A. Wess Mitchell
Làm thế nào Trump có thể hồi sinh sức mạnh của Mỹ
Chiến lược quốc phòng mới của đất nước đã hình dung ra một sự thay đổi mạnh mẽ. Nó ưu tiên an ninh nội địa và tái bố trí các lực lượng đã tuần tra các biên giới xa xôi trong gần một thế kỷ. Nó giao nhiệm vụ bảo đảm các vành đai phòng thủ xa hơn cho các đồng minh, nhiều trong số đó dường như chưa sẵn sàng gánh vác trọng trách này. Các chuyên gia trong giới tinh hoa đã kinh hoàng. Những người theo chủ nghĩa diều hâu cảnh báo rằng chiến lược mới sẽ khuyến khích các đối thủ và ủng hộ cách tiếp cận cũ là mạnh mẽ ở mọi nơi cùng một lúc.
Năm đó là năm 1904, và đất nước đó là Vương quốc Anh. Nó phải đối mặt với một tình thế tiến thoái lưỡng nan tương tự như tình thế mà Hoa Kỳ hiện đang phải đối mặt. Đế chế của nó là cường quốc mạnh nhất thế giới. Hải quân của nó có nhiều tàu chiến hơn hai hải quân lớn nhất tiếp theo cộng lại. Nhưng tình hình chiến lược của nó đang xấu đi. Vị thế kinh tế hàng đầu của Anh bắt đầu suy yếu khi các cường quốc đang trỗi dậy vượt qua nó về sản xuất công nghiệp. Đế quốc Đức đang xây dựng một hạm đội viễn dương. Pháp và Nga đang tạo ra những thách thức mới đối với quyền lực của Anh ở châu Phi và châu Á. Hoa Kỳ và Nhật Bản, hai đối thủ mới, đang theo đuổi sự thống trị ở các khu vực của họ. Các nhà lãnh đạo Anh có hai lựa chọn: tiếp tục cố gắng vượt trội về sức mạnh quân sự so với tất cả các đối thủ này hoặc thử một điều gì đó mới mẻ.
Đô đốc hàng đầu của đất nước, John “Jacky” Fisher, đã chọn con đường thứ hai. Ông vạch ra một chiến lược để củng cố vị thế của Anh, có thể được mô tả là sự hợp nhất. Hợp nhất là khi một quốc gia tập trung vào các lợi ích hàng đầu của mình trong khi tăng cường nguồn lực quốc gia để gia tăng sức mạnh theo thời gian. Đây không phải là sự thu hẹp quy mô hay chấp nhận sự suy thoái quốc gia. Fisher quyết định rằng thay vì cố gắng duy trì tất cả các trạm hải quân trải rộng của Đế quốc Anh, ông sẽ ưu tiên vùng biển liền kề với quần đảo Anh để răn đe Đức, mối đe dọa hàng đầu đối với Vương quốc Anh. Để bù đắp những khoảng trống mà điều này tạo ra ở những nơi khác, ông nhắm đến việc dựa vào các đồng minh khu vực, chẳng hạn như Nhật Bản và Pháp, mà các nhà ngoại giao Anh đang ve vãn. Bằng cách đó, ông hy vọng sẽ có thêm thời gian để Vương quốc Anh huy động các ngành công nghiệp hùng mạnh của mình và duy trì vị trí dẫn đầu so với các đối thủ trong các công nghệ tiên tiến.
Chiến lược này gây nhiều tranh cãi. Nhưng điều đó đã cho phép Vương quốc Anh đạt được điều mà nhà lý luận quân sự người Phổ Carl von Clausewitz gọi là “quy luật chiến lược cao nhất và đơn giản nhất”: tập trung lực lượng. Bằng cách tập trung các nguồn lực quân sự vốn hạn hẹp vào chiến trường trọng yếu, Vương quốc Anh đã giảm bớt áp lực đa mặt trận đè nặng lên đế chế của mình, đồng thời tạo dựng được một thế đứng vững chắc hơn cho cuộc đối đầu sắp tới với Đế quốc Đức.
Ngày nay, Hoa Kỳ cũng đang đứng trước một bước ngoặt tương tự. Trong suốt ba thập kỷ rưỡi qua, quốc gia này đã duy trì được hòa bình và giữ vững tầm ảnh hưởng tại mọi khu vực trọng điểm trên thế giới mà không phải đánh đổi quá nhiều. Hoa Kỳ vẫn tiếp tục mặc định rằng mình có thể làm được điều đó, ngay cả khi sức mạnh kinh tế tương đối của đất nước đã suy giảm, và quá trình tăng cường sức mạnh quân sự của các đối thủ đã dần làm xói mòn ưu thế vượt trội của mình. Hệ quả là hiện nay, Hoa Kỳ đang phải đối mặt với một sự mất cân đối nghiêm trọng giữa thực lực quốc gia và những mục tiêu chiến lược mà nước này vốn đã quen theo đuổi.
Giống như Vương quốc Anh đã từng làm vào thời của Đô đốc Fisher, Hoa Kỳ cần phải áp dụng một chiến lược củng cố lực lượng. Chính quyền thứ hai của Tổng thống Trump đã thực hiện những bước đi quan trọng theo hướng này, thông qua việc triển khai các cuộc cải cách đầy tham vọng ngay trong nội bộ đất nước nhằm gia tăng sức mạnh quốc gia trong tương quan đối trọng với Trung Quốc. Cuộc chiến mà Hoa Kỳ phát động chống lại Iran vào tháng Hai vừa qua có thể sẽ thúc đẩy tiến trình củng cố này nếu nó được giới hạn trong phạm vi hẹp; ngược lại, nó có thể làm chệch hướng chiến lược này nếu bị kéo dài lê thê. Trong giai đoạn tới, Washington cần phải cam kết thực hiện một cách trọn vẹn lộ trình củng cố lực lượng này; các chính quyền kế nhiệm cũng cần phải kiên định đi theo con đường đó để đảm bảo chiến lược này gặt hái được thành quả. Điều đó đồng nghĩa với việc không để bị cuốn vào những cuộc chiến tranh quy mô lớn, cũng như không để bị ru ngủ mà quay trở lại với những thói quen chính sách cũ kỹ—những thói quen vốn chỉ làm trầm trọng thêm thế khó chiến lược mà Hoa Kỳ đang gặp phải. Nếu tập trung vào công cuộc củng cố lực lượng, Hoa Kỳ sẽ nắm trong tay một cơ hội lịch sử để tìm lại định hướng của mình trên cương vị một cường quốc, đồng thời giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh lâu dài với Trung Quốc—đối thủ hùng mạnh nhất trong toàn bộ lịch sử của Hoa Kỳ.
Phân tán lực lượng quá mức
Sức mạnh của Mỹ đang bị dàn trải quá mức. Các cam kết của quốc gia này đã vượt quá nguồn lực tài chính và quân sự hiện có trong tay. Tình trạng dàn trải quá mức này—vốn hiển hiện rõ ràng trước mắt công dân, các đồng minh cũng như các đối thủ của Mỹ—là hệ quả của những biến động trong cán cân quyền lực quốc tế, nhưng đồng thời cũng xuất phát từ những lựa chọn chính sách của Mỹ trong quá khứ. Sự sụp đổ của Liên Xô đã khiến Mỹ không còn đối thủ ngang tầm nào khác. Phản ứng trước tình thế đó, Washington đã cắt giảm chi tiêu quốc phòng trong khi lại mở rộng quy mô các hoạt động quân sự trên phạm vi toàn cầu. Sau loạt vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001, Mỹ đã triển khai các chiến dịch quân sự quy mô lớn và kéo dài tại Afghanistan và Iraq, đồng thời tiến hành các hoạt động quân sự tại hơn một tá quốc gia khác.
