Jorge G. Castañeda
Sự chia rẽ trong khu vực đã góp phần châm ngòi cho sự can thiệp của Hoa Kỳ

Một cuộc mít tinh ủng hộ Tổng thống Venezuela bị lật đổ Nicolás Maduro tại Caracas, tháng 2 năm 2026 – Leonardo Fernandez Viloria / Reuters
Trong mười tuần qua, các nhà phân tích đã tranh luận về việc liệu Hoa Kỳ có chính đáng hay không khi tiến hành đưa Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro ra khỏi Caracas. Những người bênh vực Washington chỉ ra rằng Maduro là một kẻ độc tài, với những chính sách tồi tệ đã đẩy người dân Venezuela vào cảnh khốn cùng và khiến hàng triệu người phải bỏ chạy sang các quốc gia láng giềng. Ngược lại, những người chỉ trích lại lưu ý rằng Hoa Kỳ đã xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Venezuela, đi ngược lại luật pháp quốc tế. Cả hai bên đều đưa ra những lập luận sắc bén: Đúng là sự lãnh đạo của Maduro thiếu tính chính danh, nhưng sự can thiệp của Washington cũng vậy.
Suy cho cùng, việc Maduro ra đi là điều tốt cho Venezuela. Tuy nhiên, nhiệm kỳ của ông lẽ ra không nên kết thúc theo cách này—và thực tế là nó đã không nhất thiết phải như vậy. Khi Maduro ngang nhiên đánh cắp kết quả cuộc bầu cử năm 2024 của đất nước, Tổng thống Brazil Luiz Inácio Lula da Silva, Tổng thống Colombia Gustavo Petro, Tổng thống Mexico Andrés Manuel López Obrador và Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã có cơ hội để buộc ông phải rời khỏi quyền lực. Thế nhưng, họ đã không làm vậy. Thay vào đó, Lula, Petro, López Obrador và Biden đã không sẵn lòng gây sức ép lên Maduro—hoặc là do sự tuân thủ sai lầm đối với nguyên tắc không can thiệp, hoặc đơn giản chỉ vì sự thờ ơ hay sự tương đồng về hệ tư tưởng. Tất cả họ đều lên án Maduro với những mức độ mạnh mẽ khác nhau, nhưng lại từ chối thực hiện bất kỳ hành động cụ thể nào. Kết quả là Maduro càng củng cố vững chắc hơn quyền lực của mình. Đến thời điểm Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump quay lại nắm quyền vào năm 2025, hành động quân sự của Mỹ dường như là con đường rõ ràng duy nhất để loại bỏ kẻ độc tài của Venezuela.
Thất bại này đồng nghĩa với việc khu vực Mỹ Latinh hiện đang mắc kẹt trong một mớ hỗn độn do chính mình tạo ra. Khu vực này sẽ tốt đẹp hơn khi không còn Maduro, nhưng tương lai của Venezuela vẫn đầy bất định, và tất cả những hậu quả tai hại từ triều đại của ông vẫn còn đó: làn sóng di cư ồ ạt của người dân Venezuela, các cuộc xung đột biên giới, và hệ quả liên đới là sự trỗi dậy của các nhóm du kích tại quốc gia láng giềng Colombia. Chính phủ Cuba—vốn phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ từ Venezuela—hiện đang đứng bên bờ vực sụp đổ. Và ông Trump—được đà lấn tới nhờ thành công trong việc xử lý Maduro—đang đe dọa các nhà lãnh đạo khác trong khu vực, đồng thời ráo riết rà soát khắp bán cầu để nhổ tận gốc ảnh hưởng của Trung Quốc. Colombia và Cuba có thể là hai quốc gia dễ bị tổn thương nhất, nhưng hầu như không có quốc gia Mỹ Latinh nào thực sự an toàn trước sức ép từ Hoa Kỳ. Ông Trump đã nhiều lần đe dọa Mexico. Ba quan chức cấp cao của Chile đã bị thu hồi thị thực Hoa Kỳ vì hợp tác quá chặt chẽ với các công ty Trung Quốc. Và Peru có thể sẽ gặp rắc rối lớn vì ký kết các thỏa thuận với những doanh nghiệp do Bắc Kinh kiểm soát.
Các quốc gia Mỹ Latinh không đủ mạnh để tự mình đối phó với sức ép từ Hoa Kỳ cũng như những hệ lụy từ tình hình Venezuela; khu vực này sẽ buộc phải vượt qua những chia rẽ nội bộ và hành động cùng nhau. Vào những năm 1990, hầu hết các quốc gia lớn tại Mỹ Latinh đều ủng hộ thương mại tự do, chế độ dân chủ và nền kinh tế thị trường. Họ đã cùng nhau hành động để chống lại các hành vi gian lận bầu cử, đồng thời góp phần hình thành Hiến chương Dân chủ Liên Mỹ. Tuy nhiên, sau đó, người tiền nhiệm của ông Maduro—Hugo Chávez—đã củng cố quyền lực tại Venezuela và bắt đầu công kích những chính phủ mà ông cho là chưa đủ "cánh tả". Chẳng bao lâu sau, những màn phô trương thanh thế của ông đã khiến các quốc gia trong khu vực phải tự định vị mình theo phe cánh tả hoặc cánh hữu, và sự phân cực đó cho đến nay vẫn chưa hề thuyên giảm. Trên thực tế, nhiều nhà lãnh đạo bảo thủ trong khu vực—chẳng hạn như Tổng thống Argentina Javier Milei và Tổng thống El Salvador Nayib Bukele—đang càng làm trầm trọng thêm tình trạng này. Để khu vực có thể cất lên một tiếng nói chung, các chính phủ không nhất thiết phải đồng thuận về mọi vấn đề, hay thậm chí là phần lớn các vấn đề. Tuy nhiên, họ cần phải tìm được tiếng nói chung trong các vấn đề liên quan đến chính sách đối ngoại. Nếu không, các chính phủ Mỹ Latinh sẽ chỉ biết đứng nhìn Washington mặc sức làm những gì họ muốn đối với các nước láng giềng—và cả đối với chính họ. Sự thiếu vắng vai trò của các chính phủ trong khu vực trên trường quốc tế sẽ càng được khẳng định rõ nét qua chính sự mờ nhạt, thiếu trọng lượng của họ ngay trên sân nhà.
