3464 - Siêu cường hậu tự do

Michael Carpenter

Cái giá mà nước Mỹ phải trả khi bỏ rơi các đồng minh dân chủ


                Nhà Trắng tại Washington, D.C., tháng 3 năm 2026. Ảnh: Ken Cedeno / Reuters

Trong một thế giới cạnh tranh giữa các cường quốc ngày càng gay gắt và bất ổn địa chính trị, thật dễ dàng để diễn giải các động thái chính sách đối ngoại gần đây của chính quyền Trump thông qua lăng kính quen thuộc của chủ nghĩa hiện thực chính trị. Chính quyền này cũng khuyến khích cách hiểu đó. Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump khôi phục Học thuyết Monroe thế kỷ XIX cho thấy một chính sách đối ngoại bắt nguồn từ sự cân bằng quyền lực. Tương tự, các cuộc tấn công gần đây của ông vào Iran cũng vậy. Chiến lược Quốc phòng Quốc gia năm 2026 tuyên bố ủng hộ “chủ nghĩa hiện thực cứng rắn” trong khi chỉ trích các chính quyền trước đây vì bám víu vào “những khái niệm trừu tượng hão huyền như trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”. Việc bác bỏ các chuẩn mực quốc tế để ủng hộ chính trị quyền lực, thoạt nhìn, dường như hoàn toàn phù hợp với thế giới quan hiện thực.

Chính quyền Trump thực sự đã gạt bỏ các quy tắc đã được thiết lập của trật tự quốc tế. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã bác bỏ “tính hợp pháp yếu kém” khi ra lệnh tấn công các tàu buôn lậu ma túy bị cáo buộc ở vùng biển Caribbean, điều mà nhiều chuyên gia coi là vi phạm luật pháp quốc tế. Ông Trump đã gửi lời mời tham dự Hội đồng Hòa bình mới thành lập của mình tới các nhà độc tài như Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Belarus Alexander Lukashenko. Và quan trọng nhất, chính quyền Trump đã phá bỏ bộ công cụ chuẩn mực của đất nước, đóng cửa các tổ chức thúc đẩy các chuẩn mực quốc tế và giá trị dân chủ như USAID, Viện Hòa bình Hoa Kỳ và Trung tâm Hợp tác Toàn cầu của Bộ Ngoại giao, đồng thời cắt giảm mạnh ngân sách cho Quỹ Quốc gia vì Dân chủ, Đài Tiếng nói Hoa Kỳ và Đài Phát thanh Tự do châu Âu.

Các quan chức chính quyền biện minh cho những động thái này là các biện pháp cắt giảm chi phí, lập luận rằng các tổ chức này không hiệu quả trong việc thúc đẩy lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, việc gán ghép các chính sách này là chính trị thực dụng đã che khuất động lực thực sự của chính sách đối ngoại của chính quyền Trump: việc chấp nhận một hệ tư tưởng phi tự do, hay cái mà một số nhà phân tích gọi là hậu tự do, trong nước. Những người quá chú trọng vào việc giải thích các chính sách của chính quyền Trump bằng chủ nghĩa hiện thực đã bỏ qua một đặc điểm trung tâm và ngày càng gia tăng của địa chính trị hiện nay—đó là sự phản ánh các cuộc đấu tranh quản trị trong nước lên đấu trường quốc tế. Tại Hoa Kỳ và nhiều nơi khác, ranh giới giữa chính trị trong nước và địa chính trị đang bị xói mòn. Các cuộc đấu tranh chính trị trong nước và hệ tư tưởng đảng phái đang định hình các lựa chọn chính sách đối ngoại của các quốc gia, chẳng hạn như các mối quan hệ đối tác ưa thích của họ, và các quốc gia thậm chí còn can thiệp vào các cuộc tranh giành chính trị trong nước—ví dụ, công khai ủng hộ các ứng cử viên chính trị mà họ ưa thích, như Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio đã làm trong chuyến thăm Hungary gần đây.

Nếu chính quyền Trump theo đuổi cách tiếp cận theo chủ nghĩa hiện thực, họ sẽ cân bằng quyền lực với các đối thủ chính của mình là Nga và Trung Quốc. Nhưng thay vào đó, Hoa Kỳ đang điều chỉnh lập trường của mình đối với các đối thủ cường quốc trong khi hướng các chính sách hung hăng nhất của mình vào các đồng minh dân chủ, thường theo những cách nhằm thu hút cơ sở chính trị trong nước của Trump. Đối với các đồng minh thân cận như Canada và Vương quốc Anh, điều này đã gây ra cú sốc sâu sắc, và trong trường hợp của Canada, nó đã dẫn đến việc phòng ngừa rủi ro trước Washington thông qua các nỗ lực củng cố quan hệ với Bắc Kinh. Kết quả này hoàn toàn trái ngược với những gì Hoa Kỳ mong muốn theo đuổi theo chủ nghĩa hiện thực. Các chính sách khác của chính quyền Trump thậm chí còn khó dung hòa với logic hiện thực thông thường. Lời kêu gọi “nuôi dưỡng sự kháng cự” đối với các đảng chính thống châu Âu bằng cách hỗ trợ các phong trào đối lập cực hữu trong Chiến lược An ninh Quốc gia, gói cứu trợ gây tranh cãi trị giá 20 tỷ đô la cho Argentina, và cuộc chiến thuế quan chống lại các đối tác chủ chốt như Brazil, Ấn Độ và Nam Phi, những quốc gia lẽ ra có thể đóng vai trò then chốt trong việc chống lại Nga và Trung Quốc, tất cả đều phản ánh các mệnh lệnh chính trị đảng phái hơn là sự cân bằng chiến lược chống lại các đối thủ cường quốc. Do đó, luận điệu hiện thực của chính quyền chỉ là sự biện minh hơn là động lực. Trên thực tế, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ngày càng xa rời các đồng minh dân chủ tự do như Đan Mạch hay Canada và hội tụ với chính sách đối ngoại của các nền dân chủ phi tự do như Hungary và Slovakia.

