển một lượng lớn vũ khí tới Ukraine. Nhưng sự thống nhất đáng ngạc nhiên này có thể không kéo dài. Khi nỗi đau kinh tế của các lệnh trừng phạt gia tăng và cuộc chiến lắng xuống thành cuộc chiến tiêu hao kéo dài mà các viên chức tình báo dự báo, những lo ngại trong nước và các mối quan ngại khác có thể bắt đầu gieo rắc chia rẽ trong phương Tây.
Ngay cả khi phương Tây nỗ lực để giải quyết những khác biệt này, nó nên biến sự thống nhất mới hình thành một nỗ lực rộng lớn hơn để cứu trật tự dựa trên luật lệ. Bước đầu tiên phải là thành lập một nhóm mới, G-12, tập hợp Hoa Kỳ và các đồng minh hàng đầu của họ ở châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ. Mọi thành viên của nhóm này đều có lợi ích thiết yếu trong việc giữ gìn trật tự, và không ai trong số họ có thể tự mình làm điều đó. Nhưng chỉ hợp tác chính thức sẽ không đủ. Hoa Kỳ và các đồng minh sẽ cần phải thực hiện bước thứ hai của việc học hỏi từ những sai lầm mà họ đã mắc phải trong ba thập kỷ qua. Washington sẽ cần phải hạn chế khuynh hướng đơn phương, lắng nghe cũng như đối thoại và cũng như đưa ra yêu cầu. Về phần mình, các đồng minh châu Á và châu Âu sẽ cần phải nhận nhiều trách nhiệm hơn và khắc phục xu hướng thích đi xe tự do.
Nếu phương Tây vẫn tiếp tục những cách làm cũ của mình, nó sẽ phá vỡ một thứ cực kỳ hiếm trong chính trị quốc tế: một cơ hội thứ hai. Chỉ bằng cách nắm bắt thời điểm, rút kinh nghiệm từ những sai sót và hành động tập thể, phương Tây mới có thể xây dựng lại một trật tự quốc tế thúc đẩy pháp quyền hơn là luật rừng.
***
Mặc dù chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ đã nhanh chóng phung phí cơ hội để biến khoảnh khắc đơn cực của mình thành một điều gì đó lâu dài hơn. Nó đã tồn tại lâu hơn Liên Xô, thống nhất châu Âu, và thúc đẩy sự mở rộng lịch sử của nền kinh tế toàn cầu. Chiến thắng này, cả về chiến lược và tư tưởng, đã mở đường cho phương Tây mở rộng và làm sâu sắc hơn trật tự an ninh tập thể dựa trên luật lệ, thị trường rộng mở và tôn trọng dân chủ, nhân quyền và pháp quyền. Vào đầu những năm 1990, nền dân chủ đang lan rộng và các thị trường tự do đang hình thành. Ngay cả những kẻ thù cũ, chẳng hạn như Nga, và các đối thủ có thể có trong tương lai, bao gồm cả Trung Quốc, dường như không có lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận dòng chảy tự do của vốn, hàng hóa, ý tưởng và con người - hoặc bị bỏ lại phía sau. Hợp tác và hòa giải dường như được thiết lập để thay thế cạnh tranh và xung đột như những đặc điểm nổi bật của chính trị thế giới.
Nhưng các sự kiện đã không diễn ra như kế hoạch. Hoa Kỳ đã chơi quá tay, tin rằng vai trò là “cường quốc không thể thiếu” của thế giới đã cho phép nước này đẩy nhanh lịch sử. Một loạt các biện pháp can thiệp quân sự được thực hiện với danh nghĩa ổn định và dân chủ thường tạo ra nhiều hỗn loạn và khốn khó hơn là an ninh và giàu có. Nó hầu như không giúp được gì ngay cả khi nó ủng hộ một trật tự dựa trên quy tắc, Washington thường xuyên phớt lờ các quy tắc mà họ không thích — như khi họ can thiệp vào Kosovo vào năm 1999 và Iraq năm 2003 sau khi không đảm bảo được sự ủy nhiệm của Liên Hiệp Quốc và khi họ tra tấn những người bị bắt giữ trong cuộc chiến chống lại khủng bố. Hoa Kỳ từ chối tham gia các thỏa thuận hợp tác mới về thử nghiệm hạt nhân, kiểm soát vũ khí, truy tố tội phạm chiến tranh và chính quy hóa thương mại ở châu Á - Thái Bình Dương, vì sợ rằng những cam kết như vậy sẽ hạn chế quyền tự do điều động của mình. Washington cảm thấy có lý vì họ đã tự thuyết phục rằng động cơ của chính họ là trong sáng. “Chúng tôi đứng cao và chúng tôi nhìn xa hơn các quốc gia khác trong tương lai,” Ngoại trưởng Hoa Kỳ Madeleine Albright tuyên bố vào năm 1998. Nhưng bạn bè cũng như kẻ thù không nhìn thấy sức mạnh và sự chính trực; họ đã nhìn thấy sự kiêu ngạo và đạo đức giả.
Washington hầu như không đơn độc khi thất bại trong việc tận dụng tối đa khoảnh khắc do Liên Xô sụp đổ tạo ra. Các đồng minh của họ ở châu Âu bị ảo tưởng về bản thân, tin rằng sự kết thúc của sự chia rẽ trong Chiến tranh Lạnh ở lục địa này có nghĩa là sự kết thúc của xung đột. Họ coi mình là những quốc gia hậu hiện đại có thể dựa vào hợp tác và các thể chế đa phương để duy trì hòa bình. Mặc dù họ nhận ra rằng chủ nghĩa khủng bố và phổ biến vũ khí hạt nhân vẫn là những mối đe dọa nhưng họ vẫn bằng lòng để Washington giải quyết những vấn đề như vậy. Họ cũng giả định rằng can dự kinh tế, kiểm soát vũ khí và đối thoại sẽ biến Nga thành một đối tác và nhu cầu tiếp cận thị trường và công nghệ của Trung Quốc sẽ biến nước này thành một bên liên quan trong trật tự dựa trên luật lệ. Với sự cạnh tranh giữa các cường quốc dường như đã bị xếp vào thùng rác của lịch sử, các lợi ích kinh tế giờ đây có thể thúc đẩy chính sách đối ngoại.
Sự kiêu ngạo của người Mỹ và tư duy mơ mộng của châu Âu đã thống trị thời đó, và các nhà lãnh đạo ở các thủ đô phương Tây phớt lờ những dấu hiệu cho thấy sự cạnh tranh giữa các cường quốc còn lâu mới chết. Nga xâm lược Gruzia vào năm 2008, và sau đó 6 năm, nước này sáp nhập Crimea và thúc đẩy cuộc nổi dậy ly khai ở Ukraine. Những hành động này chủ yếu gợi ra phản ứng mang tính biểu tượng từ phương Tây. Thay vì giảm bớt sự phụ thuộc vào dầu và khí đốt của Nga, phần lớn châu Âu đã tăng cường sự phụ thuộc của mình bởi vì, như giám đốc điều hành hóa chất người Đức Martin Brudermüller đã nói, “năng lượng giá rẻ của Nga đã là cơ sở cho khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp của chúng tôi”. Về phần mình, Trung Quốc đã tiến hành các hành động gián điệp kinh tế chưa từng có, cưỡng ép các đối tác thương mại của mình, đưa ra yêu sách về Biển Đông, bỏ tù hơn một triệu người Duy Ngô Nhĩ, và bóp chết nền dân chủ ở Hồng Kông - một chuỗi các hành động xúc phạm khiến Bắc Kinh chỉ kiếm được nhiều hơn những lời quở trách nhẹ. Phố Wall ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào sự giàu có của Trung Quốc, và vào năm 2020, EU đã ký một thỏa thuận thương mại và đầu tư mới với Bắc Kinh.