Một thảm họa đang chực chờ bùng nổ
Xét trên nhiều phương diện, tiến trình nhằm loại bỏ ông Maduro đã bắt đầu từ ngày 28 tháng 7 năm 2024—ngày diễn ra cuộc bầu cử tổng thống gần đây nhất tại Venezuela. Đó chính là cơ hội tốt nhất để phe đối lập tại Venezuela có thể đưa ông rời khỏi chiếc ghế quyền lực. Suy cho cùng, ông Maduro đã trở nên vô cùng mất lòng dân trong suốt một thập kỷ cầm quyền của mình—hệ quả chủ yếu từ cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính lịch sử đã nhấn chìm đất nước này. Ứng cử viên phe đối lập kiêm cựu nhà ngoại giao Edmundo González—người ra tranh cử thay cho thủ lĩnh phe đối lập Maria Corina Machado (vốn đã bị tước quyền tranh cử)—được đông đảo công chúng kính trọng. Cả ông González lẫn bà Machado đều hiểu rõ rằng ông Maduro chắc chắn sẽ tìm cách gian lận phiếu bầu. Tuy nhiên, những người ủng hộ họ đã theo dõi và kiểm phiếu trên toàn quốc một cách chặt chẽ, nhờ đó họ có thể công bố kết quả. Khi thực hiện việc này, họ phát hiện ra rằng González đã giành chiến thắng với gần 70% số phiếu bầu.
Tuy nhiên, giới chức bầu cử Venezuela vẫn tuyên bố Maduro là người chiến thắng. Trước diễn biến này, người dân từ khắp nơi trên đất nước đã xuống đường biểu tình. Các nhà lãnh đạo trong khu vực yêu cầu Maduro công bố các bảng tổng hợp phiếu bầu để chứng minh chiến thắng của mình. Thế nhưng, hai quốc gia láng giềng của Venezuela—Brazil và Colombia—rốt cuộc lại không áp đặt lệnh trừng phạt hay gây bất kỳ sức ép thực sự nào khác buộc ông phải chứng minh tính hợp lệ của chiến thắng; và dĩ nhiên, ông đã từ chối làm điều đó. Ông López Obrador—khi ấy là Tổng thống Mexico được lòng dân—cũng tỏ ra vô dụng tương tự. Còn Cuba thì chưa bao giờ tìm cách thuyết phục Maduro—người vốn chịu sự bảo trợ của họ—rằng việc từ chức là một quyết định sáng suốt.
Các quốc gia Mỹ Latinh không phải là những bên duy nhất thất bại. Hoa Kỳ đã bất hòa với chính phủ Venezuela trong nhiều năm, liên tục áp đặt trừng phạt lên các quan chức cũng như nền kinh tế nước này, đồng thời lên án giới lãnh đạo của họ. Ngay sau cuộc bầu cử, chính quyền Biden lẽ ra đã có thể gia tăng sức ép—chẳng hạn như đe dọa phong tỏa hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Venezuela. Tuy nhiên, Washington đã nhanh chóng tuyên bố rõ ràng rằng họ sẽ không cân nhắc những biện pháp như vậy, qua đó tự đánh mất lợi thế đàm phán của mình một cách vội vã. Ông Biden—cùng với các ông Lula, Petro và López Obrador—cũng từ chối huy động Tổ chức các Quốc gia châu Mỹ (OAS) thông qua một nghị quyết đe dọa trừng phạt và cô lập chế độ Maduro dựa trên cơ sở Hiến chương Dân chủ Liên Mỹ. Một nghị quyết như vậy lẽ ra cũng đã có thể gia tăng thêm sức ép. Ít nhất thì nó cũng sẽ tạo ra cơ sở pháp lý để sử dụng vũ lực—dẫu cho cơ sở đó có thể chưa hoàn toàn thuyết phục.
Các quốc gia này thực sự đã nỗ lực thuyết phục Maduro tổ chức lại cuộc bầu cử. Và trong những tuần lễ ngay sau cuộc bỏ phiếu, dường như họ đã thành công. Ngoại trưởng của một quốc gia lớn tại Mỹ Latinh đã tiết lộ với tôi rằng cả Maduro lẫn bà Machado đều đã đồng ý tổ chức một cuộc bầu cử mới, dưới sự giám sát của quốc tế và được điều hành bởi một cơ quan bầu cử hoàn toàn vô tư, khách quan. Chính quyền Biden cũng đã bày tỏ sự ủng hộ đối với kế hoạch này. Tuy nhiên, đặc phái viên của ông Lula tại Caracas—ông Celso Amorim—đã công khai thỏa thuận này, khiến nó bị đổ vỡ. Cảm thấy thất vọng, ông López Obrador sau đó đã rút khỏi nỗ lực làm trung gian hòa giải, và toàn bộ tiến trình này đã sụp đổ hoàn toàn. Kết quả là, khi đội ngũ của ông Trump nhậm chức, họ cảm thấy mình được toàn quyền hành động để xử lý vấn đề Maduro theo cách mà họ thấy phù hợp nhất. Khoảng một năm sau đó, những chiếc trực thăng của Hoa Kỳ đã bắt đầu hướng về Caracas.