Tìm kiếm các nhóm bạn mới

Định hướng chính sách đối ngoại mới của chính quyền Trump thường được coi là sản phẩm của một hiện tượng chính trị đặc trưng của Hoa Kỳ, được thúc đẩy bởi sự trỗi dậy của phong trào “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”. Một số người nhìn thấy trong phong trào này sự trỗi dậy của chủ nghĩa biệt lập, trong khi những người khác lại thấy chủ yếu là một động lực theo chủ nghĩa dân tộc. Nhưng trong khi các quyết định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ có tầm ảnh hưởng đặc biệt do vị thế siêu cường của quốc gia này, thì sự điều chỉnh lại chính sách đối ngoại rõ ràng ngày nay lại không hề độc đáo đối với Hoa Kỳ hay phong trào MAGA.

Khi các quốc gia độc tài dân chủ hóa, họ thường định hướng lại chính sách đối ngoại của mình hướng tới các nền dân chủ khác và xa rời các nước bảo trợ độc tài trước đây. Ví dụ, Armenia, Moldova và Ukraine đã dứt khoát thoát khỏi quỹ đạo của Nga và theo đuổi mối quan hệ chặt chẽ hơn với các nền dân chủ phương Tây sau khi các nhà lãnh đạo tự do hơn được bầu lên sau các phong trào dân chủ quần chúng trong thập kỷ qua. Cán cân quyền lực quốc tế trong cả ba trường hợp hầu như không thay đổi, nhưng những biến động chính trị trong nước ở các quốc gia này đã sắp xếp lại các ưu tiên chính sách đối ngoại, hướng họ ra khỏi các thể chế do Nga lãnh đạo như Liên minh Á Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập, và hướng tới hợp tác sâu rộng hơn với Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ.

Điều ngược lại cũng đúng. Khi các quốc gia dân chủ bầu ra các nhà lãnh đạo phi tự do, những người sau đó làm suy yếu các thể chế dân chủ, họ có xu hướng tìm cách thỏa hiệp với các cường quốc độc tài và xa lánh các đồng minh dân chủ. Georgia, Hungary và Slovakia minh họa cho quỹ đạo này, ngay cả khi phạm vi suy thoái dân chủ của họ khác nhau. Sau khi các nhà lãnh đạo phi tự do lên nắm quyền ở các quốc gia này, họ nhanh chóng làm suy yếu cơ chế kiểm soát và cân bằng bằng cách gây áp lực lên truyền thông độc lập, các tổ chức xã hội dân sự và các trường đại học, đồng thời đổ lỗi cho người nhập cư, cộng đồng LGBTQ và những người theo chủ nghĩa tự do chính trị về các vấn đề xã hội. Khi các thể chế dân chủ chịu áp lực, Georgia, Hungary và Slovakia ngày càng xung đột với EU và NATO về cam kết của họ đối với các nguyên tắc dân chủ và các quyền tự do cơ bản. Đồng thời, cả ba chính phủ đều theo đuổi mối quan hệ gần gũi hơn với Nga và Trung Quốc, chấp nhận một số yếu tố quan trọng trong chính sách đối ngoại của Bắc Kinh và Moscow như phản đối các lệnh trừng phạt của phương Tây, sao chép luật pháp đàn áp nhắm vào các tổ chức xã hội dân sự và hoan nghênh các khoản đầu tư của Nga và Trung Quốc.

Ngày nay, Hoa Kỳ cũng đang thể hiện một số xu hướng tương tự. Giống như các đối tác phi tự do ở châu Âu, Washington đã bắt đầu gây xung đột với các nước NATO và EU, bao gồm cả việc chỉ trích các chính phủ châu Âu vì bị cáo buộc không bảo vệ quyền tự do ngôn luận và cảnh báo rằng “các hoạt động của Liên minh châu Âu và các tổ chức xuyên quốc gia khác” đe dọa “sự xóa sổ nền văn minh”. Dường như đang chiếu những cuộc đấu tranh chính trị nội bộ của Hoa Kỳ lên châu Âu, Chiến lược An ninh Quốc gia của chính quyền Trump lên án “các chính sách di cư đang làm biến đổi lục địa và tạo ra xung đột, kiểm duyệt tự do ngôn luận và đàn áp phe đối lập chính trị, tỷ lệ sinh giảm mạnh, và sự mất mát bản sắc dân tộc và lòng tự tin”.

Các nhà lãnh đạo Gruzia, Hungary và Slovakia thường xuyên sử dụng những lập luận gần như giống hệt nhau khi bác bỏ những lời chỉ trích của EU về sự thụt lùi dân chủ của họ. Các mối đe dọa đối với nền văn minh và các giá trị truyền thống và sự xói mòn chủ quyền là những luận điểm cốt lõi trong diễn ngôn chính trị của họ. Các phản ứng chính sách của họ cũng rất giống với những gì ở Hoa Kỳ. Những nỗ lực của chính quyền Trump nhằm cắt giảm ngân sách cho các tổ chức thúc đẩy dân chủ tự do ở nước ngoài, chẳng hạn như Quỹ Quốc gia vì Dân chủ và Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, được phản ánh qua việc chính phủ Hungary trục xuất Đại học Trung Âu có khuynh hướng tự do, áp lực chính trị của chính phủ Gruzia đối với Đại học Quốc gia Ilia cũng có khuynh hướng tự do tương tự, và việc chính phủ Slovakia giải thể đài truyền hình công cộng quốc gia RTVS. Một lần nữa, ranh giới giữa chính trị trong nước và chính sách đối ngoại lại trở nên mờ nhạt khi các chính phủ hậu tự do tìm cách vô hiệu hóa các thể chế đi ngược lại hệ tư tưởng cầm quyền của họ.