Những phát triển này dần dần làm xói mòn những đặc điểm cốt lõi của trật tự dựa trên quy tắc. Khả năng các cường quốc sử dụng vũ lực mà không bị trừng phạt đối với các nước láng giềng nhỏ hơn đã cho thấy những điểm yếu của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và các tổ chức an ninh tập thể khác. Sự gia tăng của các hoạt động thương mại theo chủ nghĩa trọng thương đã làm nổi bật những lỗ hổng trong các quy tắc thương mại toàn cầu. Những gián đoạn kinh tế gây ra bởi quá trình toàn cầu hóa không được kiểm soát đã thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc dân túy và những người chuyên quyền tuyên bố rằng nền dân chủ tự do đã suy đồi và lỗi thời. Khi đại dịch COVID-19 xảy ra, các quốc gia phản ứng không phải bằng cách hành động tập thể chống lại mối đe dọa chung mà bằng cách theo đuổi các chính sách “mọi quốc gia vì chính mình”. Nói tóm lại, trật tự thế giới đang được làm sáng tỏ.
Cuộc xâm lược Ukraine đã đánh thức phương Tây khỏi cơn buồn ngủ. Tốc độ, quy mô và phạm vi của phản ứng do Mỹ dẫn đầu đã khiến các nhà lãnh đạo phương Tây ngạc nhiên gần như khiến Putin ngạc nhiên. Các biện pháp trừng phạt kinh tế đang tác động lên nền kinh tế Nga. Châu Âu đang nhanh chóng cắt giảm nhập khẩu năng lượng của Nga, làm giảm mạnh đòn bẩy của Moscow. NATO đang tăng cường sự hiện diện của mình từ Baltics đến Biển Đen và chuẩn bị chào đón Phần Lan và Thụy Điển là thành viên mới. Và Ukraine, được hỗ trợ bởi các lô hàng vũ khí mới và tình báo phương Tây, đã chống lại thành công quân đội Nga lớn hơn nhiều.
Phần lớn năng lượng ngoại giao của phương Tây sẽ đi đúng vào việc duy trì sự ủng hộ của những nước này đối với Ukraine. Tuy nhiên, điều quan trọng không kém là các nhà lãnh đạo phương Tây phải suy nghĩ tham vọng hơn về việc khôi phục trật tự dựa trên luật lệ đang đổ nát. Bằng cách nhắc nhở các nền dân chủ phương Tây về lợi ích chung và sức mạnh của họ khi họ làm việc cùng nhau, sai lầm chiến lược của Putin đã tạo ra cơ hội để chữa lành vết thương tự gây ra trong ba thập kỷ.
***
Bước đầu tiên sẽ là thể chế hóa sự hợp tác đã xuất hiện sau khi Nga xâm lược Ukraine. Cách tốt nhất để làm điều này là Hoa Kỳ và các đồng minh dân chủ tiên tiến của họ ở châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ tạo ra một G-12 bao gồm các thành viên G-7 hiện tại (Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ) cùng với Úc, New Zealand, Hàn Quốc và EU. NATO sẽ có một chỗ ngồi trên bàn cho tất cả các cuộc thảo luận liên quan đến an ninh.
Thành lập G-12 là hy vọng tốt nhất cuối cùng để phục hồi trật tự dựa trên quy tắc. Các quốc gia thành viên và tổ chức tương lai của G-12 có năng lực, sự quan tâm và khả năng làm việc tập thể để làm điều đó. Họ là nơi sinh sống của gần một tỷ người và chiếm hơn 60% GDP toàn cầu và chi tiêu quân sự. Trung Quốc và Nga cùng đông dân hơn nhưng chỉ chiếm 20% tổng sản lượng kinh tế thế giới và chỉ 17% chi tiêu quân sự. Như phản ứng của họ trước sự xâm lược của Nga vào Ukraine, các thành viên tiềm năng của G-12 đều nhận ra rằng an ninh và sự thịnh vượng của họ phụ thuộc vào việc tìm cách tránh quay trở lại một thế giới mà vũ lực thay thế pháp quyền. Và họ có thể phản ứng nhanh chóng chống lại Nga vì họ đã có lịch sử hợp tác lâu dài trong nhiều vấn đề, dù là trong quan hệ song phương hay trong các diễn đàn đa phương.
Những gì các nước này đã không làm là làm việc cùng nhau một cách có chủ đích như một nhóm hoặc vì mục đích cụ thể là củng cố trật tự toàn cầu. Sự hình thành của G-12 sẽ khắc phục lỗi đó. Trái ngược với một hiệp hội lỏng lẻo như G-7, vốn có truyền thống tiếp cận các vấn đề toàn cầu theo cách đặc biệt, các quốc gia và thể chế G-12 sẽ cam kết xác định các thách thức toàn cầu, đánh giá các phản ứng sẵn có và phản ứng theo cách phối hợp. Thỏa thuận sẽ không yêu cầu một hiệp ước chính thức, cơ cấu hoặc ban thư ký. Thay vào đó, nó sẽ dựa trên một cam kết chung giữa các thành viên G-12 về việc can dự của họ ở nước ngoài dựa trên nguyên tắc rằng sự hợp tác và phối hợp giữa họ là điều quan trọng để đạt được các mục tiêu của họ và duy trì trật tự dựa trên quy tắc. Các nguyên thủ quốc gia G-12 nên gặp mặt ít nhất 6 tháng một lần, và các bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng, kinh tế và các bộ trưởng khác của họ nên gặp gỡ thường xuyên hơn - nhiều hơn khi Hội đồng Liên minh châu Âu tiến hành công việc kinh doanh của mình về đầy đủ các vấn đề.
Sự phối hợp chính sách cần phải bắt đầu trong lĩnh vực chính sách đối ngoại. Các thành viên G-12 cần phải hợp tác với nhau để ngăn chặn chủ nghĩa xét lại của Nga, cạnh tranh với Trung Quốc, ngừng phổ biến vũ khí hạt nhân, chống khủng bố, chống đại dịch và kiềm chế biến đổi khí hậu. Sự phối hợp sau xâm lược tại LHQ và trong G-7 và NATO cần trở thành tiêu chuẩn cho G-12 trong tất cả các vấn đề lớn. Để tạo điều kiện cho hành động chung, các nước G-12 nên họp kín với LHQ, Tổ chức Thương mại Thế giới, các tổ chức tài chính quốc tế và các tổ chức quốc tế khác để xây dựng các lập trường chung và đồng ý với các hành động phối hợp về các vấn đề quan trọng.