Sự gần gũi và quyền lực
Việc lật đổ Maduro mang lại nhiều hệ quả sâu rộng đối với khu vực Mỹ Latinh. Trước hết và quan trọng nhất, sự kiện này đánh dấu sự ra đời của chính sách đối ngoại "Nước Mỹ trên hết" (America First) dưới thời Tổng thống Trump. Chính quyền của Tổng thống hiện nắm quyền định đoạt vận mệnh của Venezuela; nếu quốc gia này sụp đổ, Nhà Trắng sẽ phải gánh vác trách nhiệm hàn gắn và tái thiết đất nước đó. Do đó, Washington sẽ dành sự tập trung cho khu vực Mỹ Latinh nhiều hơn so với trước đây. Chính quyền Trump—hay thậm chí là các chính quyền kế nhiệm sau này—cũng có thể sẽ sẵn sàng hơn trong việc lựa chọn can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác trong khu vực. Suy cho cùng, một trong những lý do chính khiến ông Trump muốn tái khẳng định vị thế bá chủ của Washington tại Mỹ Latinh là nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc—một mục tiêu nhận được sự đồng thuận của cả hai đảng chính trị tại Mỹ.
Nỗ lực của Washington nhằm thúc đẩy quyền bá chủ của Hoa Kỳ tại khu vực bán cầu này có lẽ sẽ gặt hái thành công tại Mexico, vùng Caribe và Trung Mỹ. Ngoại trừ Cuba sau năm 1959, các quốc gia này đã nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Hoa Kỳ kể từ thế kỷ 19, và họ phụ thuộc một cách sâu sắc vào người láng giềng phương Bắc này trên các phương diện thương mại, đầu tư nước ngoài, du lịch và quốc phòng. Chính vì lẽ đó, ông Trump không cần phải thực hiện quá nhiều biện pháp để hạn chế tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại các khu vực này. Trên thực tế, vào cuối năm 2025—trước khi các quan chức bắt đầu tiến trình đàm phán lại thỏa thuận thương mại giữa Hoa Kỳ, Mexico và Canada—Mexico đã áp mức thuế suất 50% đối với toàn bộ hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Tổng thống Mexico, bà Claudia Sheinbaum, hiểu rằng việc chủ động đưa ra các nhượng bộ là một bước đi hợp lý, nhất là khi sự thịnh vượng và an sinh của đất nước bà phụ thuộc một cách đặc biệt vào Hoa Kỳ. Chẳng hạn, 70% nguồn điện năng của Mexico được sản xuất từ khí tự nhiên—và 60% lượng khí đốt đó lại được nhập khẩu từ bang Texas của Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, tại khu vực Nam Mỹ, những nỗ lực của Washington nhằm khẳng định vị thế thống trị của mình sẽ vấp phải nhiều thách thức hơn. Trung Quốc hiện đã vươn lên trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Argentina, Bolivia, Brazil, Chile, Paraguay, Peru, Uruguay và Venezuela—tức là hầu hết các quốc gia trên lục địa này—chủ yếu thông qua việc thu mua các mặt hàng nguyên liệu thô và nông sản. Các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc hiện nắm giữ những khoản đầu tư khổng lồ tại tất cả các quốc gia kể trên; đặc biệt, Bắc Kinh còn là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Argentina, Brazil, Chile và Peru. Thậm chí, cả chính quyền của Tổng thống Biden lẫn Tổng thống Trump đều từng đưa ra cáo buộc rằng trạm vệ tinh do Trung Quốc vận hành tại vùng Patagonia (Argentina), cảng Chancay do Trung Quốc kiểm soát tại Peru, cùng đài thiên văn hiện đại do Trung Quốc xây dựng giữa sa mạc tại Chile đều ẩn chứa những mục đích quân sự. Chính những mối quan hệ ràng buộc như vậy đã khiến cho việc Hoa Kỳ sử dụng áp lực để gây sức ép lên các chính phủ tại Nam Mỹ trở nên khó khăn hơn nhiều. Các chính sách của Washington đang làm sâu sắc thêm những chia rẽ tại Mỹ Latinh.
