3478 - Lang thang hẻm cũ
Tư Thẳng
Ngay đầu hẻm 266, một bên là trường Bình Dân Học Hội (gọi tắt là trường Bình Dân) của Bà Bút Trà, chủ nhân nhựt báo Sàigònmới cũng là chủ tịch Hội Phụ Nữ Việt Nam, trước khi sáp nhập vào Hội Phụ Nữ Liên Đới của bà Ngô Đình Nhu. Vì thế nó còn được gọi là hẻm Bình Dân, một cái tên dễ nhớ, dễ nhận ra một đoạn đường cho mọi bác tài lúc chạy xe. Đây là nơi Tư nương náu hơn 10 năm khi bỏ nhà ra đi từ Tân An lên Sài Gòn sống đời học sinh trung học.
Thập niên 1960, xe ngựa từ đường Hàm Nghi về chợ Simon (còn gọi chợ Bến Đò) hay bến đò Long Kiển đường Tôn Thất Thuyết, sau khi qua cầu Khánh Hội - còn gọi là Cầu Quay - lon ton chạy trên đường Trịnh Minh Thế tới ngã ba Tôn Đản quẹo phải, khách chỉ cần nói cho xuống hẻm Bình Dân là bác tài dừng ngựa ngay trước trường học. Xe ngựa là phương tiện chuyên chở rẻ tiền nhứt đối với dân nghèo Tôn Đản, những người đã trôi giạt về đây từ bốn phương trời vì khói lửa chiến tranh.
Bên trái hẻm là quán cà phê Phước An mang số 268, thường gọi là “quán Út Giàu” theo tên người chủ quán, một người đàn ông gốc Huế lưu lạc có vợ con đất Sài Gòn. Cà phê Út Giàu là một quán cà phê bình dân, từ khoảng 3, 4 giờ sáng quán đã mở cửa đón những người khách đầu tiên của xóm nghèo. Đó là những tài xế xích-lô máy, xích-lô đạp, người đạp xe ba bánh, mấy người phụ nữ đi bổ hàng bên chợ Cấu Muối, những người không nghề nghiệp nhứt định và dân ghiền cà phê thức sớm. Phần đông họ quen biết nhau, có người ở hẻm 243 bên kia đường, ban ngày mỗi người đi mỗi ngã, giờ này là lúc họ gặp nhau bên ly cà phê bàn chuyện từ thành đến tỉnh, hay những tin tức liệt vào mục xe cán chó chó cán xe trên báo hàng ngày. Đó chính là giờ "xum họp" của những người lao động nghèo trước khi bắt đầu một ngày mưu sinh vất vả.
Tiệm nước Út Giàu bàn ghế cũ kỹ, vách treo hai câu thơ không biết tên tác giả nhưng nói lên lòng hiếu khách của chủ nhân.
Vui vẻ đón chào người quý khách
Ân cần tiếp đãi bạn bình dân.
Tuy nhiên “quý khách” tức “dân thầy chú” cũng chẳng mấy khi thấy bước vào đây để thưởng thức hương vị của ly cà phê vớ và không khí ấm cúng bình dân của một quán cà phê nghèo. Mà chỉ thấy những gương mặt quen thuộc trong xóm, ngày nào cũng có mặt như một thông lệ đáng yêu của dân lao động Quận Tư, như vợ chồng anh Tư Phịch chạy xích lô vợ gánh nước mướn, anh Sáu Ghẻ hớt tóc ngay đầu hẻm 243, chị Ba Bé bán cơm tấm, bà bóng Hồng, anh ba Chó và còn rất nhiều "nhân vật" đáng yêu khác làm thành cái không khí "thiệt là dân Tôn Đản".
Khách uống cà phê sớm, ngồi co giò lên ghế đẩu đổ cà phê ra dĩa cho bớt nóng, có khi thổi cho nguội bớt rồi bưng lên húp từ chút. Họ thoải mái như ngồi ở nhà mình, chuyện trò rôm rả. Đặc biệt trên mặt bàn còn có một hũ đường cát để khách tùy ý thêm cho vừa miệng, bên cạnh bình trà nóng lúc nào cũng được chủ nhân châm đầy.