Những tổn thất về tài chính và nhân lực do các cuộc chiến tranh này gây ra đã được ghi nhận rất rõ ràng. Tuy nhiên, một thực tế ít được công chúng chú ý đúng mức là việc Mỹ đã dành trọn 30 năm để liên tục tiến hành các cuộc chiến tranh viễn chinh, trong khi lại để cho những nền tảng cấu trúc làm nên sức mạnh quân sự của mình—bao gồm nền tảng công nghiệp quốc phòng, năng lực đóng tàu và tiềm lực hạt nhân—dần trở nên mai một. Những cuộc chiến tranh ở vùng ngoại vi này chẳng những không giúp Mỹ gia tăng đáng kể khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên, mà thậm chí còn không đạt được mục tiêu—như kỳ vọng của những người khởi xướng—là mở rộng thêm số lượng các quốc gia dân chủ liên minh với Mỹ. Thay vào đó, chúng đã bào mòn sức mạnh của Mỹ theo vô vàn cách thức khác nhau: làm chậm trễ quá trình hiện đại hóa quân đội, thu hẹp kho vũ khí của Lầu Năm Góc, và đẩy mức nợ công dài hạn lên cao đến mức làm tê liệt khả năng đầu tư của Washington vào tương lai của đất nước.
Tình trạng dàn trải quá mức về kinh tế là một vết thương tự gây ra khác. Các hoạt động quân sự của Mỹ kể từ năm 2001 đã khiến khoản nợ quốc gia tăng thêm 8 nghìn tỷ USD. Cũng trong giai đoạn đó, chi tiêu cho các chương trình an sinh xã hội (entitlement spending) đã tăng thêm hơn 2 nghìn tỷ USD, cho đến khi đạt mức chiếm tới 51% tổng ngân sách liên bang vào năm 2024. Một loạt các gói giải cứu của chính phủ—bao gồm các biện pháp kích cầu nhằm ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008–2009 và đại dịch COVID-19—đã khiến khoản nợ công phình to thêm 7 nghìn tỷ USD nữa; đây là một con số tương đương với tổng số tiền mà Mỹ đã chi tiêu trong suốt thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ hai. Hiện tại, số tiền mà Mỹ phải chi trả để phục vụ cho các khoản vay trong quá khứ thậm chí đã vượt quá cả ngân sách dành cho quốc phòng.
Quân đội Mỹ không còn đủ khả năng đương đầu với nhiều hơn một đối thủ lớn cùng một lúc.
Vết thương tự gây ra cuối cùng lại mang bản chất xã hội. Sự mở rộng tài khóa ngoạn mục của quốc gia này đã diễn ra song hành với quá trình phi công nghiệp hóa—một quá trình giúp vực dậy thị trường chứng khoán nhưng lại tàn phá nặng nề các cộng đồng thuộc tầng lớp lao động, vốn từ bao đời nay đã sống dựa vào những công việc sản xuất có mức lương hậu hĩnh. Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2015, hơn 60.000 nhà máy tại Hoa Kỳ đã phải đóng cửa, kéo theo sự biến mất của một phần ba tổng số việc làm trong lĩnh vực sản xuất của cả nước. Tại các cộng đồng thuộc "Vành đai Rỉ sét" (Rust Belt), tiền lương sụt giảm, tỷ lệ thất nghiệp leo thang, và đối với nam giới trung niên, tuổi thọ trung bình thậm chí còn bị rút ngắn lại. Trên phạm vi toàn quốc, số ca tử vong do sốc thuốc và các vụ tự tử đều gia tăng.
Các yếu tố bên ngoài cũng góp phần khiến Hoa Kỳ rơi vào tình trạng dàn trải nguồn lực quá mức. Khi sức mạnh của quốc gia này dần suy yếu, phạm vi các đối thủ cạnh tranh của họ lại không ngừng mở rộng. Ba mươi năm về trước, Hoa Kỳ không phải đối mặt với bất kỳ đối thủ ngang tầm nào. Thế nhưng ngày nay, họ lại phải đương đầu với một đối thủ hoàn toàn ngang sức là Trung Quốc, một nước Nga đang ngày càng trở nên táo bạo, cùng với những mối đe dọa đến từ Iran, Triều Tiên và hàng loạt các tác nhân phi nhà nước khác. Sức mạnh của Trung Quốc đã gia tăng một cách ngoạn mục. Vào năm 1991, GDP của quốc gia này đạt mức 2 nghìn tỷ USD (tính theo giá trị đồng đô la đã điều chỉnh lạm phát). Đến năm 2024, con số này đã vọt lên mức 37 nghìn tỷ USD—tương đương mức tăng trưởng lên tới 1.500%. Trung Quốc đã tận dụng khối tài sản ngày càng đồ sộ của mình để thực hiện một cuộc tăng cường sức mạnh quân sự mang tính lịch sử. Trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2023, nước này đã mở rộng ngân sách quốc phòng từ mức 23 tỷ USD (tính theo giá trị đồng đô la hiện hành) lên hơn 300 tỷ USD—mức tăng trưởng 1.300%. Chỉ riêng trong năm 2024, một xưởng đóng tàu duy nhất của Trung Quốc đã hạ thủy số lượng tàu chiến nhiều hơn tổng số tàu mà Hoa Kỳ đã đóng kể từ năm 1945 đến nay.
Ba bản Chiến lược Quốc phòng Quốc gia gần đây nhất của Hoa Kỳ đều đã khẳng định rõ ràng rằng quân đội nước này không còn duy trì được thế trận hay được trang bị đầy đủ năng lực để có thể cùng lúc đối đầu với nhiều hơn một đối thủ lớn. Tương tự như trường hợp của Vương quốc Anh vào đầu thế kỷ 20, Hoa Kỳ hiện đang phải đối mặt với nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh trên nhiều mặt trận—một kịch bản nằm ngoài khả năng ứng phó tức thời của họ; đây chính là điều mà Lầu Năm Góc gọi là "vấn đề tính đồng thời".
Tóm lại, Hoa Kỳ hiện đang phải đối mặt với số lượng kẻ thù đông đảo hơn, cũng như những ràng buộc nội bộ to lớn hơn so với bất kỳ thời điểm nào khác—dù là trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh hay trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh. Quốc gia này sở hữu một lực lượng quân sự mà cho đến tận gần đây, chủ yếu được cấu trúc để phục vụ các cuộc chiến viễn chinh ở vùng ngoại biên, thay vì đối đầu với một đối thủ ngang tầm; đồng thời phải gánh chịu những khoản nợ chồng chất khiến nước này không thể vay mượn ở mức độ cần thiết cho một cuộc chiến quy mô lớn. Khoảng cách giữa các nguồn lực của Washington và những mục tiêu mà họ có thể sẽ sớm cần huy động các nguồn lực này để đạt tới đang ngày càng nới rộng.
Nạp lại năng lượng
Mục tiêu của sự củng cố là thu hẹp khoảng cách giữa các nguồn lực và các mục tiêu của một quốc gia, bằng cách gia tăng một cách có hệ thống các nguồn lực, đồng thời hạn chế hoặc định nghĩa lại các mục tiêu. Chiến lược này xoay quanh ý tưởng rằng một cường quốc có thể khôi phục sức mạnh của mình thông qua việc đối mặt với những quyết định khó khăn, với mục đích cải thiện vị thế quyền lực của mình so với mức mà lẽ ra họ sẽ đạt được nếu không thực hiện các biện pháp này. Trên thực tế, điều đó có nghĩa là chủ động chấp nhận những sự đánh đổi mang tính chiến lược như một "cái ác cần thiết" trong ngắn hạn, đồng thời tích cực đổi mới các yếu tố cấu trúc nền tảng—công nghệ, các liên minh, sản xuất công nghiệp—nhằm giảm nhẹ hoặc thậm chí vượt qua những sự đánh đổi đó về lâu dài.
Củng cố không đồng nhất với thu hẹp quy mô (retrenchment). Cả hai đều là những phản ứng trước tình trạng bành trướng quá mức. Tuy nhiên, chúng khác biệt ở vấn đề cơ bản mà chúng hướng tới giải quyết cũng như mục tiêu cuối cùng mà chúng cố gắng đạt được. Thu hẹp quy mô diễn ra khi một cường quốc tin rằng nền tảng cốt lõi của mình đã cạn kiệt đến mức không một sự thay đổi nào—dù sáng tạo đến đâu—có thể giúp họ duy trì vị thế cũ. Mục tiêu của cường quốc đó là từ bỏ những gì mình đang nắm giữ như một cách để giảm bớt gánh nặng. Ngược lại, sự củng cố xuất phát từ tiền đề cho rằng nền tảng sức mạnh cốt lõi của cường quốc vẫn còn vững vàng, nhưng đã bị quản lý sai lầm theo những cách làm suy yếu tiềm năng vốn có của nó. Trong trường hợp này, mục tiêu của cường quốc là bảo tồn và bồi đắp những gì mình đang có, thông qua việc điều chỉnh lại trọng số của các nghĩa vụ đối ngoại và huy động tối đa cơ sở nguồn lực của mình.