Tuy nhiên, chính sự hiện diện của Trung Quốc tại khu vực này lại là lý do khiến ông Trump có thể nhắm mục tiêu vào đây. Suy cho cùng, nếu Bắc Kinh vẫn duy trì vị thế là một nhân tố chủ chốt tại Nam Mỹ, thì tầm nhìn về "sự thống trị của Mỹ"—theo cách gọi của ông—sẽ chẳng khác nào những lời lẽ suông. Tổng thống đã khởi động chiến dịch chống Trung Quốc của mình ngay tại Venezuela. Chẳng hạn, để đổi lấy việc Washington dỡ bỏ lệnh phong tỏa và nới lỏng các biện pháp trừng phạt, ông Trump đã buộc chính quyền Caracas phải ngừng bán dầu cho các doanh nghiệp Trung Quốc. Tiếp theo đó, ông có thể sẽ chuyển hướng sang Colombia—quốc gia lớn khác nằm trong cả lưu vực Caribe lẫn khu vực Nam Mỹ. Nền kinh tế Colombia hiện vẫn gắn bó mật thiết với Washington hơn là với Bắc Kinh, đồng thời đây cũng là đối tác an ninh và quân sự lâu đời của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, ông Petro lại nỗ lực xích lại gần hơn với Trung Quốc, và ông đã biến việc đối đầu với ông Trump thành một nét đặc trưng chủ chốt trong hình ảnh chính trị của mình. Ngược lại, ông Trump từng ngụ ý rằng ông có thể sẽ tấn công Colombia, với cáo buộc rằng ông Petro đang dính líu đến hoạt động buôn bán ma túy. Mặc dù mối quan hệ giữa hai nhà lãnh đạo này gần đây đã có phần cải thiện, song ông Petro sẽ rời nhiệm sở vào tháng 8 tới, và hiện vẫn chưa rõ ai sẽ là người kế nhiệm ông. Trong khoảng thời gian chuyển giao này, thay vì trực tiếp tấn công Colombia, ông Trump rất có thể sẽ tìm cách tác động đến kết quả cuộc bầu cử (như ông từng làm tại Argentina và Honduras vào năm 2025) nhằm đảm bảo rằng một ứng cử viên có tư tưởng chống Trung Quốc và thân Mỹ sẽ đắc cử tổng thống.
Ông Trump cũng có thể sẽ nhắm vào những quốc gia có mối quan hệ sâu sắc hơn nhiều với Trung Quốc, mà tiêu biểu là Peru. Quốc gia này đã trải qua những biến động chính trị dữ dội, với việc thay đổi tới bảy đời tổng thống chỉ trong vòng mười năm. Nhà lãnh đạo gần đây nhất của họ—ông José Jerí—vừa bị bãi nhiệm do đã tổ chức một cuộc gặp bí mật với các quan chức doanh nghiệp Trung Quốc. Một doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc hiện đang nắm giữ 60% cổ phần tại cảng Chancay; các nhà chức trách Hoa Kỳ khẳng định rằng hệ thống cơ sở vật chất trị giá hàng tỷ đô la tại cảng này không chỉ được thiết kế để xuất khẩu đồng của Peru, mà còn nhằm phục vụ như một căn cứ cho hải quân Trung Quốc. Do đó, ông Trump có thể sẽ tìm cách gây sức ép buộc chính quyền Lima phải trục xuất doanh nghiệp của Bắc Kinh ra khỏi đất nước. Suy cho cùng, Washington từng thành công trong việc buộc Panama giành lại quyền kiểm soát đối với các cảng biển dọc bờ biển nước này—vốn trước đó thuộc sở hữu của Trung Quốc. Trong trường hợp này, cũng giống như với Colombia, ông Trump có thể sẽ can thiệp vào các cuộc bầu cử sắp tới tại quốc gia này, đặt điều kiện cho mối quan hệ tốt đẹp với Washington là người dân Peru phải bầu ra một nhà lãnh đạo có tư tưởng chống Trung Quốc và thân Mỹ.
Ông Trump cũng có thể sẽ đòi hỏi sự đáp lễ từ những ứng cử viên mà ông từng giúp đỡ, chẳng hạn như ông Milei. Ví dụ, Tổng thống Mỹ hoàn toàn có thể thuyết phục Tổng thống Argentina đóng cửa hoặc giám sát chặt chẽ hơn trạm vệ tinh thuộc sở hữu của Trung Quốc. Tuy nhiên, ông Trump sẽ vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ hơn nhiều nếu ông cố gắng thuyết phục ông Milei ngừng xuất khẩu đậu tương sang Trung Quốc. Đây là cây trồng thương phẩm và nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất của Argentina, và họ cũng chẳng còn thị trường nào khác để tiêu thụ sản phẩm này. Ông Trump cũng sẽ ít có cơ hội thành công hơn nhiều khi gây sức ép lên Brazil—nền kinh tế lớn nhất khu vực Mỹ Latinh. Brazil vẫn duy trì mối quan hệ bền chặt với Trung Quốc ngay cả dưới thời Tổng thống Jair Bolsonaro—một người thân Mỹ và thân ông Trump—người đã nắm quyền từ năm 2018 đến 2022. Không giống như phần còn lại của lục địa này, Brazil thực sự có đủ tiềm lực để tự mình xoay xở mà không cần dựa dẫm vào ai.
Một ngôi nhà chia rẽ
Hiện nay, các chính sách của Washington đang làm trầm trọng thêm những chia rẽ trong nội bộ khu vực Mỹ Latinh, cả giữa phe cánh hữu và cánh tả, cũng như giữa các quốc gia phía Bắc và phía Nam. Argentina, Bolivia, Ecuador và El Salvador—những quốc gia đang được cai trị bởi các chính trị gia dân túy cánh hữu—đều hoan nghênh việc ông Maduro bị buộc phải rời bỏ quyền lực, trong khi Brazil, Chile, Colombia và Mexico lại lên án hành động này. Tuy nhiên, những lời tán dương từ phía El Salvador lại vang dội hơn so với Ecuador, còn những lời chỉ trích tại Mexico lại có phần ôn hòa hơn so với Brazil. Có vẻ như các quốc gia Trung Mỹ hiểu rõ rằng họ sẽ có nhiều thứ để đạt được, nhưng cũng đồng thời có nhiều thứ để đánh mất trong mối quan hệ với các quan chức Mỹ.