Trong lĩnh vực kinh tế, G-12 sẽ cần phối hợp về thương mại, đầu tư, kiểm soát xuất khẩu, thương mại kỹ thuật số và các vấn đề kinh tế quan trọng khác. Đại dịch COVID-19 và cuộc chiến ở Ukraine đã củng cố chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa bảo hộ về kinh tế, làm gián đoạn thương mại và chuỗi cung ứng bị trì trệ, tăng trưởng chậm lại và thúc đẩy lạm phát. Những lo ngại về an ninh ngày càng tăng về sở hữu trí tuệ và các công nghệ quan trọng đã hạn chế thương mại hơn nữa, đặc biệt là với các đối thủ của Mỹ như Trung Quốc và Nga.
G-12 nên trở thành động cơ thúc đẩy hợp tác và tăng trưởng kinh tế, đẩy lùi cám dỗ hướng nội. Bước đầu tiên quan trọng sẽ là Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và EU gia nhập Hiệp định thương mại Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, vốn đã bao gồm Canada và các quốc gia G-12 tiềm năng khác ở châu Á. Hoa Kỳ và Châu Âu cũng nên làm sống lại các cuộc đàm phán về một hiệp ước thương mại và đầu tư, do đó bổ sung cho các hiệp ước song phương hiện có của EU với Úc, Canada và Nhật Bản. Các thành viên G-12 cũng sẽ cần phối hợp các chính sách của họ về kiểm soát xuất khẩu và đầu tư nước ngoài để đảm bảo duy trì lợi thế cạnh tranh trước Trung Quốc. Và họ sẽ cần củng cố chuỗi cung ứng cho các hàng hóa quan trọng - chẳng hạn như chất bán dẫn, robot, trí tuệ nhân tạo và kim loại đất hiếm - trong thế giới phương Tây.
Trong lĩnh vực an ninh, Hoa Kỳ sẽ vẫn đứng đầu trong số các quốc gia ngang bằng trong G-12. Riêng nó có một quân đội với tầm hoạt động toàn cầu thực sự. Mặc dù vậy, trước sự xâm lược của Nga đối với Ukraine, các thành viên khác của G-12 tương lai cuối cùng đã thực hiện tốt lời hứa của họ là chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng. Nhật Bản đang xem xét có thể tăng gấp đôi chi tiêu quân sự của mình trong vài năm tới và quyết định của Đức sau cuộc xâm lược nhằm tăng ngân sách quốc phòng khiến nước này trở thành nước chi tiêu quân sự lớn thứ ba trên thế giới. Những khoản chi này sẽ bổ sung tới 150 tỷ đô la vào số tiền mà phương Tây hiện chi hàng năm cho quốc phòng, khiến Đức và Nhật Bản trở thành những đối tác an ninh hiệu quả hơn nhiều đối với Hoa Kỳ.
Các kênh chính để tăng cường khả năng quốc phòng giữa các thành viên G-12 sẽ vẫn như cũ - các thỏa thuận quốc phòng thông qua các thỏa thuận song phương và NATO với Hoa Kỳ - với việc bổ sung sự phối hợp chặt chẽ hơn trong EU. Nhưng G-12 sẽ cung cấp một diễn đàn hữu ích để thúc đẩy những nỗ lực này và đảm bảo rằng các chính sách an ninh xuyên Đại Tây Dương và xuyên Thái Bình Dương phù hợp hơn nhiều so với hiện tại. Tăng cường khả năng quân sự và tăng cường phối hợp sẽ cải thiện đáng kể cơ hội răn đe và nếu cần, đánh bại bất kỳ hành động xâm lược nào của Nga, Trung Quốc hoặc các nước khác.
Cũng quan trọng như sự hợp tác chính thức, thành công của G-12 sẽ phụ thuộc vào việc Hoa Kỳ và các đồng minh từ bỏ những thói quen xấu mà họ đã phát triển kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Washington thường hành động đơn phương, tin rằng dẫn đầu có nghĩa là quyết định những gì phải làm và ra lệnh cho những người khác làm theo. Các cuộc tham vấn thường diễn ra dưới hình thức thông báo cho những người khác về các quyết định đã được đưa ra hơn là cùng nhau phát triển các vị trí mới. Loại hành vi này đã được thể hiện trong các quyết định của chính quyền Trump nhằm rút khỏi thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu và thỏa thuận hạt nhân Iran và quyết định của chính quyền Biden về việc vội vàng rút quân đội Mỹ khỏi Afghanistan. Ngược lại, các đồng minh của Hoa Kỳ thường trốn tránh trách nhiệm đối với các quyết định cứng rắn, không tuân theo các cam kết an ninh của Hoa Kỳ trong khi vẫn để cho quyền lực cứng của họ bị suy giảm. G-12 sẽ cần phải là một quan hệ đối tác bình đẳng - theo cách mà các thành viên của nó từ lâu đã tuyên bố mong muốn - với các thành viên châu Á và châu Âu đảm nhận nhiều hơn gánh nặng hành động và Hoa Kỳ chia sẻ nhiều hơn trong việc ra quyết định. Chắc chắn, như trường hợp của NATO và EU, việc giả mạo thỏa thuận có thể mất nhiều thời gian, đặc biệt là khi các lợi ích xung đột. Nhưng cũng giống như trong các tổ chức khác, nguồn sức mạnh của G-12 sẽ nằm ở khả năng hành động tập thể - như Nga hiện đã phát hiện ra nguy cơ của riêng mình.
***
G-12 mang đến cơ hội tốt nhất để huy động các nguồn lực của các nền dân chủ tiên tiến và mạnh mẽ nhất trên thế giới để bảo vệ trật tự dựa trên quy tắc. Tuy nhiên, thật công bằng khi đặt câu hỏi, liệu việc tạo ra G-12 có mở rộng khoảng cách giữa các nền dân chủ và các chế độ chuyên quyền, làm tăng căng thẳng hiện tại và khiến việc đưa ra các giải pháp cần thiết để giải quyết một loạt các thách thức toàn cầu mà cả thế giới, không chỉ. phương Tây, khuôn mặt. G-12 chắc chắn sẽ được coi là một phương tiện chống lại sức mạnh của Trung Quốc và Nga một cách rõ ràng. Bắc Kinh và Moscow sẽ không nhún vai đáp trả. Họ sẽ nỗ lực gấp đôi để phá hoại trật tự dựa trên luật lệ và làm việc chăm chỉ để đưa các quốc gia khác vào quỹ đạo của họ.
Mối quan tâm về sự chia rẽ ngày càng sâu sắc bao trùm lên một điểm quan trọng: các nền dân chủ phương Tây đã bị khóa trong cuộc đấu tranh với các chính phủ độc tài về những giá trị của họ sẽ định hướng trật tự thế giới. Cả Trung Quốc và Nga đều không tìm cách cải thiện các thỏa thuận quốc tế hiện có. Cả hai đều là những cường quốc theo chủ nghĩa xét lại tranh chấp các chuẩn mực và thể chế của trật tự thời hậu chiến. Họ mong muốn quay trở lại thời đại của một nền chính trị cường quốc, trong đó họ có thể tự do thống trị các nước láng giềng của mình. Các nền dân chủ phương Tây đã miễn cưỡng nhận ra những thách thức mà cả hai quốc gia đặt ra, hy vọng rằng sự can dự sẽ thuyết phục Bắc Kinh và Matxcơva hợp tác hơn là chống lại họ. Việc Nga xâm lược Ukraine, với sự chứng thực hoàn toàn nhưng chính thức của Trung Quốc, đã làm rõ rằng quan hệ đối tác Trung - Nga hướng tới sự đối đầu về mọi thứ mà phương Tây — và trật tự dựa trên luật lệ — đại diện cho.