Trạm giảm leo thang

Với sự trỗi dậy song song của chính quyền hậu tự do của Trump, không có gì đáng ngạc nhiên khi Hoa Kỳ cũng bắt đầu lặp lại các chính sách đối ngoại của các quốc gia này, tìm kiếm mối quan hệ gần gũi hơn với Nga và Trung Quốc trong khi xa rời các đồng minh dân chủ. Khi nói đến Nga - có thể nói là cường quốc hủy diệt nhất thế giới và là quốc gia đã dành hàng thập kỷ để cố gắng chia rẽ NATO và làm suy yếu Hoa Kỳ - chính quyền Trump đã theo đuổi chính sách hòa giải. Các đặc phái viên cấp cao của Hoa Kỳ như Steve Witkoff, cùng với chính Trump, đã ca ngợi Putin nhiều lần và đầu tư đáng kể vốn chính trị vào việc cố gắng chấm dứt chiến tranh ở Ukraine với các điều khoản có lợi cho Moscow.
Sau buổi đón tiếp long trọng và được công khai rộng rãi của Trump dành cho Putin tại Anchorage hồi tháng 8 năm ngoái, các nhà ngoại giao Mỹ đã nhanh chóng soạn thảo một khuôn khổ hòa bình nhằm nhượng lại lãnh thổ Ukraine cho Nga. Điều này sẽ đảo ngược hiệu quả "Tuyên bố Crimea" năm 2018 của chính quyền Trump, trong đó cam kết không bao giờ công nhận việc Nga chiếm đóng lãnh thổ bất hợp pháp. Những nỗ lực của Witkoff nhằm biện minh cho sự thay đổi này lặp lại luận điệu tuyên truyền của Điện Kremlin, tuyên bố rằng các cuộc trưng cầu dân ý do Nga dàn dựng tại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Ukraine đã chứng minh rằng "đại đa số người dân đã bày tỏ mong muốn được sống dưới sự cai trị của Nga". Đề xuất hòa bình ban đầu của Witkoff, mặc dù sau đó đã được sửa đổi, lại nghiêng hẳn về phía Moscow đến nỗi Hạ nghị sĩ đảng Cộng hòa Don Bacon của Nebraska đã công khai kêu gọi sa thải ông, cảnh báo trên mạng xã hội rằng "Witkoff hoàn toàn ủng hộ người Nga".

Chính sách rộng hơn của chính quyền Trump đối với Nga củng cố ấn tượng rằng Washington đang đưa ra các quyết định dựa trên những động cơ khác ngoài chủ nghĩa thực dụng chính trị. Tháng 2 năm 2025, Hoa Kỳ đã khiến các đồng minh kinh ngạc khi bỏ phiếu chống lại nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc do các nước châu Âu bảo trợ, kêu gọi Nga rút quân khỏi Ukraine, thay vào đó lại đứng về phía Nga và các quốc gia bị cô lập như Belarus, Triều Tiên và Sudan. Vài tháng sau, khi Trump áp đặt thuế quan "Ngày Giải phóng" lên hầu hết các đối tác thương mại của Mỹ trên thế giới, Washington lại công khai miễn trừ Nga. Và bất chấp sự leo thang mạnh mẽ các cuộc tấn công của Nga vào các thành phố của Ukraine trong suốt năm 2025, chính quyền Trump vẫn giữ vững quyết định chấm dứt mọi viện trợ quân sự trực tiếp cho Kyiv, chỉ cho phép bán thiết bị gián tiếp bởi các nhà thầu quốc phòng của Mỹ với quy mô nhỏ hơn nhiều.

Những lời lẽ theo chủ nghĩa hiện thực của chính quyền Trump chỉ là sự biện minh hơn là động lực.

Một mô hình tương tự đã xuất hiện trong quan hệ Mỹ-Trung. Khi chính quyền Trump theo đuổi một thỏa thuận thương mại với Bắc Kinh và nhấn mạnh sự ổn định song phương, họ cũng đã giảm bớt những lời lẽ đối đầu trước đó. Mặc dù một số quan chức chính quyền—bao gồm cả Mike Waltz, cố vấn an ninh quốc gia đầu tiên trong nhiệm kỳ thứ hai của Trump, hiện đang giữ chức Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc—ban đầu cho rằng Hoa Kỳ nên mạnh mẽ thách thức những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm thiết lập sự thống trị ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhưng những bình luận gần đây từ chính quyền đã ôn hòa hơn nhiều. Ví dụ, Chiến lược Quốc phòng Quốc gia nhấn mạnh việc theo đuổi một “nền hòa bình tốt đẹp” trong khu vực, từ bỏ ngôn ngữ hiếu chiến hơn mà chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu tiên đã sử dụng khi cố gắng xây dựng một liên minh chống lại việc phương Tây áp dụng công nghệ Trung Quốc.

Sự thay đổi này đã được củng cố bởi các lựa chọn chính sách của Mỹ trên khắp khu vực châu Á-Thái Bình Dương rộng lớn hơn. Theo tờ New York Times, chính quyền Trump đã thúc giục Tổng thống Đài Loan Lai Kinh Đức tránh đến thăm Hoa Kỳ trong các chuyến công du nước ngoài năm ngoái để không gây hấn với Bắc Kinh, và trì hoãn thương vụ bán vũ khí trị giá hàng tỷ đô la cho Đài Loan để tránh làm phật lòng nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình trước chuyến thăm Trung Quốc dự kiến ​​vào tháng Tư. Sau khi Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi tuyên bố rằng hành động quân sự của Trung Quốc chống lại Đài Loan sẽ đe dọa lợi ích của Nhật Bản, tờ Wall Street Journal đưa tin rằng Washington đã gây áp lực buộc bà Takaichi phải giảm bớt những cảnh báo công khai để kiểm soát phản ứng thù địch mà những bình luận của bà gây ra từ các quan chức Trung Quốc. Trong lĩnh vực công nghệ, Washington đã nới lỏng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu vào tháng 12 để cho phép công ty công nghệ Nvidia của Mỹ bán chất bán dẫn H200 tiên tiến cho khách hàng Trung Quốc, đánh dấu một sự đảo ngược đáng kể so với các hạn chế trước đó do chính quyền Biden đặt ra.