Khu vực này không phải lúc nào cũng rơi vào tình trạng chia rẽ như vậy. Chẳng hạn, khi Hoa Kỳ xâm lược Panama vào năm 1989, Tổ chức các Quốc gia châu Mỹ (OAS) đã đồng lòng sát cánh để phản đối, lên án cuộc tấn công này với tỷ lệ phiếu bầu áp đảo là 20 phiếu thuận trên 1 phiếu chống. Thế nhưng ngày nay, khu vực Mỹ Latinh đang đứng trước nguy cơ bị tê liệt bởi chính những rạn nứt nội bộ, khiến khu vực này không thể giải quyết vô vàn thách thức mà họ đang phải đối mặt. Hãy nhìn vào trường hợp của Venezuela. Ông Maduro có thể đã ra đi, nhưng chế độ của ông ta vẫn đang nắm quyền. Chính phủ nước này vẫn cần phải trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị; chấm dứt mọi hành động đàn áp; khôi phục các quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận, tự do đi lại và tự do lập hội; cho phép các lãnh đạo phe đối lập đang sống lưu vong được trở về nước; và tổ chức các cuộc bầu cử mới. Tuy nhiên, dường như ông Trump không mấy mặn mà với việc buộc Caracas phải thực hiện bất kỳ bước đi nào trong số này. Thay vào đó, ông lại tập trung vào việc thâu tóm nguồn dầu mỏ của quốc gia này. Do đó, trọng trách dân chủ hóa Venezuela được chuyển giao cho khu vực Mỹ Latinh. Khu vực này cần bắt đầu bằng việc tái khẳng định một số nguyên tắc mà họ từng nhất quán đề cao trong thập niên 1990—cụ thể là sự ủng hộ tập thể đối với nền dân chủ và nhân quyền. Điều đó đồng nghĩa với việc họ cần kiên quyết yêu cầu tổ chức một cuộc bầu cử tổng thống mới tại Venezuela chậm nhất là vào đầu năm 2027, đồng thời khôi phục ngay lập tức mọi quyền con người và quyền chính trị cho người dân Venezuela. Hơn nữa, họ cần gây sức ép buộc Washington chấm dứt cái gọi là "chế độ bảo hộ" trên thực tế mà nước này đã thiết lập đối với chính quyền của quyền Tổng thống Venezuela Delcy Rodríguez—một cơ chế đã đặt nguồn dầu mỏ cùng các tài nguyên khác của quốc gia này dưới sự kiểm soát và quản lý của Hoa Kỳ.
Mỹ Latinh cũng sẽ cần sự đoàn kết để giải quyết vấn đề Cuba – quốc gia khác trong khu vực đang hiển hiện nguy cơ rơi vào hỗn loạn rõ rệt nhất. Hòn đảo này hiện đang ở trong tình trạng kinh tế và xã hội tồi tệ hơn bất kỳ thời điểm nào kể từ cuộc cách mạng năm 1959, với tình trạng thiếu hụt lương thực, xăng dầu, điện, nước, thuốc men và dịch vụ thu gom rác thải; và tình hình này nhiều khả năng sẽ còn tồi tệ hơn nữa. Cả ông Trump lẫn Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio dường như đều đang nhắm vào chính quyền độc tài này; họ đang thắt chặt các hạn chế về đi lại và chuyển tiền về nước, thiết lập một lệnh phong tỏa thực tế đối với nguồn dầu mỏ, đồng thời tìm cách thuyết phục Liên minh Châu Âu cũng cắt đứt quan hệ với quốc gia này. Giờ đây, không thể loại trừ khả năng Washington sẽ tấn công trực diện hòn đảo này, mặc dù nguy cơ thương vong cho phía Hoa Kỳ sẽ cao hơn nhiều so với trường hợp tại Caracas.
Để ngăn chặn thảm họa, các quốc gia láng giềng ở phía tây và phía nam Cuba cần gây sức ép buộc Havana thực hiện một quá trình chuyển đổi dân chủ diễn ra một cách hòa bình, dần dần và công bằng, với sự hỗ trợ từ Washington. Điều này sẽ không dễ dàng: hầu hết các chính phủ thuộc cánh tả ôn hòa tại Mỹ Latinh ít nhiều đều có thiện cảm với giới lãnh đạo Cuba; họ có thể sẽ chỉ nhấn mạnh vào các cải cách kinh tế mà không đòi hỏi thay đổi chế độ – một cách tiếp cận tương tự như của cựu Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, và là một kết quả mà về nguyên tắc, chính quyền Trump không thể chấp nhận. Ngược lại, các nhà lãnh đạo thuộc cánh hữu ôn hòa có thể sẽ kiên quyết đòi hỏi một cuộc chuyển đổi chính trị diễn ra ngay lập tức, toàn diện và triệt để. Rõ ràng Cuba sẽ không chấp nhận điều này, và Brazil, Colombia hay Mexico cũng vậy. Nếu các quốc gia này có thể gạt bỏ những bất đồng sang một bên, họ có thể cùng xây dựng một đề xuất nhằm thực hiện việc thay đổi chế độ tại Cuba, đổi lại là quyền miễn trừ cho giới lãnh đạo hiện tại; việc bảo tồn một số di sản của cuộc cách mạng cộng sản năm 1959 – chẳng hạn như hệ thống y tế và giáo dục miễn phí cho toàn dân; cùng một chương trình tái thiết quốc tế quy mô lớn với nguồn tài chính chủ yếu đến từ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nếu không thể làm được điều đó, hòn đảo này sẽ tiếp tục bị Washington siết chặt, trong khi Mỹ Latinh lại một lần nữa chỉ biết đứng ngoài quan sát.