Việc thành lập G-12 sẽ không ngăn cản phương Tây làm việc với Trung Quốc hoặc Nga. Những nỗ lực nhằm hạn chế biến đổi khí hậu và ngăn chặn đại dịch chắc chắn sẽ được hưởng lợi từ sự hợp tác nhiều hơn giữa tất cả các cường quốc. Nhưng sự hợp tác của Trung Quốc và Nga về những vấn đề này vẫn chưa được thực hiện, ngay cả khi phương Tây hạ thấp sự đe dọa kinh tế của Trung Quốc và phớt lờ sự xâm lược của Nga. Bắc Kinh và Matxcơva cho thấy họ sẽ nhượng bộ chỉ vì tư lợi chứ không phải vì thiện chí. Bằng cách huy động các nguồn lực của các nền dân chủ mạnh nhất trên thế giới, G-12 sẽ cho phép phương Tây tiến hành ngoại giao với cả hai quốc gia từ một vị thế mạnh.
Cách tiếp cận của G-12 đối với Trung Quốc, Nga và các chế độ chuyên quyền khác phải tương tự như những gì Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken đã mô tả như cách tiếp cận của chính quyền Biden đối với Trung Quốc: “cạnh tranh khi cần, hợp tác khi có thể và đối đầu khi nó phải là." Để đạt được điều đó, G-12 cần phải làm rõ nó dùng để làm gì chứ không chỉ chống lại cái gì. Mục đích của nó sẽ không phải là để kìm hãm Trung Quốc hoặc Nga hoặc biến họ hoặc các quốc gia khác thành các nền dân chủ phương Tây. Mục đích của nó là bảo vệ các nguyên tắc cốt lõi của trật tự thời hậu chiến: tôn trọng chủ quyền của các quốc gia lớn và nhỏ như nhau, tuân thủ pháp quyền, ủng hộ dân chủ và nhân quyền, và cam kết giải quyết hòa bình các tranh chấp.
***
Các nền dân chủ phương Tây có thể cùng cam kết với các giá trị tự do, nhưng họ sẽ luôn có lợi ích riêng. Thực tế này đã được phản ánh trong phản ứng của phương Tây đối với cuộc xâm lược Ukraine, với mức độ nhiệt tình khác nhau giữa các đồng minh của Hoa Kỳ về việc cắt xuất khẩu năng lượng của Nga và cung cấp vũ khí hạng nặng cho Ukraine. Khó khăn trong việc xây dựng các chính sách chung sẽ chỉ tăng lên khi chủ thể chuyển từ các mối đe dọa hiện hữu sang các lựa chọn trần tục hơn đối với chính sách thương mại hoặc công nghệ.
Cũng quan trọng không kém, các nền dân chủ bên ngoài phương Tây đã không đoàn kết chống lại sự xâm lược của Nga. Brazil, Ấn Độ, Nam Phi và các nền dân chủ khác ở châu Mỹ, châu Á và châu Phi đã từ chối lên án hành vi vi phạm chủ quyền của Ukraine, từ chối ủng hộ các lệnh trừng phạt chống lại Nga, và trong một số trường hợp, tìm cách khai thác cuộc chiến vì lợi ích của họ. Sự trỗi dậy của sự không liên kết theo phong cách Chiến tranh Lạnh này phản ánh sự pha trộn phức tạp giữa tư lợi, sự đồng cảm và phẫn nộ trong lịch sử, và mối bận tâm với những vấn đề gần gũi hơn ở quê nhà. Không có gì đáng ngạc nhiên. Các nền dân chủ không tránh khỏi việc thiển cận, nuôi dưỡng mối hận thù hoặc chơi hai bên với nhau vì lợi ích của riêng họ.
Mặc dù hợp tác dân chủ không thể được giả định, nó có thể được rèn luyện. Đối với tất cả những thất bại và sai lầm của họ, các nền dân chủ phương Tây đã có một hồ sơ thành công về việc xây dựng các thỏa thuận hợp tác thành công và nhìn chung hoạt động tốt hơn nhiều so với các chế độ chuyên quyền bởi vì các tương tác của họ vượt ra ngoài giao dịch. Cam kết chung của họ đối với pháp quyền khiến họ có thể tin tưởng lẫn nhau, đó là lý do tại sao Hoa Kỳ có các cam kết an ninh chính thức với hơn 50 đồng minh. Nga chỉ có năm quốc gia và Trung Quốc chỉ có một — Triều Tiên.
Để xây dựng thành công này, G-12 lý tưởng sẽ tập trung vào việc xây dựng tình đoàn kết với các nền dân chủ ở “miền Nam toàn cầu” vốn là những kẻ thua cuộc lớn nhất nếu Trung Quốc và Nga xây dựng lại trật tự thế giới theo hình ảnh của chính họ. Cả Bắc Kinh và Matxcơva đều không coi các cường quốc nhỏ hơn có chủ quyền ngang nhau; thay vào đó, họ thấy những quốc gia như vậy đã chín muồi để khai thác và thao túng. Nhận thức được thực tế đó là lý do tại sao Kenya, Singapore và các nền dân chủ không thuộc phương Tây khác đã tham gia cùng phương Tây lên án sự xâm lược của Nga.
Các nền dân chủ phương Tây cung cấp các nền dân chủ khác nhiều hơn thế. Đầu tiên, sản lượng kinh tế chung của các nước G-12 cao gấp ba lần sản lượng của Trung Quốc và Nga cộng lại. Và nếu phương Tây hợp tác chặt chẽ hơn với các nền dân chủ không phải phương Tây, nó có thể sẽ tìm được nhiều đối tác sẵn sàng hơn cho tất cả các nỗ lực ngoại giao của mình.
Nhưng G-12 sẽ cần phải sống theo những quy tắc mà nó mong muốn những người khác tuân theo, theo những cách mà Hoa Kỳ và các đồng minh của họ không phải lúc nào cũng tự làm. Các nhà phê bình chỉ ra rất nhiều trường hợp đạo đức giả của phương Tây, với cuộc xâm lược của Hoa Kỳ vào lãnh thổ Iraq trong số đó. “Làm như chúng tôi nói, không phải như chúng tôi làm” là một nền tảng kém để xây dựng sự hợp tác. Cũng quan trọng không kém, G-12 cần phải nhìn nhận lợi ích của mình một cách rộng rãi và nhận ra rằng cố gắng buộc các nền dân chủ khác đi theo sự dẫn đầu của mình sẽ là một chiến lược thất bại. Tốt hơn nhiều để chứng minh những lợi ích thực sự, kinh tế và mặt khác, của sự hợp tác tích cực với G-12 hơn là gây áp lực cho các nền dân chủ khác đi theo một cách mù quáng.