Nhìn chung, những động thái này cho thấy một sự điều chỉnh chiến lược rộng lớn hơn của Hoa Kỳ. Ở cả châu Âu và châu Á, chính quyền Trump đã đặt cạnh tranh cường quốc dài hạn và vai trò lãnh đạo liên minh xuống dưới việc đạt được các thỏa thuận ngắn hạn. Sự nhượng bộ đã thay thế cạnh tranh như nguyên tắc tổ chức đối với các đối thủ độc tài của Mỹ. Đây không phải là chủ nghĩa hiện thực mà là chủ nghĩa giao dịch được sinh ra từ một định hướng chính trị rất khác so với bất kỳ chính quyền nào trước đây, Cộng hòa hay Dân chủ.

Gió Tây

Việc chính quyền Trump ưu tiên Tây bán cầu trong chính sách đối ngoại là dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy địa chính trị đang được thúc đẩy ít hơn bởi sự cần thiết chiến lược mà nhiều hơn bởi các mệnh lệnh chính trị trong nước. Cựu quan chức dưới thời Trump, A. Wess Mitchell, lập luận rằng sự chuyển hướng đột ngột sang Tây bán cầu “tự nó không nhất thiết cấu thành một sự chuyển hướng khỏi Trung Quốc”, mà thay vào đó mô tả nó như một nỗ lực củng cố quyền lực và xây dựng năng lực trước một cuộc đối đầu trong tương lai với Bắc Kinh. Tuy nhiên, hành động của chính quyền hiện tại lại mâu thuẫn với tuyên bố này. Ngân sách quốc phòng cơ bản năm 2025 của họ nhỏ hơn về mặt thực tế so với chính quyền Biden, và họ đã chọn tái triển khai các tài sản lớn, bao gồm cả một nhóm tác chiến tàu sân bay, để hỗ trợ các hoạt động ở vùng biển Caribbean. Những lựa chọn này cho thấy không phải là việc quản lý cẩn thận các nguồn lực cho cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc mà là theo đuổi tham vọng hậu tự do của chính quyền. Dư luận Mỹ cũng không yêu cầu một sự tập trung mới vào bán cầu. Theo Hội đồng Chicago về các vấn đề toàn cầu, chỉ 11% người Mỹ coi khu vực Mỹ Latinh là ưu tiên hàng đầu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Mỹ, và chỉ 5% coi đây là ưu tiên hàng đầu cho an ninh quân sự của Mỹ.

Nếu mục tiêu của chính quyền Trump là củng cố vị thế địa chính trị của Washington trong khu vực, thì cho đến nay họ vẫn chưa đạt được nhiều tiến bộ. Các chính sách của họ đã làm căng thẳng nghiêm trọng mối quan hệ với các đối tác chủ chốt, bao gồm Brazil, Canada, Colombia và Mexico. Dưới áp lực từ thuế quan của Mỹ, mỗi nước đều tìm cách mở rộng thương mại với Trung Quốc, làm suy yếu hơn nữa ảnh hưởng của Mỹ. Việc định hình Mỹ Latinh thành một khu vực có ảnh hưởng lớn hơn của Mỹ sẽ đòi hỏi đầu tư đáng kể thời gian và vốn ngoại giao, cả hai điều này đều không phù hợp với giả thuyết "củng cố" của Mitchell, cho rằng kỷ nguyên thu hẹp địa chính trị hiện nay đòi hỏi phải tập trung nguồn lực cho sự cạnh tranh trong tương lai với Trung Quốc. Ngay cả thành tựu nổi bật nhất của chính quyền trong khu vực—việc lật đổ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro—cũng tiềm ẩn những rủi ro đáng kể. Việc Washington hợp tác với chế độ Chavista cực tả tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn mới, có thể kéo Hoa Kỳ vào một dự án xây dựng quốc gia không giới hạn ở phía nam biên giới.

Trên thực tế, sự tập trung của chính quyền vào khu vực châu Mỹ Latinh được hiểu rõ nhất như một sự mở rộng của chương trình nghị sự trong nước. Việc triển khai các nhân viên Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan (ICE) và quân đội Vệ binh Quốc gia đến các thành phố của Hoa Kỳ được biện minh một phần bằng tuyên bố rằng đất nước đã bị các băng đảng ma túy Mỹ Latinh tràn lan. Một trong những sắc lệnh hành pháp đầu tiên của chính quyền, được ban hành vào tháng 1 năm 2025, đã chỉ định các băng đảng này là các tổ chức khủng bố nước ngoài và khẳng định rằng chúng đã “tham gia vào một chiến dịch bạo lực và khủng bố trên khắp Tây bán cầu”. Trong bài phát biểu trước Quốc hội vào tháng 3 năm 2025, Trump đã củng cố luận điểm này, tuyên bố rằng “các băng đảng đang gây chiến ở Mỹ và đã đến lúc Mỹ phải gây chiến với các băng đảng”. Mặc dù buôn bán ma túy chắc chắn đã gây tổn hại đến sức khỏe cộng đồng và an ninh nội địa ở Hoa Kỳ, nhưng mục tiêu của chính quyền Trump dường như không phù hợp với phương pháp và cách thức thực hiện. Các cuộc tấn công của Mỹ vào các tàu nhỏ mà họ cho là đang buôn lậu ma túy từ Venezuela nhắm vào những đối tượng tương đối nhỏ, trong khi các nguồn cung cấp chính của fentanyl và tiền chất của nó là Trung Quốc và Mexico, và sản xuất cocaine toàn cầu vẫn tập trung ở Colombia. Tương tự, tuyên bố của Trump về một liên minh buôn bán ma túy giữa Maduro và băng đảng Cartel de los Soles của Venezuela như một phần lý do cho hành động quân sự của Mỹ ở Venezuela lại khá kỳ lạ khi đặt cạnh quyết định ân xá cho cựu Tổng thống Honduras Juan Orlando Hernández, người bị kết tội tạo điều kiện vận chuyển hàng trăm tấn cocaine vào Hoa Kỳ.