Nhiều chiến lược củng cố thành công nhất trong lịch sử đã được thực hiện bởi các cường quốc đang ở đỉnh cao quyền lực—những quốc gia cần một giai đoạn tập trung hồi phục để lấy lại đà phát triển mới. Một ví dụ điển hình là Đế chế La Mã dưới triều đại của Hoàng đế Hadrian. Ngay trước khi ông lên ngôi vào năm 117 sau Công nguyên, La Mã đã phát động những cuộc chiến tranh mở rộng phạm vi quyền lực sâu hơn vào khu vực Đông Âu, vùng Kavkaz và Trung Đông. Mặc dù những chiến dịch này gặt hái thành công về mặt quân sự, chúng lại khiến quân đội La Mã bị dàn trải quá mức và làm cạn kiệt ngân khố của đế chế. Hadrian đã thực hiện công cuộc củng cố bằng cách từ bỏ những vùng đất mà người tiền nhiệm Trajan đã chinh phục, đồng thời củng cố một vành đai phòng thủ vững chắc dọc theo các biên giới tự nhiên của Đế chế La Mã: các dòng sông Rhine, Danube và Euphrates. Ông đã đàm phán hòa bình với đối thủ hàng đầu của La Mã (Đế chế Parthia, thuộc lãnh thổ Iran ngày nay), trao thêm quyền hạn và trách nhiệm cho các đồng minh, đồng thời đẩy mạnh các cuộc cải cách kinh tế và hành chính trong nước. Kết quả là một kỷ nguyên vàng mới đã được mở ra.
Hoa Kỳ chi trả cho việc trả nợ cũ nhiều hơn số tiền dành để tài trợ cho quốc phòng. Gần với thời hiện đại hơn, Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon đã khởi xướng một hình thức củng cố quyền lực vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, khi Hoa Kỳ đang trong tâm thế mệt mỏi vì chiến tranh nhưng chưa thực sự suy thoái. Mục tiêu của Nixon là giúp Washington tập trung trở lại vào cuộc đối đầu trọng tâm với Liên Xô. Giống như Hadrian và Fisher, ông theo đuổi chính sách hòa hoãn với các đối thủ và chuyển giao gánh nặng an ninh sang cho các đồng minh—chẳng hạn như thông qua việc áp dụng Học thuyết Guam, vốn quy định các đối tác châu Á phải tự chịu trách nhiệm về năng lực phòng thủ thông thường của chính họ. Ông kết hợp những bước đi này với một chương trình cải cách kinh tế đầy tham vọng, bao gồm việc đàm phán lại các quan hệ thương mại với đồng minh, mở rộng sản xuất năng lượng trong nước, cũng như đầu tư vào cơ sở hạ tầng và đổi mới công nghệ của Hoa Kỳ. Những biện pháp này đã giúp giảm bớt áp lực tài chính, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, đồng thời cho phép Hoa Kỳ tái cơ cấu các khoản chi tiêu quân sự của mình.
Không phải mọi nỗ lực củng cố quyền lực đều gặt hái thành công. Vào thế kỷ 15, nhà Minh đã nỗ lực củng cố quyền lực của Trung Quốc sau một thời kỳ bành trướng. Triều đại này đã tăng cường Vạn Lý Trường Thành, cải thiện nông nghiệp và cơ sở hạ tầng, nhưng lại thất bại trong việc cải cách thỏa đáng các thể chế quản trị cũng như củng cố hệ thống phòng thủ trước sự đe dọa từ người Mông Cổ và người Mãn Châu; hệ quả là cuối cùng họ đã phải khuất phục trước áp lực từ bên ngoài và sụp đổ. Trong giai đoạn giữa hai cuộc Thế chiến I và II, Đế quốc Anh đã thực hiện một nỗ lực củng cố—mà trên lý thuyết—trông có vẻ vô cùng sáng suốt; nỗ lực này bao gồm việc áp dụng các ưu đãi thương mại nội bộ đế quốc (hạ thấp thuế quan đối với hàng hóa lưu thông trong khối và nâng cao thuế quan đối với các bên ngoài khối) cùng chính sách phân quyền chính trị. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, những gánh nặng mà đế quốc phải gánh chịu đã trở nên quá sức so với nền tảng tài nguyên vốn nhỏ bé của họ; Vương quốc Anh đã không thể ngăn chặn một cuộc chiến tranh trên nhiều mặt trận, và rốt cuộc đã tụt lại phía sau, không còn giữ được vị thế trong hàng ngũ các cường quốc thế giới. Vào cuối những năm 1980, Liên Xô cũng đã thử thực hiện công cuộc củng cố quyền lực thông qua việc cắt giảm tổn thất tại Afghanistan, sử dụng các hiệp ước kiểm soát vũ khí để giảm bớt gánh nặng quốc phòng, tái cơ cấu nền kinh tế và thực hiện chính sách cởi mở về mặt chính trị. Thế nhưng, chính quyền Xô Viết rốt cuộc lại quá cứng nhắc về mặt tư tưởng, khiến họ không thể thực hiện được những cải cách cần thiết để tự cứu lấy chính mình.
Để quá trình củng cố đạt được thành công, cần phải hội tụ một số điều kiện cơ bản nhất định. Thứ nhất, một quốc gia phải sở hữu đủ nền tảng sức mạnh cơ bản: toàn bộ tiền đề của việc củng cố nằm ở chỗ, những nguồn lực tiềm tàng chưa được huy động hết có thể được khai thác hiệu quả hơn thông qua một cơ chế quản lý sáng suốt hơn. Khi mà dù có huy động đến mức nào cũng không thể đối chọi nổi với quy mô của các mối đe dọa từ bên ngoài, thì việc cắt giảm và thu hẹp phạm vi hoạt động trở thành điều tất yếu. Thứ hai, quốc gia đó phải có đủ ý chí và sự tập trung để triển khai chiến lược củng cố. Điều này đòi hỏi phải có những nhà lãnh đạo mạnh mẽ—những người dám đưa các chính sách không được lòng dân vào chương trình nghị sự (đồng thời biết cách xử lý những sự xao nhãng do các cuộc khủng hoảng tất yếu gây ra)—cùng một hệ thống chính trị đủ khả năng duy trì các kế hoạch dài hạn. Cuối cùng, quá trình củng cố cần có thời gian. Đây là một giai đoạn nghỉ ngơi có chủ đích, nhằm tạm ngưng những cuộc phiêu lưu tốn kém trong chính sách đối ngoại, và trên hết, là để tránh xa thử thách cực kỳ nghiệt ngã mang tên chiến tranh giữa các cường quốc. Cả đồng minh lẫn kẻ thù đều có tiếng nói quyết định đối với sự thành bại của chiến lược này—đồng minh có tiếng nói bởi họ buộc phải chấp thuận một thỏa thuận mới, trong đó đòi hỏi họ phải đóng góp nhiều hơn; còn kẻ thù có tiếng nói bởi quốc gia đang thực hiện củng cố cần một khoảng thời gian tương đối ổn định để khôi phục lại vị thế của mình.
Một khởi đầu mới
Chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ hai đã theo đuổi những yếu tố then chốt của chiến lược củng cố—điều này được minh chứng rõ nét qua cả các văn kiện chiến lược lẫn hầu hết (dù không phải tất cả) các chính sách trọng yếu của chính quyền này. Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2025 (NSS) đã xác định một cách minh bạch rằng: sự chênh lệch ngày càng lớn giữa các nguồn lực (phương tiện) và các mục tiêu (mục đích) của Hoa Kỳ—vốn là điểm khởi đầu cho bất kỳ chiến lược củng cố nào—chính là vấn đề cốt lõi chi phối toàn bộ nghệ thuật quản trị quốc gia của Hoa Kỳ. NSS đã đề xuất một chương trình phục hưng quốc gia, trong đó thực hiện việc tái cân bằng các cam kết đối ngoại của đất nước, đồng thời thực hiện những khoản đầu tư mang tầm thế hệ vào các năng lực cốt lõi trong nước, nhằm mục đích gia tăng tương quan sức mạnh của Hoa Kỳ so với đối thủ chính là Trung Quốc theo thời gian.