Khi phương Tây nỗ lực để khắc phục sự chia rẽ giữa các nền dân chủ, thì nó cũng sẽ cần phải vượt qua sự chia rẽ chính trị trong nước. Chủ nghĩa dân tộc theo chủ nghĩa dân túy là một động lực chính trị ở Hoa Kỳ và các nơi khác, thúc đẩy các chính sách đối ngoại hoài nghi ý định của người khác và khuyến khích hành động đơn phương hơn là thỏa hiệp và hợp tác. Tin tốt là hiện tại, cuộc tấn công của Nga vào Ukraine đã khiến công chúng phương Tây không khỏi tự mãn. Người Đức đã áp đảo cách diễn giải của Thủ tướng Olaf Scholz về cuộc chiến như một cuộc chiến tranh Zeitenwende — một “trục xoay lịch sử” — qua đó Đức sẽ coi trọng vấn đề an ninh quân sự hơn. Phần lớn người Phần Lan và Thụy Điển hiện nay ủng hộ tư cách thành viên NATO. Người Mỹ đã ủng hộ các bước mà chính quyền Biden đã thực hiện để viện trợ Ukraine; trong một cuộc thăm dò của Trung tâm Nghiên cứu Pew được thực hiện vào tháng 3, số người được hỏi đồng ý rằng Hoa Kỳ nên cung cấp nhiều viện trợ hơn cho Kyiv đã gấp 5 lần so với đồng ý rằng họ đã cung cấp quá nhiều. Quốc hội đã làm theo và tập hợp lại sau Ukraine.
Nhưng những dấu hiệu đáng lo ngại đang tồn tại. Chiến thắng vang dội của Thủ tướng Hungary Viktor Orban trong cuộc bầu cử quốc hội tháng 3 ở nước ông và thành tích mạnh mẽ của chính trị gia Marine Le Pen trong cuộc đua tổng thống Pháp cho thấy rằng sự yêu mến đối với Putin không đương nhiên bị loại trong chính trường châu Âu. Điều đáng lo ngại hơn là khả năng cựu Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump - người từng nói Putin là “thiên tài” và gọi ông là “hiểu biết” và “thông minh” sau khi Nga tiến hành cuộc xâm lược — hoặc một người khác có chung sở thích của Trump với những người chuyên quyền có thể trở thành tổng thống Hoa Kỳ trong Tháng 1 năm 2025. Không có G-12 nào có thể thành công nếu không có sự tham gia tích cực của Hoa Kỳ. Khi Trump là tổng thống, ông ấy đã làm nhiều việc để tăng cường trật tự dựa trên quy tắc mà G-12 sẽ tìm cách duy trì.
Tuy nhiên, nỗ lực của Orban nhằm tạo dựng một liên minh giữa những bất mãn của EU với Cộng hòa Séc, Ba Lan và Slovakia đã sụp đổ sau trận pháo kích vào Kyiv. Phản ứng của các nước thành viên NATO đối với cuộc xâm lược của Nga đã trả lời cho lời phàn nàn của Trump rằng các thành viên liên minh khác không làm đủ để phòng thủ. Và một cuộc khảo sát của Hội đồng Chicago năm 2021 đối với người Mỹ cho thấy rằng những người được hỏi thích, theo tỷ lệ 3 trên một, để Washington chia sẻ quyền lãnh đạo với những người khác hơn là thống trị họ.
***
Tuy nhiên, nỗi sợ rằng Trump, hoặc ít nhất là xu hướng “Nước Mỹ trên hết” của ông, có thể làm trật bánh G-12 là lý do để nó tiến hành một cách thận trọng. Thứ nhất, G-12 không thể là sự trở lại của Pax Americana. Mục tiêu của nhóm là chia sẻ trách nhiệm và gánh nặng giữa các nền dân chủ tiên tiến nhất của phương Tây, không để Washington ra lệnh cho các điều khoản của mình. Đối với một điều khác, G-12 sẽ cần tăng cường hợp tác kinh tế cũng như thúc đẩy phối hợp về các vấn đề an ninh. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc dân túy phản ánh hậu quả của quá trình toàn cầu hóa không kiềm chế, vốn ưu tiên các doanh nghiệp lớn hơn công nhân và tư bản hơn lao động, khiến quá nhiều người bị bỏ lại phía sau. Thành công của G-12 cuối cùng phụ thuộc vào khả năng cải thiện điều kiện của nó ở các quốc gia thành viên cũng như ở nước ngoài. Điều này có nghĩa là đảo ngược cuộc đua xuống đáy về thuế doanh nghiệp, tránh các thỏa thuận thương mại đưa việc làm ra nước ngoài và giải quyết bất bình đẳng thu nhập ngày càng tăng.
Điều đáng kinh ngạc của hành động gây hấn chống lại Ukraine là nó mang lại cho Mỹ và các đồng minh phương Tây cơ hội để thực hiện điều mà họ đã không đạt được sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc: củng cố lại các thể chế quốc tế và tăng cường hợp tác chống lại các mối đe dọa xuyên quốc gia. Nhưng khoảnh khắc này sẽ không kéo dài mãi mãi. Phương Tây cần phải chống lại sự cám dỗ coi hành động gây hấn chống lại Ukraine là một hành động sai trái hơn là một xu hướng. Để đạt được mục tiêu đó, Hoa Kỳ nên tham gia với 11 thành viên tiềm năng khác của G-12 để khôi phục trật tự dựa trên quy tắc. Các nền dân chủ phương Tây không thể phung phí cơ hội thứ hai này để mọi thứ ổn thỏa.
IVO H. DAALDER là Chủ tịch Hội đồng Chicago về Các vấn đề Toàn cầu và từng là Đại sứ Hoa Kỳ tại NATO từ năm 2009 đến năm 2013.
JAMES M. LINDSAY là Phó Chủ tịch Cấp cao kiêm Giám đốc Nghiên cứu tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại.
Họ là tác giả của The Empty Throne: America’s Abdication of Global Leadership.
Last Best Hope
The West’s Final Chance to Build a Better World Order
A NATO Summit in Brussels, March 2022 Henry Nicholls / Reuters
The West’s Final Chance to Build a Better World Order
A NATO Summit in Brussels, March 2022 Henry Nicholls / Reuters
Russia’s invasion of Ukraine confirmed what has long been apparent: the rules-based order created after World War II is at risk of collapse. Russia is not content to be a responsible stakeholder in a system set up by others, and neither is China, which has supported Moscow’s aggression. Both countries want to remake the order to serve their autocratic interests. As U.S. President Joe Biden said in Warsaw in March, the West now faces “a battle between democracy and autocracy, between liberty and repression, between a rules-based order and one governed by brute force.”
History was not supposed to play out this way. In the heady days after the Cold War, the order appeared both unchallenged and unchallengeable. Washington believed that its unquestioned primacy allowed it to determine the future of other countries as well as its own. U.S. allies believed they had escaped the tragedy of great-power politics and had entered an era of self-enforcing rules. As time went on, however, habits of collaboration eroded, and the sense of common purpose faded. Rather than using the unique moment of U.S. dominance to deepen and strengthen the rules-based order, the West let that system wither.