Nhưng bất chấp những nỗ lực của chính quyền Trump nhằm tăng cường sức mạnh ở sân sau của mình, ngay cả sự tập trung mới này vào Tây bán cầu cũng không tránh khỏi những động cơ trong nước của tổng thống. Cuộc chiến thay đổi chế độ của Trump chống lại Iran đi ngược lại chương trình nghị sự "Nước Mỹ trên hết" của ông và việc Chiến lược An ninh Quốc gia đã rõ ràng coi nhẹ Trung Đông. Giống như chiến dịch thành công lật đổ Maduro, các cuộc tấn công nhằm chặt đầu chế độ Iran và tiêu diệt lãnh đạo tối cao Ayatollah Ali Khamenei cần được nhìn nhận qua lăng kính chính trị nội bộ của Mỹ. Tỷ lệ ủng hộ giảm sút và các vụ bê bối trong nước thường dẫn đến các cuộc chiến tranh nước ngoài nhanh chóng. Việc loại bỏ Khamenei mang lại cho chính quyền một chiến thắng chính trị tức thì và chuyển hướng sự chú ý của truyền thông khỏi các vấn đề trong nước. Mặc dù các quan chức cấp cao của chính quyền Trump như Thứ trưởng Quốc phòng Elbridge Colby đã lập luận rằng Hoa Kỳ "không thể để bị cuốn vào một cuộc chiến tranh Trung Đông khác", nhưng các tính toán chính trị trong nước một lần nữa lại lấn át tư duy chiến lược.

Chất độc hậu tự do

Những nỗ lực của chính quyền Trump nhằm giành lấy Greenland cũng thiếu một lý lẽ mạch lạc trừ khi được nhìn nhận qua lăng kính chính trị nội bộ của Hoa Kỳ. Các quan chức mô tả sáng kiến ​​này là cần thiết để ngăn chặn sự kiểm soát của Nga và Trung Quốc đối với Bắc Cực, nhưng chưa bao giờ giải thích đầy đủ lý do tại sao việc mở rộng sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ, điều mà chính quyền Đan Mạch và Greenland sẵn sàng chấp nhận, lại không đủ. Cũng như việc lật đổ Maduro ở Venezuela, việc theo đuổi một thành tựu chính trị mang tính di sản cho Trump đưa ra một lời giải thích thuyết phục hơn cho các hành động của Hoa Kỳ so với bất kỳ chiến lược hiện thực nào được tính toán cẩn thận cho cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc. Nó cũng phơi bày sự coi thường luật pháp quốc tế của chính quyền Trump và sự sẵn sàng bỏ rơi các đồng minh và đối tác khi điều đó có lợi cho Hoa Kỳ. Bằng cách ban đầu từ chối loại trừ việc sử dụng lực lượng quân sự ở Greenland, Hoa Kỳ đã công khai thách thức các nguyên tắc cốt lõi của Hiến chương Liên hợp quốc, bao gồm lệnh cấm đe dọa bằng vũ lực, tính bất khả xâm phạm của biên giới và tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ. Nếu những vi phạm như vậy nhắm vào một đối thủ thù địch, phản ứng của các đồng minh có thể là ủng hộ hoặc thờ ơ. Thay vào đó, những hành vi vi phạm đó nhắm vào Đan Mạch—một thành viên sáng lập của NATO và là một trong những đối tác đáng tin cậy nhất của Washington trong nhiều thập kỷ—khiến những hệ lụy của chúng càng trở nên đáng báo động hơn đối với các đồng minh thân cận nhất của Mỹ.

Những làn sóng chấn động do đó gây ra đã lan rộng ra ngoài Greenland. Mặc dù chính quyền Trump đã thừa hưởng những liên minh vững chắc ở cả châu Âu và khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, chính sách đối ngoại hậu tự do của họ đã nhanh chóng làm mất lòng nhiều đối tác kiên định. Các cuộc thăm dò của Trung tâm Nghiên cứu Pew cho thấy phần lớn người dân ở các nước đồng minh hiện nay bày tỏ sự thiếu tin tưởng hoặc không tin tưởng vào khả năng của Trump trong việc “làm điều đúng đắn liên quan đến các vấn đề thế giới”.

Một cách tiếp cận chính sách đối ngoại chỉ trích các đồng minh vì “sự xóa sổ nền văn minh” và coi các liên minh là gánh nặng khó có thể thắng thế trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc trong thời gian dài. Thế kỷ XXI đang được định hình bởi cuộc cạnh tranh toàn cầu giữa các nền dân chủ tự do đề cao tự do cá nhân và các chế độ độc tài phi tự do đề cao lợi ích tập thể. Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu này, Hoa Kỳ không thể thành công về kinh tế, ngoại giao hay quân sự nếu không hợp tác với các đồng minh thân cận nhất của mình. Trong nhiều thập kỷ, các liên minh của Hoa Kỳ bắt nguồn từ sự tận tâm chung đối với các nguyên tắc của nền dân chủ tự do, và sức mạnh của Mỹ được quyết định bởi mức độ tuân thủ các lý tưởng này cả trong nước và ngoài nước. Một chính sách đối ngoại hậu tự do có nguy cơ lãng phí nguồn sức mạnh bền vững này và khiến Hoa Kỳ yếu đi.