Tương tự, Chiến lược Quốc phòng Quốc gia năm 2026 (NDS) đánh dấu một bước chuyển mình mang tính lịch sử—và mang những nét tương đồng đến ngạc nhiên với cách tiếp cận của Đô đốc Fisher vào năm 1904. Giống như Fisher, Thứ trưởng Quốc phòng phụ trách Chính sách Elbridge Colby—kiến trúc sư trưởng của NDS—đã sở hữu tầm nhìn xa để nhận thấy rằng quốc gia của ông về cơ bản vẫn chưa sẵn sàng đối mặt với một mối đe dọa chủ chốt mới; đồng thời ông cũng có đủ dũng khí để xây dựng một chiến lược hoàn toàn mới mẻ, dám đi ngược lại với dòng chảy chính trị chủ lưu đương thời. NDS kêu gọi tập trung mạnh mẽ hơn vào khu vực Tây Bán cầu và Trung Quốc; thực hiện việc cắt giảm có kiểm soát các nỗ lực của Hoa Kỳ tại châu Âu và Trung Đông; đồng thời triển khai một chương trình đầy tham vọng nhằm huy động tối đa các nguồn lực thuộc tổ hợp công nghiệp-quốc phòng của Hoa Kỳ.
Cả NSS lẫn NDS đều vận hành dựa trên một logic chung: logic của sự đánh đổi. Bằng cách chuyển trọng tâm khỏi các ưu tiên chính sách lâu đời tại châu Âu và Trung Đông, họ chấp nhận những rủi ro lớn hơn tại các khu vực này. Bằng cách gây sức ép buộc các đồng minh phải thực hiện sự có đi có lại (tính tương hỗ) cao hơn trong lĩnh vực an ninh và thương mại, họ chấp nhận nguy cơ nảy sinh những rạn nứt trong các mối quan hệ này. Bằng cách ủng hộ một mức độ "chung sống chiến lược" nhất định với hai đối thủ lớn là Trung Quốc và Nga, họ đi ngược lại quan điểm truyền thống của giới tinh hoa chính trị, vốn cho rằng cần phải kiềm chế cả hai cường quốc này cùng một lúc.
Ngay cả trước khi công bố các văn kiện chiến lược nói trên, chính quyền Trump đã bắt đầu giảm bớt gánh nặng vận hành thường nhật đối với sức mạnh của Hoa Kỳ, đồng thời củng cố lại những nền tảng sức mạnh cốt lõi của đất nước. Chính quyền này đã tìm cách cắt giảm các cam kết mang tính di sản tại những khu vực địa bàn nước ngoài không thuộc diện ưu tiên, thông qua việc rút bớt quân số Hoa Kỳ tại Syria và cắt giảm viện trợ quân sự cho Ukraine. Họ đã cắt giảm chi tiêu dành cho viện trợ nước ngoài và các tổ chức quốc tế, đồng thời tăng cường nguồn lực cho công tác bảo vệ biên giới Hoa Kỳ, chống buôn bán ma túy, cũng như hỗ trợ các chính quyền thân thiện tại khu vực Mỹ Latinh và Nam Mỹ nhằm ngăn chặn sự bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc và Nga tại đây. Những nỗ lực của chính quyền nhằm buộc Venezuela phải khuất phục, cũng như việc theo đuổi các lợi ích của Hoa Kỳ tại Greenland, đều tuân theo một tư duy chiến lược mang tính "củng cố nội lực"; tư duy này cũng được phản ánh trong các nỗ lực của họ nhằm tái định hình mối quan hệ với các đồng minh của Hoa Kỳ. Họ đã gây sức ép thành công buộc các đồng minh châu Âu phải tán thành mục tiêu chi tiêu quốc phòng đạt mức 5% trong khuôn khổ NATO; vào đầu năm 2026, chính quyền này đã phác thảo một kế hoạch cải tổ chiến lược toàn diện đối với liên minh này, theo đó sẽ chuyển giao gánh nặng phòng thủ thông thường sang cho các quốc gia châu Âu đảm nhận. Song song với đó, họ đã sử dụng các biện pháp thuế quan như một công cụ đàm phán nhằm thiết lập các thỏa thuận thương mại mới với các đồng minh, đồng thời kêu gọi các cam kết đầu tư trong nước nhằm thúc đẩy quá trình tái công nghiệp hóa của Hoa Kỳ; tính đến nay, tổng giá trị của các cam kết đầu tư này đã lên tới 5 nghìn tỷ đô la. Các biện pháp thuế quan đã mang lại nguồn thu khoảng 200 tỷ đô la, và nếu tiếp tục được duy trì, chúng có thể giúp gia tăng thêm ước tính 5,2 nghìn tỷ đô la vào nguồn thu ngân sách của Hoa Kỳ trong thập kỷ tới.
Giống như Nixon, Donald Trump đã tìm cách thiết lập sự hòa dịu với các đối thủ lớn. Đối với Nga, chính quyền của ông đã theo đuổi con đường ngoại giao nhằm chấm dứt cuộc chiến tại Ukraine, đồng thời thực hiện các bước đi song hành (bao gồm ngoại giao về giá dầu và bịt kín các kẽ hở trong lệnh trừng phạt năng lượng) để gây áp lực buộc Nga phải tìm lối thoát. Đối với Trung Quốc, chính quyền đã sử dụng sự kết hợp giữa gây áp lực và ngoại giao bền bỉ nhằm tái cân bằng quan hệ thương mại theo hướng có lợi cho Hoa Kỳ, mà không gây ra sự đổ vỡ đột ngột có thể dẫn đến những cú sốc kinh tế nghiêm trọng hoặc đối đầu quân sự. Mặc dù các điều khoản về một cấu trúc thương mại mới với Trung Quốc vẫn đang trong quá trình đàm phán, nhưng tiến trình theo đuổi cấu trúc này hoàn toàn nhất quán với tư duy củng cố vị thế—tức là tìm cách chung sống hòa bình với một đối thủ lớn nhằm tranh thủ thời gian và sắp đặt các nền tảng cần thiết (bao gồm mở rộng sản xuất bán dẫn, đưa chuỗi cung ứng về nước, và tăng cường năng lực khai thác khoáng sản thiết yếu) để tạo dựng một vị thế vững mạnh hơn trong tương lai.
Trên mặt trận đối nội, chính quyền đã nỗ lực chấn hưng nền kinh tế thông qua việc khuyến khích tái đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nội địa. Bên cạnh việc tìm cách giảm thuế quan đối với hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ, chính quyền còn mở rộng các khoản tín dụng thuế cho những ngành công nghiệp chiến lược, cắt giảm các quy định cấp phép môi trường rườm rà gây cản trở các dự án công nghiệp, và cấp vốn cho các trung tâm đầu tư công nghệ cao. Chính quyền đã khởi xướng các cuộc cải cách trong quy trình mua sắm quốc phòng—ưu tiên trao hợp đồng cho các công ty khởi nghiệp thương mại giàu tính sáng tạo—và công bố thêm nhiều hợp đồng dài hạn nhằm đảm bảo việc sản xuất liên tục các hệ thống vũ khí đang có nhu cầu cấp thiết nhất. Chính quyền cũng đã đề xuất tăng 50% ngân sách quốc phòng và sử dụng các sắc lệnh hành pháp để thúc đẩy việc đầu tư mạnh mẽ hơn vào năng lực sản xuất quân sự.
Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2015, một phần ba số lượng việc làm trong ngành sản xuất của Hoa Kỳ đã bị mất đi.