Thuở ấy tiệm cà phê của người Tàu và người Việt đều để bảng “tiệm nước”, bán từ cà phê đến ly chanh đường, nước ngọt con cọp, xá xị con nai. Khách quen ngồi hai ba tiếng đồng hồ chỉ uống một ly xây chừng, hết cà phê thì có sẵn đường, khách ngồi uống trà đường thêm mấy lượt để bàn chuyện trên trời dưới đất, cuối cùng chủ quán cũng chỉ tính tiền ly xây chừng. Nhưng tiệm giữ được khách quen từ tháng này qua năm nọ nhờ kiểu buôn bán thân thiện đúng như câu "ân cần tiếp đãi bạn bình dân".
Còn nhớ những năm 50, Tư bắt đầu làm quen với "ánh sáng đô thành", hẻm 266 còn lót ván gập ghềnh. Sau đó chánh phủ chở đất đỏ đến cho, địa phương vận động dân trong xóm xung phong ra gánh đất đổ đường, gọi là phát triển cộng đồng, đồng tiến xã hội. Chẳng bao lâu mà nền đường được nâng cao, cầu ván biến mất từ ngoài đầu hẻm vô tới xóm trong.
Giai đoạn kế tiếp, vì quyền lợi của chính mình, dân trong xóm hùn tiền lại tráng xi-măng để tránh cảnh bùn đỏ lúc trời mưa. Từ đó có thể thuận đường từ đầu hẽm 266 thẳng tới cầu cá anh Bảy thầy pháp, qua một cây cầu ván mới xây, đi tuốt qua hẻm Hãng Phân (Con Cò), ra tới Bến Vân Đồn để lên Cầu Ông Lãnh, xuống Chợ Cầu Muối. Đó cũng là con đường đi học bằng lô-ca-chân hàng ngày của Tư khi vào Trung học tư thục Nguyễn Văn Khuê. Lên tới Đệ Tứ thi đậu trung học đệ nhất cấp mới được gia đình mua cho chiếc “xe máy đầm” chuẩn bị vào Đệ Tam Mạc Đỉnh Chi sau khi Petrus Ký trả lời "hết chỗ". Năm 1957 là năm trường Trung học công lập Mạc Đỉnh Chi khai giảng niên khóa đầu tiên.
Nhưng sau một lần đạp xe đi về từ Khánh Hội Quận Tư qua tận Phú Lâm Quận 6 mệt phờ râu tôm vì xa quá, nên đành bỏ trường công tiếp tục học trường tư. Như vậy Tư vẫn còn duyên với Nguyễn Văn Khuê cho tới năm 1962. Sau nầy ngồi nghĩ lại mới thấy một học sinh nghèo như Tư chỉ dựa vào điều kiện cho người đậu từ hạng bình trở lên là ưu tiên để đương nhiên vào đệ tam Petrus Ký, chỉ là chỗ dựa quá nhỏ.
Căn nhà trong hình mang tên "Tạp Hóa 266" chính là trường Bình Dân Học Hội năm xưa. Vật đổi sao dời, tấm hình được chụp năm 2019, tái hiện lại ký ức những năm sống nơi đây của thời đi học, thời của "yêu rất nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu". Và thỉnh thoảng là nơi tụ tập bạn bè trong xóm ăn "đồ lâm vố", uống Vĩnh Sanh Hoà với Hai Tàu, Mười Bé, Bảy Hí, Bo… cho đến khi Tư tình nguyện bước chân vào đời lính. Đó là những ngày đẹp nhất trong đời những chàng trai trẻ lớn lên trong chiến tranh và tự biết sớm muộn gì mình cũng ca bài ca "xuyên lá cành trăng lên lều vải..."
Sau năm 1975, những nhân vật kỳ cựu của hẻm cũ nay hầu hết đã qua đời và đi vào tro bụi thời gian mờ mịt. Mấy ai còn nhớ Bà Đội bán bánh mì, anh Sáu Bánh, anh Tư Phịch chạy xích-lô, anh Sáu Ghẻ hớt tóc và chủ tiệm nước Út Giàu? Họ là dân tứ xứ tụ họp về đây buôn bán làm ăn, sống ở đây chết ở đây, làm thành cái hồn của một trong hàng trăm con hẻm của đường Tôn Đản: hẻm 266.
Họ xứng đáng được gọi là dân Quận Tư, dân Sài Gòn.

Nhận xét
Đăng nhận xét