Washington and its allies now have a chance to correct that mistake. Russian President Vladimir Putin’s historic miscalculation to attack Ukraine has reminded them not just of their shared interests and values but also of the importance of acting collectively. The West responded to the invasion with a show of unity not seen since the height of the Cold War. The United States and its allies have levied unprecedented sanctions, begun weaning themselves off Russian energy, and shipped massive quantities of weapons to Ukraine. But this surprising unity may not last. As the economic pain of sanctions increases and the war settles into the prolonged battle of attrition that intelligence officials forecast, domestic and other concerns may start to sow divisions within the West.
Even as the West works to manage these differences, it should turn its newfound unity into a broader effort to save the rules-based order. The first step should be to create a new group, the G-12, that would bring together the United States and its leading allies in Asia, Europe, and North America. Every member of this group has a vital interest in preserving the order, and none of them can do it on their own. But formalized cooperation alone will not be enough. The United States and its allies will need to take the second step of learning from the mistakes they had made over the last three decades. Washington will need to curtail its penchant for unilateralism, to listen as well as talk, and to give as well as demand. Asian and European allies, for their part, will need to accept more responsibility and overcome their tendency to free-ride.
If the West sticks to its old ways, it will bungle something that is exceedingly rare in international politics: a second chance. Only by seizing the moment, learning from its errors, and acting collectively can the West rebuild an international order that promotes the rule of law rather than the law of the jungle.
WHAT A WASTE
History was not supposed to play out this way. In the heady days after the Cold War, the order appeared both unchallenged and unchallengeable. Washington believed that its unquestioned primacy allowed it to determine the future of other countries as well as its own. U.S. allies believed they had escaped the tragedy of great-power politics and had entered an era of self-enforcing rules. As time went on, however, habits of collaboration eroded, and the sense of common purpose faded. Rather than using the unique moment of U.S. dominance to deepen and strengthen the rules-based order, the West let that system wither.
Washington and its allies now have a chance to correct that mistake. Russian President Vladimir Putin’s historic miscalculation to attack Ukraine has reminded them not just of their shared interests and values but also of the importance of acting collectively. The West responded to the invasion with a show of unity not seen since the height of the Cold War. The United States and its allies have levied unprecedented sanctions, begun weaning themselves off Russian energy, and shipped massive quantities of weapons to Ukraine. But this surprising unity may not last. As the economic pain of sanctions increases and the war settles into the prolonged battle of attrition that intelligence officials forecast, domestic and other concerns may start to sow divisions within the West.
Even as the West works to manage these differences, it should turn its newfound unity into a broader effort to save the rules-based order. The first step should be to create a new group, the G-12, that would bring together the United States and its leading allies in Asia, Europe, and North America. Every member of this group has a vital interest in preserving the order, and none of them can do it on their own. But formalized cooperation alone will not be enough. The United States and its allies will need to take the second step of learning from the mistakes they had made over the last three decades. Washington will need to curtail its penchant for unilateralism, to listen as well as talk, and to give as well as demand. Asian and European allies, for their part, will need to accept more responsibility and overcome their tendency to free-ride.
If the West sticks to its old ways, it will bungle something that is exceedingly rare in international politics: a second chance. Only by seizing the moment, learning from its errors, and acting collectively can the West rebuild an international order that promotes the rule of law rather than the law of the jungle.
WHAT A WASTE
Although it emerged triumphant from the Cold War, the United States quickly squandered the extraordinary opportunity to turn its unipolar moment into something more permanent. It had outlasted the Soviet Union, unified Europe, and propelled a historic expansion of the global economy. This victory, which was both strategic and ideological, paved the way for the West to broaden and deepen the rules-based order of collective security, open markets, and respect for democracy, human rights, and the rule of law. In the early 1990s, democracy was spreading, and free markets were emerging. Even old enemies, such as Russia, and possible future rivals, including China, appeared to have no choice but to embrace the free flow of capital, goods, ideas, and people—or be left behind. Cooperation and conciliation seemed set to replace competition and conflict as the defining features of world politics.
But events didn’t go as planned. The United States overplayed its hand, believing that its role as the world’s “indispensable power” allowed it to hurry history along. A series of military interventions launched in the name of stability and democracy often produced more chaos and misery than security and riches. It hardly helped that even as it trumpeted a rules-based order, Washington regularly ignored rules it disliked—as when it intervened in Kosovo in 1999 and Iraq in 2003 after failing to secure a UN mandate, and when it tortured detainees during its war on terrorism. The United States refused to join new cooperative arrangements on nuclear testing, arms control, prosecuting war crimes, and regularizing trade in the Asia-Pacific, fearing that such commitments would limit its freedom of maneuver. Washington felt justified because it had convinced itself that its own motives were pure. “We stand tall and we see further than other countries into the future,” U.S. Secretary of State Madeleine Albright proclaimed in 1998. But friends and foes alike did not see strength and integrity; they saw hubris and hypocrisy.
Washington was hardly alone in its failure to make the most of the moment created by the Soviet Union’s collapse. Its allies in Europe suffered from delusions of their own, believing that the end of the continent’s Cold War divisions meant the end of conflict. They saw themselves as postmodern states that could rely on cooperation and multilateral institutions to maintain peace. Although they recognized that terrorism and nuclear proliferation remained threats, they were content to let Washington address such problems. They also assumed that economic engagement, arms control, and dialogue would transform Russia into a partner and that China’s need for access to their markets and technology would turn it into a stakeholder in the rules-based order. With great-power competition seemingly relegated to the dustbin of history, economic interests could now drive foreign policy.
American hubris and European wishful thinking ruled the day, and leaders in Western capitals ignored signs that great-power competition was far from dead. Russia invaded Georgia in 2008, and then six years later, it annexed Crimea and fomented a separatist rebellion in Ukraine. These acts elicited mostly symbolic responses from the West. Rather than reducing its dependence on Russian oil and gas, much of Europe increased its reliance because, as the German chemical executive Martin Brudermüller put it, “cheap Russian energy has been the basis of our industry’s competitiveness.” China, for its part, conducted unprecedented acts of economic espionage, coerced its trading partners, laid claim to the South China Sea, imprisoned more than one million Uyghurs, and crushed democracy in Hong Kong—a string of outrages that earned Beijing little more than mild rebukes. Wall Street relied ever more on Chinese riches, and in 2020, the EU signed a new trade and investment deal with Beijing.
These developments gradually eroded the core features of the rules-based order. The ability of great powers to use force with impunity against smaller neighbors exposed the weaknesses of the UN Security Council and other collective security institutions. The proliferation of mercantilist trade practices highlighted the gaps in global trading rules. The economic disruptions caused by unfettered globalization fueled populist nationalism and claims by autocrats that liberal democracy was decadent and obsolete. When the COVID-19 pandemic hit, countries responded not by acting collectively against a common threat but by pursuing “every country for itself” policies. The world order, in short, was unraveling.