Chính quyền cũng tìm cách đẩy nhanh tốc độ đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực công nghệ—những lĩnh vực sẽ đóng vai trò quyết định kết quả cuộc cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Chiến lược về trí tuệ nhân tạo (AI) của chính quyền đã nới lỏng các rào cản pháp lý vốn kìm hãm những bước đột phá, đẩy nhanh quy trình cấp phép cho các trung tâm dữ liệu AI, mở cửa các vùng đất thuộc quyền quản lý liên bang để xây dựng những cơ sở điện toán siêu quy mô, huy động nguồn vốn đầu tư tư nhân khổng lồ vào các cơ sở hạ tầng AI, đồng thời khởi động tiến trình mở rộng lưới điện quốc gia nhằm đảm bảo nguồn năng lượng dồi dào cho các trung tâm dữ liệu có quy mô rộng bằng nhiều dãy phố cộng lại.
Nằm ở nền tảng của tất cả những bước đi này là một nỗ lực phối hợp nhằm khai thác triệt để hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Hoa Kỳ. Chính quyền Trump đã dỡ bỏ các quy định hạn chế đối với hoạt động sản xuất và xuất khẩu nhiên liệu hóa thạch, mở cửa các vùng đất thuộc quyền quản lý liên bang cũng như các khu vực ngoài khơi cho hoạt động thăm dò, đồng thời tăng cường nguồn vốn đầu tư cho công nghệ làm giàu uranium. Vào năm 2025, sản lượng dầu thô của Hoa Kỳ đã đạt mức cao kỷ lục, và sản lượng khí tự nhiên hóa lỏng của nước này thậm chí còn vượt qua tổng sản lượng của ba nhà sản xuất lớn nhất tiếp theo cộng lại.
Vẫn còn phải chờ xem cuộc chiến tại Iran sẽ tác động như thế nào đến chiến lược này. Nếu Hoa Kỳ có thể nhanh chóng hoàn thành các mục tiêu quân sự trọng yếu—bao gồm việc phá hủy năng lực hạt nhân của Iran, cũng như làm suy yếu kho tên lửa đạn đạo và nền tảng công nghiệp của quốc gia này—thì gánh nặng phải đối phó đồng thời trên nhiều mặt trận sẽ được giảm bớt, nhờ vào việc vô hiệu hóa một cách hữu hiệu kẻ thù yếu thế nhất trong số ba đối thủ chính của đất nước. Tuy nhiên, ngay từ lúc này, cuộc chiến đã làm cạn kiệt kho vũ khí của quân đội Hoa Kỳ, đồng thời làm suy giảm mức độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng này trong trường hợp nổ ra chiến tranh với Trung Quốc. Một cuộc xung đột kéo dài nhiều tháng, hoặc đòi hỏi phải triển khai bộ binh tham chiến trên thực địa, sẽ làm xói mòn tiến trình củng cố chiến lược; bởi lẽ nó sẽ tiêu hao sinh lực và ngân khố của Hoa Kỳ, đồng thời châm ngòi cho tình trạng giá năng lượng leo thang dai dẳng, lạm phát gia tăng, tăng trưởng kinh tế trì trệ và gây ra những phản ứng tiêu cực trong xã hội.
Trước đây, các chiến lược củng cố quyền lực cũng từng phải đối mặt với những ngã rẽ đầy cam go tương tự. Hoàng đế Hadrian từng phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng tại vùng Levant—vốn đòi hỏi phải điều động nhiều quân đoàn lê dương đến ứng cứu và suýt chút nữa đã bùng phát thành một vấn đề đa mặt trận. Vào thời của Đô đốc Fisher, người Anh đã phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng tại châu Á, Bắc Phi và vùng Balkan—những sự kiện suýt chút nữa đã làm chệch hướng kế hoạch tập trung lực lượng hải quân của ông. Chính quyền Nixon cũng từng phải đối mặt với vòng xoáy leo thang căng thẳng tại Việt Nam—tình thế suýt chút nữa đã ngăn cản họ thực hiện việc tái ưu tiên cho khu vực châu Âu. Trong tất cả các trường hợp kể trên, giới lãnh đạo đều đã xử lý thành công các cuộc khủng hoảng mà không để chúng làm phá vỡ logic cốt lõi của chiến lược tổng thể. Đối với Hoa Kỳ ở thời điểm hiện tại, việc quản lý cuộc khủng hoảng này đồng nghĩa với việc tận dụng bất kỳ thành quả nào đạt được tại Iran để thực sự hạ thấp mức độ ưu tiên dành cho khu vực Trung Đông trong giai đoạn sắp tới.
Không đau thương, không thành quả
Giống như mọi chiến lược khác, việc củng cố lực lượng luôn đi kèm với những rủi ro. Quả thực, chiến lược này đòi hỏi sự sẵn lòng chấp nhận những rủi ro rõ ràng trong ngắn hạn để đổi lấy những thành quả dài hạn. Những rủi ro này được chia thành hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất là việc các đối thủ nhận diện được mục đích cốt lõi của chiến lược, từ đó đẩy nhanh các kế hoạch gây hấn của họ. Cụ thể, Trung Quốc có thể nhìn thấy một "cửa sổ cơ hội" và tìm cách chiếm lấy Đài Loan. Tương tự, Nga có thể tìm cách lợi dụng sự cắt giảm nỗ lực của Hoa Kỳ tại châu Âu trước khi việc chuyển giao gánh nặng trách nhiệm cho các đồng minh được hiện thực hóa hoàn toàn. Cả hai nhóm rủi ro này đều gia tăng mức độ nguy hiểm nếu cuộc chiến tại Iran càng kéo dài.
Những người chỉ trích chiến lược của ông Trump thuộc phe cánh hữu "diều hâu" lập luận rằng việc ưu tiên khu vực Tây Bán cầu và Trung Quốc sẽ làm suy yếu năng lực quân sự của Hoa Kỳ trong việc ngăn chặn các đối thủ tại những khu vực tác chiến khác. Một số người kêu gọi Hoa Kỳ nhanh chóng mở rộng quy mô lực lượng vũ trang sao cho đủ sức đương đầu với hai hoặc nhiều cuộc chiến cùng lúc (qua đó quay trở lại với tiêu chuẩn cũ là "2 hoặc 2,5 cuộc chiến"), đồng thời tái trang bị và hiện đại hóa kho vũ khí hạt nhân của quốc gia này. Mặc dù về mặt lý thuyết, giải pháp này có vẻ đầy sức hấp dẫn, song nó đòi hỏi một khoản vay công khổng lồ bổ sung. Hơn nữa, giải pháp này cũng không tính đến việc Hoa Kỳ sẽ thực hiện các cam kết hiện có của mình như thế nào trong suốt nhiều năm cần thiết để hoàn tất quá trình tăng cường lực lượng quy mô lớn như vậy. Việc xác định thứ tự ưu tiên là một điều tất yếu, và nó cần phải được giải quyết ngay từ bây giờ—một cách tự nguyện và dựa trên cơ sở lý trí.
Nhóm rủi ro thứ hai liên quan đến các đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ—những bên có thể không thấu hiểu hoặc không bị thuyết phục bởi chiến lược củng cố lực lượng này; họ có thể nhìn nhận chiến lược đó như một động thái "co cụm" hay thậm chí là sự thù địch, và phản ứng theo những cách gây cản trở khả năng hiện thực hóa các lợi ích của chiến lược mà Washington đang theo đuổi. Một số nhà phê bình thuộc phe cánh tả cáo buộc rằng, bằng việc từ bỏ các thành tố chủ chốt của cái gọi là "trật tự quốc tế dựa trên luật lệ", chính quyền ông Trump sẽ khiến Hoa Kỳ đánh mất cơ hội gặt hái những lợi ích từ sự hợp tác toàn cầu. Họ lo ngại rằng các đồng minh có thể đi đến kết luận rằng Washington đang từ bỏ vai trò là một bên cung cấp an ninh đáng tin cậy, và do đó sẽ tìm cách thắt chặt quan hệ với Bắc Kinh và Moscow.