MICHAEL CARPENTER là Nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế. Ông từng là Trợ lý đặc biệt của Tổng thống và Giám đốc cấp cao phụ trách châu Âu tại Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, cũng như Đại sứ và Đại diện thường trực tại Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu dưới thời chính quyền Biden.

https://www.foreignaffairs.com/united-states/postliberal-superpower

***

The Postliberal Superpower

What Abandoning Democratic Allies Will Cost America

The White House in Washington, D.C., March 2026 Ken Cedeno / Reuters

In a world of intensifying great-power competition and geopolitical uncertainty, it is tempting to interpret the Trump administration’s recent foreign policy moves through the familiar lens of realpolitik. The administration itself invites this reading. U.S. President Donald Trump’s revival of the nineteenth-century Monroe Doctrine suggests a foreign policy rooted in the balance of power. So, too, do his recent strikes on Iran. The 2026 National Defense Strategy claims to support “hardnosed realism” while castigating previous administrations for clinging to “cloud-castle abstractions like the rules-based international order.” The rejection of international norms in favor of power politics appears, at first glance, fully consistent with a realist worldview.

The Trump administration has indeed dispensed with established rules of the international order. U.S. Secretary of Defense Pete Hegseth dismissed “tepid legality” while ordering strikes on alleged drug-running vessels in the Caribbean, which many experts regarded as violations of international law. Trump sent invitations for his newly created Board of Peace to autocrats such as Russian President Vladimir Putin and Belarusian President Alexander Lukashenko. And most important, the Trump administration has dismantled the country’s normative toolkit, shuttering institutions that promoted international norms and democratic values such as USAID, the U.S. Institute of Peace, and the State Department’s Global Engagement Center while sharply reducing funding for the National Endowment for Democracy, Voice of America, and Radio Free Europe.

Administration officials justify these moves as cost-cutting measures, arguing that these institutions are ineffective at promoting U.S. strategic interests. Yet framing these policies as realpolitik obscures the true driver of the Trump administration’s foreign policy: the embrace of an illiberal, or what some analysts are calling a postliberal, ideology at home. Those fixated on explaining the Trump administration’s policies with realism miss a central and indeed growing feature of today’s geopolitics—the projection of domestic governance struggles into the international arena. In the United States and elsewhere, the boundary between domestic politics and geopolitics is eroding. Domestic political fights and partisan ideology are shaping states’ foreign policy choices, such as their preferred partnerships, and states are even inserting themselves into national political contests—for example, openly backing preferred political candidates, as U.S. Secretary of State Marco Rubio did on a recent visit to Hungary.

If the Trump administration were pursuing a realist approach, it would be balancing power against its chief rivals, Russia and China. But the United States is instead moderating its posture toward its great-power adversaries while directing its most aggressive policies at democratic allies, often in ways meant to appeal to Trump’s domestic political base. For close allies such as Canada and the United Kingdom, this has come as a profound shock, and in Canada’s case is already leading to hedging against Washington through attempts to shore up relations with Beijing. This result is precisely the opposite of what the United States would seek under a realist agenda. Other Trump administration policies are even harder to reconcile with conventional realist logic. The National Security Strategy’s call for “cultivating resistance” to mainstream European parties by supporting far-right opposition movements, the controversial $20 billion bailout of Argentina, and the tariff war being waged against key partners such as Brazil, India, and South Africa, which could otherwise serve as pivotal swing states against Russia and China, all reflect partisan political imperatives rather than strategic balancing against great-power rivals. The administration’s realist rhetoric is therefore more justification than motivation. In truth, U.S. foreign policy is increasingly diverging from liberal democratic allies such as Denmark or Canada and converging with the foreign policies of illiberal democracies like Hungary and Slovakia.

Finding new friend groups

The Trump administration’s new foreign policy orientation is often cast as a product of a distinctively U.S. political phenomenon, spurred by the rise of the “Make America Great Again” movement. Some see in this movement a resurgent isolationism, while others see a primarily nationalist push. But while U.S. foreign policy decisions are uniquely consequential because of the country’s superpower status, the foreign policy realignment evident today is not at all unique to the United States or the MAGA movement.

When authoritarian states democratize, they often reorient their foreign policies toward other democracies and away from former autocratic patrons. Armenia, Moldova, and Ukraine, for example, moved decisively out of Russia’s orbit and pursued closer ties with Western democracies once more liberal leaders were elected in the wake of popular pro-democracy movements within the last decade. The international balance of power in all three cases changed little, yet domestic political shifts in these countries reordered foreign policy priorities, steering them away from Russian-led institutions such as the Eurasian Union and the Commonwealth of Independent States and toward deeper cooperation with the European Union and the United States.

The reverse is equally true. When democratic countries elect illiberal leaders who proceed to hollow out democratic institutions, they tend to seek accommodation with authoritarian powers and distance themselves from democratic allies. Georgia, Hungary, and Slovakia illustrate this trajectory, even if they vary in the scope of their democratic backsliding. After illiberal leaders took office in these countries, they moved quickly to weaken checks and balances by exerting pressure on independent media, civil society organizations, and universities while scapegoating immigrants, LGBTQ communities, and political liberals for societal ills. As democratic institutions came under pressure, Georgia, Hungary, and Slovakia increasingly clashed with the EU and NATO over their commitment to democratic principles and fundamental freedoms. At the same time, all three governments pursued closer ties with Russia and China, embracing some key elements of Beijing’s and Moscow’s foreign policies such as opposition to Western sanctions, copying repressive legislation targeting civil society organizations, and welcoming Russian and Chinese investments.