The invasion of Ukraine roused the West from its slumber. The speed, scale, and scope of the U.S.-led response surprised Western leaders almost as much as they surprised Putin. Economic sanctions are pummeling the Russian economy. Europe is rapidly cutting imports of Russian energy, sharply reducing Moscow’s leverage. NATO is bolstering its presence from the Baltics to the Black Sea and is preparing to welcome Finland and Sweden as new members. And Ukraine, aided by new weapons shipments and Western intelligence, has successfully resisted a much larger Russian military.
Much of the West’s diplomatic energies will rightly go into sustaining its support for Ukraine. Equally important, however, is for Western leaders to think more ambitiously about restoring the crumbling rules-based order. By reminding Western democracies of their common interests and their strength when they work together, Putin’s strategic blunder has created an opportunity to heal three decades’ worth of self-inflicted wounds.
BETTER TOGETHER
The first step will be to institutionalize the cooperation that has emerged in the wake of Russia’s invasion of Ukraine. The best way to do this is for the United States and its advanced democratic allies in Asia, Europe, and North America to create a G-12 consisting of the current G-7 members (Canada, France, Germany, Italy, Japan, the United Kingdom, and the United States) plus Australia, New Zealand, South Korea, and the EU. NATO would have a seat at the table for all security-related discussions.
Establishing a G-12 is the last best hope to reinvigorate the rules-based order. The prospective G-12 member states and institutions have the capacity, the interest, and the ability to work collectively to do so. They are home to nearly one billion people and account for more than 60 percent of global GDP and military spending. China and Russia together are more populous but constitute barely 20 percent of the world’s economic output and just 17 percent of its military spending. As their reaction to Russia’s invasion of Ukraine has shown, the potential members of the G-12 all recognize that their security and prosperity rest on finding ways to avoid returning to a world in which brute force replaces the rule of law. And they were able to react so quickly against Russia because they had a long history of working cooperatively on a wide variety of issues, whether in their bilateral relations or in multilateral forums.
What these countries have not done is work together intentionally as a group or for the specific purpose of strengthening the global order. The formation of a G-12 would remedy that failing. In contrast to a loose association such as the G-7, which has traditionally approached global issues in an ad hoc fashion, the G-12 states and institutions would commit to identifying global challenges, assessing available responses, and responding in a coordinated fashion. The arrangement would not require a formal treaty, structure, or secretariat. Instead, it would rest on a joint commitment among G-12 members to base their engagement abroad on the principle that cooperation and coordination among themselves is vital to achieving their objectives and maintaining the rules-based order. The G-12 heads of state should meet at least biannually, and their foreign, defense, economic, and other ministers should meet more frequently—much as the Council of the European Union conducts its business across a full range of issues.
Policy coordination would need to start in the foreign policy sphere. G-12 members would need to come together on foiling Russian revanchism, competing with China, halting nuclear arms proliferation, countering terrorism, fighting pandemics, and curbing climate change. The post-invasion coordination at the UN and within the G-7 and NATO needs to become the norm for the G-12 on all major issues. To facilitate common action, the G-12 countries should caucus with the UN, the World Trade Organization, the international financial institutions, and other international organizations to develop common positions and agree to concerted actions on critical issues.
Biden and Australian Prime Minister Anthony Albanese in Tokyo, May 2022
Jonathan Ernst / Reuters
In the economic sphere, the G-12 would need to coordinate on trade, investments, export controls, digital commerce, and other critical economic issues. The COVID-19 pandemic and the war in Ukraine have reinforced economic nationalism and protectionism, disrupted trade, and upended supply chains, slowing growth and spurring inflation. Growing security concerns about intellectual property and critical technologies have further limited trade, especially with U.S. rivals such as China and Russia.
The G-12 should become an engine for economic cooperation and growth, pushing against the temptation to turn inward. A crucial first step would be for the United Kingdom, the United States, and the EU to accede to the Comprehensive and Progressive Trans-Pacific Partnership trade agreement, which already includes Canada and other potential G-12 nations in Asia. The United States and Europe should also revive negotiations on a trade and investment pact, thus complementing the EU’s existing bilateral pacts with Australia, Canada, and Japan. G-12 members would also need to coordinate their policies on export controls and foreign investment to ensure they maintain their competitive edge over China. And they would need to consolidate supply chains for critical goods—such as semiconductors, robotics, artificial intelligence, and rare-earth metals—within the Western world.
In the security field, the United States would remain first among equals within the G-12. It alone has a military with true global reach. Even so, in the wake of Russia’s invasion of Ukraine, other members of the prospective G-12 have finally made good on their promises to spend more on defense. Japan is considering possibly doubling its military expenditures over the next few years, and Germany’s decision after the invasion to increase its defense budget makes it the third-largest military spender in the world. These outlays will add as much as $150 billion to what the West now spends annually on defense, making Germany and Japan far more effective security partners for the United States. The principal channels for enhancing defense capabilities among G-12 members would remain the same—defense arrangements through nato and bilateral agreements with the United States—with the addition of greater coordination within the EU. But the G-12 would provide a useful forum for driving these efforts and ensuring that transatlantic and transpacific security policies were far more aligned than is currently the case. Increased military capabilities and enhanced coordination would greatly improve the chances of deterring and, if necessary, defeating any further aggression by Russia, China, or other countries.
As important as formalized cooperation will be, the success of the G-12 will depend on the United States and its allies abandoning the bad habits they have developed since the end of the Cold War. Washington has too often acted unilaterally, believing that leading means deciding what to do and commanding others to follow. Consultations have often taken the form of informing others of decisions already made rather than developing new positions together. This type of behavior was on display in the Trump administration’s decisions to walk away from the Paris agreement on climate change and the Iran nuclear deal and the Biden administration’s decision to hastily withdraw U.S. troops from Afghanistan. Conversely, U.S. allies have frequently shirked responsibility for tough decisions, free-riding off of U.S. security pledges while allowing their own hard power to atrophy. The G-12 would need to be a partnership of equals—in ways its members have long professed to want—with Asian and European members assuming more of the burden of acting and the United States sharing more of the decision-making. To be sure, as is the case in NATO and in the EU, forging agreement can take time, especially when interests clash. But just as in these other institutions, the source of the G-12’s strength will lie in its ability to act collectively—as Russia has now discovered at its own peril.
REALITY CHECK
The G-12 offers the best chance to mobilize the resources of the world’s most powerful and advanced democracies to defend the rules-based order. It is fair to ask, however, whether creating a G-12 would widen the divide between democracies and autocracies, inflame current tensions, and make it harder to forge the solutions needed to address the broad array of global challenges that the world, not just the West, faces. The G-12 will no doubt be seen as a means of explicitly countering Chinese and Russian power. Beijing and Moscow won’t respond by shrugging their shoulders. They will redouble their efforts to undermine the rules-based order and work hard to bring other countries into their orbit.
Concern about deepening divisions glosses over a critical point: Western democracies are already locked in a struggle with authoritarian governments over whose values will guide the world order. Neither China nor Russia is looking to improve existing international arrangements. Both are revisionist powers contesting the norms and institutions of the postwar order. They wish to return to an era of great-power politics in which they would be free to dominate their neighbors. Western democracies have been reluctant to recognize the challenges both countries pose, hoping that engagement would persuade Beijing and Moscow to work with rather than against them. Russia’s invasion of Ukraine, with China’s all-but-formal endorsement, has made clear that the Chinese-Russian partnership is headed toward confrontation over everything the West—and the rules-based order—stands for.