Ngày nay, sự hợp tác như vậy có vẻ nằm ngoài tầm với, xét đến mức độ chia rẽ sâu sắc về cả mặt ý thức hệ lẫn địa lý trong khu vực này. Tuy nhiên, các quốc gia trong khu vực buộc phải nỗ lực. Nếu không làm vậy, họ sẽ đánh mất quyền định đoạt tương lai của chính khu vực láng giềng mình đang sinh sống – không chỉ trong vấn đề này, mà còn ở nhiều chủ đề khác, thậm chí có tầm quan trọng lớn hơn. Chẳng hạn, trong cuộc cạnh tranh gay gắt giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, các quốc gia Mỹ Latinh sẽ không thể thiết lập những mối liên kết và quan hệ thực sự phù hợp với lợi ích của chính mình. Thay vào đó, họ sẽ buộc phải đàm phán riêng lẻ với Washington để xác định mức độ hiện diện nào của Trung Quốc tại đất nước họ là có thể chấp nhận được. Quan trọng hơn cả, khu vực này sẽ ngày càng đánh mất vị thế và sự ảnh hưởng trên trường quốc tế—bất chấp việc sở hữu nguồn tài nguyên dồi dào cùng nguồn nhân tài xuất sắc. Đó là một hệ quả mà mọi quốc gia trong bán cầu này—bất kể khuynh hướng chính trị ra sao—đều cần phải tìm cách tránh né.
JORGE G. CASTAÑEDA hiện giảng dạy tại Sciences Po (Paris) và là tác giả cuốn sách *America Through Foreign Eyes*. Ông từng đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao Mexico trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2003.
https://www.foreignaffairs.com/venezuela/how-latin-america-failed-venezuela
***
How Latin America Failed Venezuela
The Region’s Divisions Helped Precipitate U.S. Intervention
A rally in support of the ousted Venezuelan President Nicolás Maduro, Caracas, February 2026-Leonardo Fernandez Viloria / Reuters
Over the last ten weeks, analysts have debated whether the United States was justified in extracting Venezuelan President Nicolás Maduro from Caracas. Washington’s defenders point out that Maduro was an authoritarian whose terrible policies immiserated Venezuelans and sent millions fleeing into neighboring countries. Its critics, meanwhile, note that the United States violated Venezuela’s territorial integrity, running afoul of international law. Both sides make strong points: Maduro’s leadership was illegitimate, yes, but so was Washington’s intervention.
Ultimately, it is good for Venezuela that Maduro is gone. But his tenure should not have ended like this—and it didn’t have to. When Maduro brazenly stole his country’s 2024 elections, Brazilian President Luiz Inácio Lula da Silva, Colombian President Gustavo Petro, Mexican President Andrés Manuel López Obrador, and U.S. President Joe Biden had a chance to push him out of office. Yet they didn’t. Instead, Lula, Petro, López Obrador, and Biden were unwilling to pressure Maduro either because of a misguided commitment to principles of nonintervention or simply because of apathy or ideological alignment. They all condemned Maduro with varying degrees of vigor, but they refused to take tangible action. As a result, Maduro fortified his hold on power. By the time U.S. President Donald Trump returned to office in 2025, American military action appeared to be the only clear way to remove Venezuela’s dictator.
This failure means that Latin America is now stuck in a mess of its own making. The region is better off without Maduro, but Venezuela’s future remains uncertain, and all the pernicious consequences of his reign remain: a mass exodus of Venezuelans, border conflicts, and, relatedly, the rise of guerrilla groups in neighboring Colombia. The Cuban government, which depended on Venezuela for oil, is now on the brink of collapse. And Trump, emboldened by his success with Maduro, is menacing other regional leaders and scouring the hemisphere to root out Chinese influence. Colombia and Cuba may be the two most vulnerable countries, but almost no Latin American state is truly safe from U.S. pressure. Trump has repeatedly threatened Mexico. Three senior Chilean officials lost their U.S. visas for working too closely with Chinese companies. And Peru could end up in hot water for making deals with Beijing-controlled firms.
Latin America’s countries are not powerful enough to handle U.S. pressure and the fallout from Venezuela on their own; the region will have to overcome its divisions and act together. In the 1990s, most of Latin America’s large countries supported free trade, democratic rule, and market economies. They acted together to fight against electoral tampering, and they helped form the Inter-American Democratic Charter. But then Maduro’s predecessor—Hugo Chávez—consolidated power in Venezuela and began railing against governments that he deemed insufficiently left wing. Soon, his grandstanding encouraged countries to identify with either the left or the right, and that polarization has not yet abated. In fact, many of the region’s conservative leaders, such as Argentine President Javier Milei and El Salvadorian President Nayib Bukele, are exacerbating it today. For the region to speak with a single voice, its governments do not need to agree on everything or even most things. But they do need to find common ground on matters of foreign policy. Otherwise, Latin American governments will simply stand by as Washington does what it wants to its neighbors—and to them. The irrelevance of the region’s governments in the world will be confirmed by their insignificance at home.