The United States today is exhibiting some of the same tendencies. Like its nonliberal counterparts in Europe, Washington has begun picking fights with NATO and EU countries, including castigating European governments for allegedly failing to protect free speech and warning that “activities of the European Union and other transnational bodies” threaten “civilizational erasure.” Apparently projecting the United States’ own domestic political battles onto Europe, the Trump administration’s National Security Strategy denounces “migration policies that are transforming the continent and creating strife, censorship of free speech and suppression of political opposition, cratering birthrates, and the loss of national identities and self-confidence.”

Georgian, Hungarian, and Slovakian leaders routinely deploy nearly identical arguments when deflecting EU criticism of their democratic backsliding. Threats to traditional civilization and values and the erosion of sovereignty are the references that form the core of their political discourse. Their policy responses are also remarkably similar to those in the United States. The Trump administration’s efforts to defund institutions promoting liberal democracy abroad, such as the National Endowment for Democracy and Voice of America, are mirrored by the Hungarian government’s eviction of the liberal-leaning Central European University, the Georgian government’s political pressure on the similarly liberal Ilia State University, and the Slovak government’s dissolution of the national public broadcaster RTVS. Once again, the boundaries between domestic politics and foreign policy are blurred as postliberal governments seek to neutralize institutions that run counter to their governing ideologies.

De-escalation station

Given the parallel rise of Trump’s postliberal administration, it is hardly surprising that the United States has also begun to echo the foreign policies of these countries, seeking closer ties with Russia and China while distancing itself from democratic allies. When it comes to Russia—arguably the world’s most destructive power and a state that has spent decades trying to divide NATO and weaken the United States—the Trump administration has pursued a policy of attempted rapprochement. Senior U.S. envoys such as Steve Witkoff, alongside Trump himself, have praised Putin on several occasions and invested considerable political capital in trying to end the war in Ukraine on terms favorable to Moscow.

After Trump’s highly publicized red carpet reception for Putin in Anchorage last August, U.S. diplomats moved swiftly to craft a peace framework that would concede Ukrainian territory to Russia. This would have effectively reversed the first Trump administration’s 2018 “Crimea Declaration,” which pledged never to recognize Russia’s illegal territorial seizures. Witkoff’s attempts to justify this shift echoed Kremlin propaganda, claiming Russia’s staged referendums in occupied Ukrainian territories demonstrated that “the overwhelming majority of the people have indicated that they want to be under Russian rule.” Witkoff’s initial peace proposal, although later revised, was so tilted toward Moscow that Republican Representative Don Bacon of Nebraska publicly called for his firing, warning on social media that “Witkoff fully favors the Russians.”

The Trump administration’s broader policy toward Russia reinforces the impression that Washington is making decisions based on motivations other than realpolitik. In February 2025, the United States stunned its allies by voting against a UN General Assembly resolution sponsored by the Europeans that called for the withdrawal of Russian forces from Ukraine, aligning instead with Russia and pariah states such as Belarus, North Korea, and Sudan. A few months later, as Trump imposed his “Liberation Day” tariffs on most U.S. trading partners around the world, Washington conspicuously exempted Russia. And despite a sharp escalation in Russian attacks on Ukrainian cities throughout 2025, the Trump administration has stood by its decision to terminate all direct military assistance to Kyiv, permitting only indirect sales of equipment by U.S. defense contractors on a much smaller scale.

The Trump administration’s realist rhetoric is more justification than motivation.

A roughly similar pattern has emerged in U.S.-Chinese relations. As the Trump administration has pursued a trade agreement with Beijing and emphasized bilateral stability, it has also muted its earlier confrontational rhetoric. Although some administration officials—including Mike Waltz, the first national security adviser in Trump’s second term who is currently serving as U.S. ambassador to the UN—initially argued that the United States should aggressively challenge Beijing’s efforts to establish dominance in the Asia-Pacific, recent commentary from the administration has been far more subdued. The National Defense Strategy, for instance, emphasizes the pursuit of a “decent peace” in the region that retreats from the more combative language that the first Trump administration employed when trying to build a coalition against the adoption of Chinese technologies in the West.

This shift has been reinforced by U.S. policy choices across the broader Asia-Pacific. According to The New York Times, the Trump administration urged Taiwanese President Lai Ching-te to avoid visiting the United States during overseas travel last year so as not to provoke Beijing, and delayed a multibillion dollar sale of weapons to Taiwan to avoid upsetting Chinese leader Xi Jinping ahead of a planned trip to China in April. And after Japanese Prime Mister Sanae Takaichi declared that Chinese military action against Taiwan would threaten Japan’s interests, The Wall Street Journal reported that Washington pressed Takaichi to temper her public warnings to manage the hostile reaction her comments earned from Chinese officials. In the technology sphere, Washington relaxed export controls in December to allow the U.S. technology company Nvidia to sell advanced H200 semiconductors to Chinese customers, marking a significant reversal of earlier restrictions put in place by the Biden administration.

Taken together, these moves point to a broader strategic recalibration by the United States. In both Europe and Asia, the Trump administration has subordinated long-term great-power competition and alliance leadership to short-term deal-making. Accommodation has supplanted competition as the organizing principle toward America’s authoritarian rivals. This is not realism but transactionalism born of a very different political orientation from any previous administration, Republican or Democrat.