The formation of a G-12 would not prevent the West from ever working with China or Russia. Efforts to curb climate change and prevent pandemics would certainly benefit from more cooperation among all the major powers. But Chinese and Russian cooperation on these issues hasn’t been forthcoming, even as the West downplayed China’s economic intimidation and ignored Russian aggression. Beijing and Moscow have shown that they will make concessions only out of self-interest, not out of goodwill. By mobilizing the resources of the world’s strongest democracies, a G-12 would enable the West to conduct its diplomacy with both countries from a position of strength.
The G-12’s approach to China, Russia, and other autocracies should be similar to what U.S. Secretary of State Antony Blinken has described as the Biden administration’s approach to China: “competitive when it should be, collaborative when it can be, and adversarial when it must be.” To that end, the G-12 would need to make clear what it is for, not just what it is against. Its purpose would not be to hold down China or Russia or transform them or other countries into Western democracies. Its purpose would be to defend the core principles of the postwar order: respect for the sovereignty of large and small countries alike, adherence to the rule of law, support for democracy and human rights, and a commitment to the peaceful settlement of disputes.
DEMOCRATIC DIVISION
Western democracies may share a commitment to liberal values, but they will always have their own interests. This fact has been reflected in the West’s response to the invasion of Ukraine, with the varying levels of enthusiasm among U.S. allies for cutting off Russian energy exports and supplying heavy weapons to Ukraine. The difficulty of forging common policies will only grow as the subject shifts from existential threats to more mundane choices over trade or technology policy.
Just as important, democracies outside the West have not united against Russia’s aggression. Brazil, India, South Africa, and other democracies in the Americas, Asia, and Africa have refused to condemn the violation of Ukraine’s sovereignty, declined to back sanctions against Russia, and, in a few cases, sought to exploit the war to their benefit. This resurfacing of Cold War–style nonalignment reflects a complex mix of self-interest, historical sympathies and resentments, and preoccupations with more immediate problems closer to home. None of this should be surprising. Democracies aren’t immune to being shortsighted, nursing grudges, or playing two sides against each other for their own benefit.
Even though democratic cooperation cannot be assumed, it can be forged. For all their failures and missteps, Western democracies have an established record of building successful collaborative arrangements and have generally fared far better than autocracies because their interactions go beyond the transactional. Their shared commitment to the rule of law makes it possible for them to trust one another, which is why the United States has formal security commitments with more than 50 allies. Russia has only five, and China has just one—North Korea.
To build on this success, the G-12 would ideally focus on building solidarity with democracies in the “global South” that stand to be the biggest losers if China and Russia remake the world order in their own image. Neither Beijing nor Moscow sees smaller powers as sovereign equals; rather, they see such countries as ripe for exploitation and manipulation. Recognition of that fact is why Kenya, Singapore, and other non-Western democracies have joined the West in condemning Russian aggression.
Western democracies offer other democracies much more. To begin with, the joint economic output of the G-12 countries is triple that of China’s and Russia’s combined. And if the West worked more closely with non-Western democracies, it would likely find more willing partners for all its diplomatic endeavors.
But the G-12 would need to live by the rules it wishes others to follow, in ways that the United States and its allies have not always done themselves. Critics rightly point to plentiful instances of Western hypocrisy, with the U.S. invasion of Iraq chief among them. “Do as we say, not as we do” is a poor foundation for building cooperation. Just as important, the G-12 would need to view its interests broadly and recognize that trying to compel other democracies to follow its lead would be a losing strategy. Far better to demonstrate the real benefits, economic and otherwise, of active cooperation with the G-12 than to pressure other democracies to blindly follow along.
As the West works to overcome divisions among democracies, it will also need to overcome political divisions at home. Populist nationalism is a driving political force in the United States and elsewhere, fostering foreign policies that are skeptical of the intentions of others and encouraging unilateral action rather than compromise and cooperation. The good news is that for now, Russia’s assault on Ukraine has shaken Western publics out of their complacency. Germans have overwhelmingly embraced Chancellor Olaf Scholz’s interpretation of the war as a Zeitenwende—a “historic pivot”—through which Germany will take military security more seriously. Large majorities of Finns and Swedes now support NATO membership. Americans have supported the steps the Biden administration has taken to aid Ukraine; in a Pew Research Center poll conducted in March, five times as many respondents agreed that the United States should provide more aid to Kyiv as agreed that it was providing too much. Congress has followed suit and rallied behind Ukraine.
But worrying signs exist. Hungarian Prime Minister Viktor Orban’s resounding victory in his country’s March parliamentary elections and the politician Marine Le Pen’s strong performance in the French presidential race show that a fondness for Putin is not automatically disqualifying in European politics. More troubling is the possibility that former U.S. President Donald Trump—who said Putin was “a genius” and called him “savvy” and “smart” after Russia launched its invasion—or someone else who shares Trump’s fondness for autocrats could become U.S. president in January 2025. No G-12 could succeed without the active participation of the United States. When Trump was president, he did much to upend the very rules-based order the G-12 would seek to uphold.
And yet Orban’s effort to forge a coalition of EU discontents with the Czech Republic, Poland, and Slovakia collapsed with the shelling of Kyiv. The response by NATO member countries to the Russian invasion has answered Trump’s complaint that other alliance members are not doing enough for defense. And a 2021 Chicago Council survey of Americans found that respondents preferred, by a ratio of three to one, for Washington to share leadership with others rather than dominate them.
ANOTHER CHANCE
The fear that Trump, or at least his “America first” tendencies, could derail a G-12 does give reason for it to proceed with caution, however. For one thing, the G-12 cannot be a return to Pax Americana. The group’s goal would be to share responsibilities and burdens among the most advanced Western democracies, not let Washington dictate its terms. For another thing, the G-12 would need to deepen economic cooperation just as much as it promotes coordination on security matters. The rise of populist nationalism reflects the consequences of unbridled globalization, which favored big business over workers and capital over labor, leaving far too many people behind. The success of the G-12 would ultimately rest on its ability to improve conditions in the home countries of its member states as well as abroad. This would mean reversing the race to the bottom on corporate taxes, avoiding trade deals that ship jobs overseas, and tackling growing income inequality.
The silver lining in the horror of the aggression against Ukraine is that it gives the United States and its Western allies a chance to do what they failed to accomplish after the end of the Cold War: reinvigorate international institutions and deepen cooperation on transnational threats. But this moment will not last forever. The West needs to resist the temptation to regard the aggression against Ukraine as an aberration rather than a trend. To that end, the United States should join with the 11 other prospective members of the G-12 to revitalize the rules-based order. Western democracies cannot afford to squander this second chance to get things right.
IVO H. DAALDER is President of the Chicago Council on Global Affairs and served as U.S. Ambassador to NATO from 2009 to 2013.
JAMES M. LINDSAY is Senior Vice President and Director of Studies at the Council on Foreign Relations.
They are the authors of The Empty Throne: America’s Abdication of Global Leadership.

Nhận xét
Đăng nhận xét