Tuy nhiên, cũng giống như phe "diều hâu", những nhà phê bình này lại có xu hướng phóng đại tính bền vững và khả năng duy trì hiệu quả của hiện trạng (status quo). Họ coi "trật tự" là một thứ có giá trị nội tại và là mục đích tự thân, mặc dù chính những yếu tố cấu thành nên trật tự đó—như các thỏa thuận thương mại mất cân đối, làn sóng di cư ồ ạt và các quy tắc xuyên quốc gia vốn để Trung Quốc gần như không bị ràng buộc—đã làm xói mòn quyền lực của Hoa Kỳ. Mặc dù đúng là các quốc gia thường có xu hướng tái định hình liên kết khi những cấu trúc cũ không còn phục vụ lợi ích của họ nữa, nhưng thực tế địa chính trị hiện nay nhiều khả năng sẽ ngăn cản một cuộc tái định hình mang tính nền tảng. Tại nhiều khu vực, bao gồm cả khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, các đối tác của Hoa Kỳ thiếu vắng một điểm tựa thay thế cho an ninh khu vực. Hơn nữa, sự phụ thuộc của các quốc gia NATO vào công nghệ và kế hoạch quốc phòng của Hoa Kỳ đảm bảo một mức độ lệ thuộc nhất định—điều mà những bài diễn văn kêu gọi gia tăng chủ quyền cho châu Âu cũng không thể xóa bỏ được. Ngay cả Liên minh Châu Âu (EU)—dù sở hữu sức mạnh thương mại to lớn—cũng phải đối mặt với những giới hạn thực tế trong việc tăng cường quan hệ chiến lược với Trung Quốc. Thị trường nội địa rộng lớn và mang tính hướng nội của châu Âu không thể hấp thụ hết lượng hàng hóa từ một đối tác xuất khẩu khác—và điều ngược lại cũng đúng. Thậm chí, sự xuất hiện của một cú sốc kinh tế mới—xuất phát từ tình trạng dư thừa năng lực sản xuất đang bùng nổ tại Trung Quốc—có thể sẽ đẩy EU xích lại gần Hoa Kỳ hơn.
Tuy nhiên, các liên minh vẫn đóng vai trò quan trọng, và Washington không thể chỉ dựa vào những lực lượng cấu trúc mang tính tự phát để duy trì sự gắn kết của chúng. Việc khai thác tối đa hiệu suất từ các đồng minh là yếu tố thiết yếu để củng cố thành công các liên minh này. Phong cách đàm phán cứng rắn của ông Trump với các đồng minh—vốn từng khiến nhiều nhà quan sát thuộc giới tinh hoa lo ngại—lại là điều cần thiết để thúc đẩy họ thực hiện những hành động mà lẽ ra họ sẽ không làm. Giờ đây, chính quyền của ông cần phải kéo các đồng minh xích lại gần mình hơn. Một phương cách để đạt được điều đó là cải tổ NATO theo định hướng mà ông Colby đã đề xuất trong bài phát biểu tại Brussels hồi tháng Hai: theo mô hình này, các đồng minh châu Âu sẽ quay trở lại tập trung vào nhiệm vụ phòng thủ lãnh thổ, đổi lại họ sẽ nhận được sự bảo đảm về mặt chiến lược và hạt nhân từ phía Hoa Kỳ—một khái niệm có nhiều nét tương đồng với "Học thuyết Guam" của Tổng thống Nixon. Tại cả châu Âu lẫn châu Á, mục tiêu chung có thể là tích hợp nền tảng công nghiệp quốc phòng của Hoa Kỳ với các đồng minh nhằm đạt được năng lực đẩy mạnh sản xuất các loại đạn dược thiết yếu khi cần thiết.
Cách tốt nhất để giữ chân các đồng minh là thường xuyên, mạch lạc và đầy sức thuyết phục giải thích cho họ hiểu lý do tại sao Hoa Kỳ lại thực hiện những thay đổi, cũng như những thay đổi đó sẽ mang lại lợi ích cho chính họ như thế nào. Đó chính xác là điều mà chính quyền của ông Trump đã bắt đầu thực hiện. Ông Colby đã trình bày cụ thể những lập luận mang tính thực tiễn này vào tháng Hai vừa qua. Vài ngày sau đó, Ngoại trưởng Marco Rubio đã trình bày lập luận mang tính văn minh tại Hội nghị An ninh Munich, trong đó khẳng định rằng sự "phục hưng" sức mạnh của Hoa Kỳ là điều kiện tiên quyết để bảo vệ phương Tây. Việc duy trì những thông điệp này—đồng thời hành động một cách thực dụng nhằm hỗ trợ các đối tác triển khai kế hoạch tăng cường năng lực quốc phòng của họ—sẽ giúp xoa dịu những xung đột tất yếu nảy sinh trong quá trình ưu tiên hóa các mục tiêu.
Trở lại nền tảng vững chắc
Ông Trump đã thực hiện những bước đi quan trọng nhằm đưa Hoa Kỳ vào lộ trình củng cố vị thế. Chính một số đặc điểm từng khiến giới phê bình lo ngại nhất—tư duy khác biệt về mặt khái niệm và tốc độ thay đổi chính sách chóng mặt của ông—lại đóng vai trò then chốt trong việc lay chuyển hệ thống chính trị Hoa Kỳ, cũng như các đồng minh của nước này, giúp họ chuyển sang một tâm thế đầy tính cấp bách. Giờ đây, Hoa Kỳ cần kiên định với lộ trình đã chọn bằng cách duy trì sự ổn định tối đa tại các vùng biên giới, đồng thời sử dụng một cách khôn ngoan khoảng thời gian mà tiến trình củng cố mang lại để tăng cường nền tảng sức mạnh của quốc gia. Quan trọng nhất là Hoa Kỳ tuyệt đối không được để cuộc chiến tại Iran biến thành một vũng lầy sa lầy. Ngay cả một cuộc chiến khu vực quy mô nhỏ, nếu bị kéo dài, cũng có thể làm chệch hướng toàn bộ tiến trình củng cố này.
Washington cũng cần vận dụng tối đa công cụ ngoại giao để duy trì và—trong những giới hạn nhất định—mở rộng bầu không khí hòa dịu (détente) mà ông Trump đang nỗ lực thiết lập với Nga và Trung Quốc. Chính sách hòa dịu không hề báo hiệu sự yếu thế, cũng giống như nền hòa bình mà Hoàng đế Hadrian từng thiết lập với Đế chế Parthia trước đây vậy; mục tiêu của chính sách này là kiềm chế các đối thủ không theo đuổi những chiến lược tối ưu của họ, đồng thời giải phóng không gian để Hoa Kỳ có thể tự do thực hiện chiến lược tối ưu của chính mình.
Đối với Nga, Washington nên tiếp tục duy trì chiến lược "song hành" hiện tại, kết hợp giữa ngoại giao và gây sức ép. Mục tiêu đặt ra là chấm dứt cuộc chiến với một "vùng đệm" Ukraine vẫn còn nguyên vẹn—nằm ngay bên ngoài vành đai an ninh chính thức của Hoa Kỳ—với sức mạnh đủ để ngăn chặn đà bành trướng của Nga, đồng thời (cùng với nỗ lực tái vũ trang của NATO) chuyển hướng sự chú ý của Nga sang các vùng lãnh thổ phía Đông, nơi Trung Quốc đang thâm nhập ngày càng sâu rộng.
Washington cần những đồng minh có khả năng tự bảo vệ bản thân, đồng thời góp phần gia tăng sức mạnh tổng thể cho Hoa Kỳ.