A disaster in the making
In many ways, the extraction of Maduro began on July 28, 2024, the day of Venezuela’s most recent presidential election. It was the best chance Venezuela’s opposition had to get him out of office. Maduro, after all, had become extremely unpopular over his decade in power, thanks largely to the country’s historic economic collapse. The opposition candidate and former diplomat Edmundo González, who was running in place of the disqualified opposition leader, Maria Corina Machado, was broadly respected. González and Machado knew that Maduro would try to rig the vote. But their supporters rigorously tracked and tallied the country’s ballots, which allowed them to report the results. When they did, they found that González had won with nearly 70 percent of the vote.
Yet Venezuela’s election authorities declared Maduro the victor anyway. In response, people from across the country took to the streets. Regional leaders demanded that Maduro produce tally sheets proving his victory. But Venezuela’s two neighbors—Brazil and Colombia—ultimately did not sanction him or apply any other real pressure to make him validate his win, and he refused to do so. López Obrador, then Mexico’s popular president, was of similarly little use. And Cuba never sought to convince Maduro, its client, that it was wise to step down.
Latin American countries weren’t the only ones that failed. The United States has feuded with the Venezuelan government for years, sanctioning its officials and economy and condemning its leadership. In the wake of the election, the Biden administration could have upped the pressure, threatening to quarantine Venezuela’s oil exports, for example. But Washington quickly made it clear it would not contemplate such measures, preemptively ceding U.S. leverage. Biden, along with Lula, Petro, and López Obrador, also refused to mobilize the Organization of American States behind a resolution threatening sanctions and isolation against Maduro’s regime, invoking the Inter-American Democratic Charter. Such a resolution could have also increased the pressure. At a minimum, it would have created the legal justification for using force, even if that justification was not entirely plausible.
These countries did make an effort to get Maduro to rerun the election. And in the weeks following the vote, they seemed to succeed. The foreign minister of a major Latin American country told me that both Maduro and Machado agreed to hold a new contest, conducted under international supervision and with an impartial electoral authority. The Biden administration also gave the plan its blessing. But Lula’s envoy in Caracas, Celso Amorim, publicized the deal, and it fell through. A frustrated López Obrador subsequently pulled out of the mediation effort, and the entire endeavor collapsed. As a result, when Trump’s team arrived in office, it felt it had carte blanche to handle Maduro as it saw fit. About a year later, U.S. helicopters were making their way to Caracas.
Proximity and power
Maduro’s defenestration holds many consequences for Latin America. First and foremost, it marks the arrival of Trump’s “Americas first” foreign policy. The president’s administration now owns Venezuela; if the country breaks, the White House will have to put it back together. Washington will thus be more focused on Latin America than it was before. The Trump administration—or indeed its successors—may also more readily choose to intervene in other countries in the region. After all, one of Trump’s main reasons for reasserting Washington’s supremacy in Latin America is to keep China out—a bipartisan ambition.
Washington’s attempt at promoting U.S. hegemony in the hemisphere will probably prove successful in Mexico, the Caribbean, and Central America. With the exception of post-1959 Cuba, these countries have fallen within the United States’ sphere of influence since the nineteenth century, and they are extremely dependent on their northern neighbor for trade, foreign investment, tourism, and defense. As a result, Trump does not need to do much to limit Chinese influence there. In fact, Mexico imposed 50 percent tariffs on all Chinese imports at the end of 2025, before officials began the renegotiation of the U.S.-Mexico-Canada trade deal. Mexican President Claudia Sheinbaum understood that it made sense to preemptively make concessions, given that her country is extraordinarily dependent on the United States for its well-being. Seventy percent of Mexico’s electric power, for example, comes from natural gas—and 60 percent of that gas comes from Texas.
In South America, however, Washington’s efforts to assert its dominance will prove more challenging. China has become the largest trading partner for Argentina, Bolivia, Brazil, Chile, Paraguay, Peru, Uruguay, and Venezuela—which is to say most of the continent—mainly through its purchases of commodities. Chinese state-owned companies have huge investment stakes in all these places, and Beijing is the largest foreign investor in Argentina, Brazil, Chile, and Peru. The Biden and Trump administrations have even alleged that a Chinese satellite station in Argentine Patagonia, the Chinese-controlled port of Chancay in Peru, and a sophisticated Chinese telescope in the Chilean desert have military purposes. Such ties make it harder for the United States to coerce South American governments.
Washington’s policies are deepening Latin America’s divisions.
But China’s involvement in this area is exactly why Trump might target the region. After all, if Beijing remains a major player in South America, his vision of “American dominance,” as he calls it, would be little more than rhetoric. The president has already started his anti-Chinese campaign in Venezuela. In exchange for lifting Washington’s blockade and easing sanctions, for example, Trump has forced Caracas to stop selling oil to Chinese firms. He might next turn to Colombia, the other major country that is part of both the Caribbean basin and South America. The Colombian economy is still more tied to Washington’s than it is to Beijing’s, and it is a long-standing U.S. military and security partner. But Petro has tried to draw closer to China, and he has made feuding with Trump a key part of his political persona. Trump, in turn, has suggested that he might attack Colombia, alleging that Petro is engaging in drug trafficking. The two leaders have recently improved their relationship, yet Petro will be leaving office in August, and it is unclear who will succeed him. In the interim, rather than attacking Colombia, Trump may well attempt to influence the election’s outcome (as he did in Argentina and Honduras in 2025) to ensure that an anti-Chinese, pro-U.S. candidate wins the presidency.