Western winds

The Trump administration’s prioritization of the Western Hemisphere in its foreign policy is the clearest indication that geopolitics is being driven less by strategic necessity than by domestic political imperatives. The former Trump official A. Wess Mitchell has argued that the sudden pivot to the Western Hemisphere “does not in itself necessarily constitute a diversion from China,” portraying it instead as an effort to consolidate power and build capabilities ahead of a future confrontation with Beijing. Yet the current administration’s actions belie this claim. Its 2025 base defense budget was smaller in real terms than the Biden administration’s, and it chose to redeploy major assets, including a carrier strike group, to support operations in the Caribbean. These choices suggest not the careful husbanding of resources for great-power competition but rather the pursuit of the administration’s own postliberal ambitions. Nor has U.S. public opinion demanded a renewed hemispheric focus. According to the Chicago Council on Global Affairs, only 11 percent of Americans view Latin America as a priority for promoting U.S. economic growth, and only five percent view it as a priority for U.S. military security.

If the Trump administration’s goal was to strengthen Washington’s geopolitical position in the region, it has so far made little headway. Its policies have severely strained relations with key partners, including Brazil, Canada, Colombia, and Mexico. Under pressure from U.S. tariffs, each has sought to expand trade with China, further diluting American influence. Molding Latin America into a region of greater U.S. influence will require investing considerable time and diplomatic capital, neither of which aligns with Mitchell’s “consolidation” hypothesis that claims the current era of geopolitical retrenchment demands a mustering of resources for future competition with China. Even the administration’s signature achievement in the region—the removal of Venezuelan President Nicolás Maduro—carries significant risks. Washington’s partnership with the far-left Chavista regime invites renewed instability that could draw the United States into an open-ended nation-building project south of its border.

In truth, the administration’s hemispheric focus is best understood as an extension of its domestic agenda. Its deployment of Immigration and Customs Enforcement agents and National Guard troops to U.S. cities has been justified in part by claims that the country has been overrun by Latin American drug cartels. One of the administration’s first executive orders, issued in January 2025, designated cartels as foreign terrorist organizations and asserted that they had “engaged in a campaign of violence and terror throughout the Western Hemisphere.” In his March 2025 address to Congress, Trump reinforced this narrative, declaring that “the cartels are waging war in America and it’s time for America to wage war on the cartels.” Although drug trafficking has undeniably damaged public health and domestic security in the United States, the Trump administration’s ends appear misaligned with its ways and means. U.S. strikes on small vessels that it claimed were smuggling drugs from Venezuela targeted relatively minor actors, when the principal sources of fentanyl and its precursors are China and Mexico, and global cocaine production remains centered in Colombia. Similarly, Trump’s claims of an operational narcotrafficking alliance between Maduro and Venezuela’s Cartel de los Soles as part of the rationale for U.S. military action in Venezuela sit rather oddly alongside the administration’s decision to pardon former Honduran President Juan Orlando Hernández, who was convicted of facilitating the shipment of hundreds of tons of cocaine into the United States.

But despite the Trump administration’s efforts to double down in its own backyard, even this new focus on the Western Hemisphere is not immune from the president’s own domestic motivations. Trump’s regime change war against Iran flies in the face of his “America first” agenda and the National Security Strategy’s explicit deprioritization of the Middle East. Like the successful operation to remove Maduro, the strikes to decapitate the Iranian regime and take out its supreme leader Ayatollah Ali Khamenei must be seen through the lens of U.S. domestic politics. Sagging approval ratings and domestic scandals often invite quick foreign wars. The elimination of Khamenei gives the administration an instant political victory and refocuses media attention away from domestic concerns. Even though senior Trump administration officials such as Undersecretary of Defense Elbridge Colby have argued that the United States “cannot afford to be enmeshed in another Middle Eastern war,” domestic political calculations are again overriding conceptual strategic thinking.

Postliberal poison

The Trump administration’s efforts to acquire Greenland likewise lacked a coherent rationale unless viewed through the lens of domestic U.S. politics. Officials portrayed the initiative as necessary to ward off Russian and Chinese control over the Arctic yet never fully explained why an expanded U.S. military presence, which Danish and Greenlandic authorities were willing to accept, was not sufficient on its own. As with Maduro’s removal in Venezuela, the pursuit of a legacy political accomplishment for Trump offers a more convincing explanation for U.S. actions than any carefully calibrated realist strategy for great-power competition. It also exposes the Trump administration’s disregard for international law and its readiness to throw allies and partners under the bus when expedient for the United States. By initially refusing to rule out the use of military force in Greenland, the United States openly challenged core principles of the UN Charter, including the prohibition on threats of force, the inviolability of borders, and respect for territorial integrity. Had such transgressions been directed at a hostile adversary, allied reactions might have been supportive or ambivalent. Instead, those transgressions were aimed at Denmark—a founding member of NATO and one of Washington’s most reliable partners for decades—making their implications all the more alarming for America’s closest allies.

The resulting shock waves extended well beyond Greenland. Despite the Trump administration having inherited robust alliances in both Europe and the Indo-Pacific, its postliberal foreign policy has managed to alienate many of its steadfast partners in remarkably short order. Pew Research Center polling shows that large majorities in allied countries now express little or no trust in Trump to “do the right thing regarding world affairs.”

A foreign policy approach that bashes allies for “civilizational erasure” and treats alliances as encumbrances is unlikely to prevail in great-power competition over time. The twenty-first century is already being defined by the global competition between liberal democracies that emphasize individual freedoms and illiberal autocracies that emphasize collective goods. In this global contest, the United States cannot succeed economically, diplomatically, or militarily without cooperating with its closest allies. For decades, U.S. alliances have been rooted in a shared devotion to the principles of liberal democracy, and American strength has been determined by how closely it hews to these ideals at home and abroad. A postliberal foreign policy risks squandering this source of enduring strength and leaving the United States weaker as a consequence.

MICHAEL CARPENTER is a Senior Fellow at the International Institute for Strategic Studies. He was Special Assistant to the President and Senior Director for Europe at the U.S. National Security Council as well as Ambassador and Permanent Representative to the Organization for Security and Cooperation in Europe during the Biden administration.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?