Nước này nên tiếp tục bác bỏ những nỗ lực của Nga nhằm thiết lập một khuôn khổ an ninh toàn diện mới tại châu Âu—một động thái mà rốt cuộc sẽ chỉ có tác dụng hút toàn bộ nguồn lực của Moscow quay trở lại hướng Tây. Tuy nhiên, Washington lại nên khuyến khích các sáng kiến mới trong lĩnh vực kiểm soát vũ khí. Do tác động của cuộc chiến tại Ukraine, Nga sẽ buộc phải cắt giảm ngân sách dành cho kho vũ khí hạt nhân để chuyển sang tái thiết lực lượng quân sự thông thường. Đây chính là cơ hội để Hoa Kỳ điều chỉnh lại các khuôn khổ kiểm soát vũ khí cũ—vốn được thiết lập vào thời điểm Hoa Kỳ chỉ phải đối mặt với duy nhất một đối thủ lớn—nhằm bổ sung thêm yếu tố cần thiết là kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ cũng cần nỗ lực theo hướng thu hẹp phạm vi và khuôn khổ của cuộc cạnh tranh song phương. Thay vì đặt mục tiêu "thống trị tuyệt đối" (primacy) làm trọng tâm cho sức mạnh của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á, nước này nên tiếp tục chú trọng vào chiến lược "răn đe bằng cách từ chối" (deterrence by denial). Cần ưu tiên tương tác với Bắc Kinh trên lĩnh vực thương mại, với mục tiêu đạt được một sự "giảm nhiệt" địa kinh tế mới—vốn không đi tới mức cắt đứt hoàn toàn quan hệ—đồng thời thiết lập các rào cản trong những lĩnh vực công nghệ cao nhằm bảo vệ các lợi thế cạnh tranh then chốt.
Song hành với sự phát triển của trụ cột thương mại, Washington cũng nên sẵn sàng xem xét việc bổ sung một cấu phần an ninh vào mối quan hệ Mỹ-Trung. Chẳng hạn, Hoa Kỳ và Trung Quốc cần tiến hành những cuộc thảo luận sâu rộng hơn về các hệ lụy chiến lược của những công nghệ không gian và an ninh mạng mới nổi—vốn tiềm ẩn nguy cơ leo thang căng thẳng một cách nhanh chóng. Chính quyền Trump cũng hoàn toàn đúng đắn khi chú trọng phát triển các cơ chế quản lý khủng hoảng mới, nhằm đảm bảo rằng những sự cố hay tai nạn nhỏ lẻ sẽ không bị đẩy đi quá xa, dẫn đến những cuộc xung đột ngoài ý muốn.
Washington cần kết hợp các nỗ lực ngoại giao tiếp cận với các đối thủ cùng với một nỗ lực toàn diện nhằm chuyển đổi các liên minh của mình thành những cấu trúc trưởng thành và gắn kết chặt chẽ hơn. Mục tiêu trước mắt cần là phát triển các liên minh có khả năng giảm bớt gánh nặng phải ứng phó đồng thời trên nhiều mặt trận của Hoa Kỳ, bằng cách đóng góp lớn hơn đáng kể vào an ninh truyền thống tại các khu vực tương ứng của họ. Điều này đồng nghĩa với việc các chính quyền Hoa Kỳ trong tương lai sẽ phải gây sức ép buộc các đồng minh không chỉ thực hiện những cam kết đáng hoan nghênh về việc tăng chi tiêu quốc phòng, mà còn phải đạt được những mục đích thực sự mà khoản tiền đó hướng tới—đó là nâng cao mức độ sẵn sàng chiến đấu, gia tăng kho dự trữ khí tài, và cải thiện năng lực tác chiến tổng thể.
Hoa Kỳ buộc phải đối mặt với những sự đánh đổi khó khăn trong vấn đề chi tiêu.
Vượt xa hơn thế, Hoa Kỳ nên đặt mục tiêu đưa các liên minh của mình đạt đến một tầm mức mà tại đó, các đồng minh không chỉ tự bảo vệ bản thân hiệu quả hơn, mà còn chủ động củng cố nền tảng sức mạnh của chính Hoa Kỳ. Hoa Kỳ cần những đồng minh sẵn sàng mở cửa thị trường nhằm hỗ trợ tiến trình tái công nghiệp hóa của mình, đồng thời tiếp tục ủng hộ đồng đô la giữ vững vị thế là đồng tiền dự trữ hàng đầu thế giới; những đồng minh có nền công nghiệp quốc phòng được kết nối và đồng bộ hóa với nền công nghiệp của Hoa Kỳ trong một cấu trúc liên kết chặt chẽ; và những đồng minh có các quy định về công nghệ giúp thúc đẩy, thay vì kìm hãm, sự đổi mới sáng tạo của Hoa Kỳ trong các lĩnh vực như Trí tuệ Nhân tạo (AI). Để đạt được kết quả này sẽ cần nhiều thời gian, đồng thời đòi hỏi một "thỏa thuận lớn" được điều chỉnh lại với các đồng minh—một thỏa thuận chính thức hóa nguyên tắc có đi có lại trên mọi phương diện, từ an ninh cho đến thương mại; nhờ đó, nguyên tắc này không chỉ dừng lại ở mức một hệ quả nhất thời nảy sinh từ các lời đe dọa áp thuế, mà trở thành một phần nền tảng vững chắc cho mối quan hệ giữa các bên.
Thách thức cam go nhất sẽ đến từ nội bộ. Con đường nhanh nhất khiến Hoa Kỳ tự làm chệch hướng tiến trình củng cố sức mạnh của chính mình chính là việc quay trở lại với những thói quen cũ—những thói quen từng dẫn đến tình trạng "vươn quá tầm" (overextension)—chẳng hạn như việc quá chú trọng vào mục tiêu thiết lập quyền bá chủ quốc phòng trên phạm vi toàn cầu; quay lại với các thỏa thuận thương mại thiếu tính tương hỗ; bám víu vào những mục tiêu xuyên quốc gia vốn xa rời lợi ích cốt lõi của dân tộc; theo đuổi công cuộc kiến thiết quốc gia và thúc đẩy dân chủ với một sự nhiệt huyết mang nặng tính truyền giáo; hoặc quay lại với những chính sách kinh tế khiến tình trạng "rỗng ruột" của vùng trung tâm nước Mỹ ngày càng trầm trọng hơn. Hoa Kỳ sở hữu những lợi thế nội tại to lớn so với các đối thủ cạnh tranh, và quốc gia này cũng nắm trong tay những nguồn lực sức mạnh dồi dào hơn nhiều so với Đế chế La Mã hay Vương quốc Anh ngay cả trong thời kỳ đỉnh cao của họ. Tuy nhiên, gánh nặng nợ công hiện tại đã trở thành một "tảng đá đeo chân" (albatross) đối với Hoa Kỳ. Suy cho cùng, không thể né tránh một thực tế hiển nhiên rằng Hoa Kỳ buộc phải đối mặt với những sự đánh đổi đầy khó khăn trong vấn đề chi tiêu ngân sách. Trong bối cảnh chính trị nội bộ đang bị phân cực sâu sắc như hiện nay, thật khó để hình dung việc thực hiện được điều đó. Tuy nhiên, một điểm khởi đầu lý tưởng sẽ là xây dựng được sự đồng thuận chung về chiến lược "củng cố sức mạnh" (consolidation)—cùng với những hệ quả tất yếu đi kèm của nó: tái cân bằng các cam kết ở nước ngoài và chấn hưng sức mạnh ngay tại quê nhà. Suy cho cùng, lối thoát tối ưu cho vấn đề nợ nần chính là sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn—điều mà chỉ có thể đạt được thông qua sự kết hợp mang tính tự củng cố của chiến lược "hợp nhất" (consolidation), bao gồm việc bãi bỏ các quy định rườm rà, đầu tư trọng điểm và gia tăng sản lượng năng lượng.
Nếu Hoa Kỳ có thể kiên định với con đường hợp nhất này, thì khoảng một thập kỷ sau, quốc gia này có thể sẽ thấy mình đang ở trong một tình thế được cải thiện vượt bậc. Khi đó, Hoa Kỳ sẽ sở hữu một nền kinh tế thịnh vượng được tiếp sức bởi nguồn năng lượng dồi dào và giá rẻ, một nền tảng sản xuất vững mạnh, cùng một lĩnh vực Trí tuệ Nhân tạo (AI) không hề thua kém bất kỳ ai. Quốc gia này cũng sẽ có những đồng minh đầy tự tin, sở hữu các lực lượng quân sự hùng hậu—những lực lượng đã thay đổi một cách căn bản cán cân quyền lực tại các khu vực trọng yếu trên thế giới, đồng thời giúp Hoa Kỳ thoát khỏi những khía cạnh tồi tệ nhất của "vấn đề tác động đồng thời" (simultaneity problem). Hoa Kỳ cũng sẽ sở hữu một kho vũ khí sâu rộng hơn, được hậu thuẫn bởi một nền công nghiệp Mỹ đã được hồi sinh—một nền công nghiệp ít phụ thuộc hơn vào đối thủ chính của mình trong việc phát triển các loại thuốc cứu sinh, cung cấp năng lượng cho nền kinh tế quốc gia, hay tìm kiếm nguồn nguyên liệu phục vụ cho chiến tranh. Một nước Mỹ như thế sẽ thực sự tìm lại được luồng sinh khí mới với tư cách là một cường quốc—và sẽ ở vào vị thế đủ sức đảm bảo cho công dân cũng như các đồng minh của mình sự tiếp nối của nền an ninh và sự thịnh vượng mà họ đã quen hưởng thụ, kéo dài mãi tới tận sâu bên trong thế kỷ hai mươi mốt.