Trump might also go after countries that have much deeper ties to China, notably Peru. That country has experienced substantial political turmoil, cycling through seven presidents in ten years. Its most recent leader—José Jerí—was just removed from office because of a secret meeting he held with Chinese business officials. A Chinese government firm owns 60 percent of the port of Chancay, and U.S. authorities maintain that the port’s multibillion-dollar installations are designed not just to export Peruvian copper but also to serve as a base for the Chinese navy. Trump might therefore try to strong-arm Lima into kicking Beijing’s company out. Washington, after all, successfully forced Panama to take control of the erstwhile Chinese-owned ports along its coastline. In this case, as with Colombia, Trump might involve himself in the country’s upcoming elections, conditioning proper relations with Washington on the Peruvians’ electing an anti-Chinese, pro-U.S. leader.
Trump might also call in favors from candidates he has helped, such as Milei. The U.S. president, for example, could probably persuade the Argentine president to shut down or more closely supervise the Chinese-owned satellite station. But Trump will experience far more resistance if he tries to convince Milei to stop exporting soybeans to China. It is by far Argentina’s most important cash crop and source of currency, and there is no one else to sell it to. Trump will also have much less success pressuring Brazil, Latin America’s largest economy. Brazil maintained strong ties to China even under pro-U.S. and pro-Trump President Jair Bolsonaro, who governed from 2018 to 2022. Unlike the rest of the continent, Brazil can actually afford to go it alone.
A house divided
Right now, Washington’s policies are deepening Latin America’s divisions between both right and left and north and south. Argentina, Bolivia, Ecuador, and El Salvador—ruled by right-wing populists—all applauded Maduro’s extraction, whereas Brazil, Chile, Colombia, and Mexico condemned it. But the praise was louder from El Salvador than from Ecuador, and the criticism more muted in Mexico than in Brazil. Central American states, it seems, understood they had more to gain and more to lose from their relations with U.S. officials.
The region has not always been disjointed. When the United States invaded Panama in 1989, for instance, the Organization of American States closed ranks in opposition, condemning the attack in a 20-to-1 vote. But today, Latin America risks being paralyzed by its schisms, rendering it unable to address the many challenges it now confronts. Consider Venezuela. Maduro may be gone, but his regime remains in power. The government still needs to liberate all political prisoners; end repression; reestablish freedom of assembly, expression, circulation, and organization; allow for the return of exiled opposition leaders; and hold new elections. But Trump appears uninterested in forcing Caracas to take any of these steps. Instead, he is focused on getting the country’s oil. Democratizing Venezuela, then, falls to Latin America. It should start by reembracing some of the principles it broadly held during the 1990s—namely, collective support for democracy and human rights. That means it should insist on a new Venezuelan presidential vote in early 2027 at the latest and the immediate restoration of all human and political rights for Venezuelans. Moreover, it should push Washington to eventually end the virtual protectorate it has established over the regime of acting Venezuelan President Delcy Rodríguez, which has brought the country’s oil and other resources under U.S. receivership.
Latin America will also need unity in order to manage Cuba, the other regional country most obviously at risk of descending into chaos. The island is already in worse economic and social condition than it has been at any point since the revolution of 1959, with shortages of food, gasoline, electricity, water, medicine, and garbage collection services, and its situation is likely to worsen. Both Trump and U.S. Secretary of State Marco Rubio seem to have the dictatorship in their sights, and they are tightening travel and remittance restrictions to the country, establishing a virtual quarantine on oil, and attempting to persuade the European Union to also cut the country off. It is now impossible to rule out the possibility that Washington will attack the island outright, even though the risk of U.S. casualties would be much greater than it was in Caracas.
To avert catastrophe, Cuba’s neighbors to the west and south must push Havana to make a peaceful, gradual, and fair democratic transition with Washington’s support. This will not be easy: most of Latin America’s left-of-center governments are at least somewhat sympathetic to Cuba’s leaders, and they might insist on economic reforms without regime change, the equivalent of former U.S. President Barack Obama’s approach and an outcome that is, in principle, unacceptable to the Trump administration. Right-of-center leaders, however, might insist on an immediate, complete, and radical political transition. Cuba will obviously not accept this, but neither will Brazil, Colombia, or Mexico. If these states could set aside their differences, they might be able to assemble a proposal that brings about regime change in Cuba in exchange for immunity for the current leadership; the conservation of some of the 1959 communist revolution’s legacy, such as universal, free health care and education; and a major international reconstruction program largely financed by the United States. But if they can’t, the island will continue to be strangled by Washington, with Latin America again watching from the sidelines.
Today, such cooperation might seem out of reach, given just how divided the region is ideologically and geographically. But its countries must try. If they don’t, they will lose power over their own neighborhood’s future on other, perhaps more substantial topics. For example, in the great U.S.-Chinese rivalry, Latin American states will be unable to forge ties and relations that suit their interests. Instead, they will be forced to negotiate on an individual basis with Washington to determine what kind of Chinese presence in their countries is acceptable. Most important, the region will keep compounding its irrelevance in the world arena, despite large deposits of resources and great human talent. That is an outcome that every country in the hemisphere, no matter its leanings, should want to avoid.
JORGE G. CASTAÑEDA teaches at Sciences Po, in Paris, and is the author of America Through Foreign Eyes. He served as Mexico’s Secretary of Foreign Affairs from 2000 to 2003.
Nhận xét
Đăng nhận xét