A. WESS MITCHELL hiện là Giám đốc kiêm Đồng sáng lập của tổ chức Marathon Initiative, đồng thời là tác giả cuốn sách *Great Power Diplomacy: The Skill of Statecraft From Attila the Hun to Kissinger* (Ngoại giao Cường quốc: Nghệ thuật Trị quốc từ Attila người Hun đến Kissinger). Từ năm 2017 đến 2019, ông từng đảm nhiệm chức vụ Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách khu vực Châu Âu và Á-Âu trong chính quyền đầu tiên của Tổng thống Trump.
https://www.foreignaffairs.com/united-states/trump-grand-strategy-consolidation-wes-mitchell
***
A Grand Strategy of Consolidation
How Trump Can Revitalize American Power
Christian Gralingen
The country’s new defense strategy envisioned a dramatic shakeup. It prioritized the homeland and repositioned forces that had patrolled distant frontiers for nearly a century. It handed the task of securing farther-flung defensive perimeters to allies, many of which appeared unprepared to take on the burden. Establishment experts were appalled. Hawks warned that the new strategy would embolden adversaries and advocated for the old approach of being strong everywhere at once.
The year was 1904, and the country was the United Kingdom. It faced a dilemma broadly similar to the one the United States now confronts. Its empire was the world’s strongest power. Its navy had more warships than the next two largest navies combined. But its strategic situation was deteriorating. Britain’s economic primacy was beginning to slip as rising powers surpassed it in industrial production. Imperial Germany was building a blue-water fleet. France and Russia were mounting fresh challenges to British power in Africa and Asia. The United States and Japan, new rivals, were pursuing dominance over their regions. British leaders had a choice: they could keep trying to outgun all these competitors or try something new.
The country’s top admiral, John “Jacky” Fisher, opted for the latter course. He outlined a strategy to shore up the British position that could be characterized as consolidation. Consolidation is when a state focuses on its foremost interests while ramping up national resources to increase the power at its disposal over time. This was not retrenchment or acquiescence to national decline. Fisher decided that instead of trying to maintain all of the British Empire’s far-flung naval stations, he would prioritize the waters adjacent to the British Isles to deter Germany, the United Kingdom’s top threat. To cover the gaps this created elsewhere, he aimed to rely on regional allies, such as Japan and France, that British diplomats were courting. By doing so, he hoped to buy time for the United Kingdom to mobilize its powerful industries and stay ahead of its rivals in leading technologies.
The strategy was controversial. But it allowed the United Kingdom to achieve what the Prussian military theorist Carl von Clausewitz called the “highest and simplest law of strategy”: concentration. By focusing limited military resources on the main theater, the United Kingdom alleviated the multifront pressure on its empire and put itself on a stronger footing for the coming confrontation with imperial Germany.
The United States is at a similar juncture today. For three and a half decades, it has maintained peace and sustained influence in all the world’s major regions without difficult tradeoffs. It continued to assume it can do so even as the country’s relative economic strength decreased and rival military buildups eroded its superiority. As a consequence, the United States now faces a serious misalignment between its national power and the strategic objectives to which it has become accustomed.
As the United Kingdom did in Fisher’s time, the United States needs to embrace a strategy of consolidation. The second Trump administration has taken significant steps in this direction, undertaking ambitious domestic reforms to expand national power with respect to China. The war it launched with Iran in February could advance consolidation if it remains narrowly scoped, but it could undermine the strategy if it becomes protracted. Going forward, Washington must fully commit to the consolidation blueprint; future administrations need to stay the course to ensure the strategy bears fruit. That means not getting sucked into big wars or lulled back into old policy habits that reinforce the U.S. strategic predicament. If it focuses on consolidation, the United States has a historic chance to regain its bearings as a great power and prevail in a sustained competition with China, the most powerful adversary in U.S. history.
Spread too thin
American power is overextended. The country’s commitments exceed the financial and military resources at its disposal. This overextension—which is plainly visible to its citizens, its allies, and its adversaries—resulted from shifts in the international balance of power but also from past U.S. policy choices. The collapse of the Soviet Union left the United States with no peer competitor. Washington reacted by cutting defense spending while expanding its military operations worldwide. After the 9/11 attacks in 2001, it launched large, sustained deployments in Afghanistan and Iraq and military operations in more than a dozen other countries.
The financial and human costs of these wars are well documented. Less publicly appreciated is the fact that the United States undertook 30 years of continuous expeditionary warfare while allowing the structural foundations of its military power—its defense industrial base, shipbuilding capacity, and nuclear capability—to wither. Peripheral wars neither substantially increased the United States’ access to resources nor even, as their architects hoped, expanded the number of U.S.-aligned democracies. Instead, they depleted U.S. strength in countless ways, including by deferring military modernization, shrinking the Pentagon’s arsenal, and driving long-term sovereign debt so high that it hobbled Washington’s ability to invest in the country’s future.
Economic overextension is another self-inflicted wound. U.S. military operations since 2001 added $8 trillion to the national debt. In that same period, entitlement spending increased by over $2 trillion until, by 2024, it accounted for 51 percent of the federal budget. A string of government bailouts, including the stimulus responses to the 2008–9 global financial crisis and the COVID-19 pandemic, added a further $7 trillion to the debt—a sum comparable to the total amount that the United States spent during World War II. Already, the United States pays more to service its past borrowing than to fund its defense.
The U.S. military can no longer fight more than one major rival at a time.
A final self-inflicted wound is social in nature. The country’s breathtaking fiscal expansion coincided with a deindustrialization that buoyed stock markets but gutted working-class communities that, for generations, had depended on well-paying manufacturing jobs. Between 2000 and 2015, more than 60,000 U.S. factories closed and a third of the country’s manufacturing jobs were lost. In Rust Belt communities, wages declined, unemployment rose, and, for middle-aged men, life expectancies fell. Drug overdose deaths and suicides rose nationwide.
External factors have also helped spread the United States too thin. As the country grew weaker, its field of competitors was expanding. Thirty years ago, the United States faced no peer adversaries. Today, it faces a full peer, China, and an emboldened Russia, as well as threats from Iran, North Korea, and a bevy of nonstate actors. China’s power has increased spectacularly. In 1991, its GDP was $2 trillion in inflation-adjusted dollars. In 2024, it was $37 trillion, an increase of 1,500 percent. China has used its growing wealth to mount a historic military buildup. Between 1991 and 2023, it expanded defense spending from $23 billion (in today’s dollars) to more than $300 billion, a 1,300 percent increase. In 2024 alone, a single Chinese shipbuilder produced more ships than the United States has built since 1945.
The three most recent U.S. National Defense Strategies have made it clear that the U.S. military is no longer postured or equipped to fight more than one major rival at a time. Like the United Kingdom in the early twentieth century, the United States faces the danger of a war on multiple fronts that would be beyond its immediate ability to handle—what the Pentagon calls the “simultaneity” problem.
In sum, the United States faces more numerous enemies and greater internal constraints than it did either during the Cold War or in the post–Cold War period. It has a military that, until recently, was principally configured for peripheral expeditionary warfare rather than for conflict with a peer opponent and debt overhangs that preclude it from borrowing at the levels required for a major war. The gulf between Washington’s means and the ends toward which it may soon need to apply these means is only growing.
Recharging the batteries
The goal of consolidation is to narrow the gap between a state’s means and ends by systematically increasing the former and limiting or redefining the latter. It revolves around the idea that a great power can replenish its strength by confronting hard decisions, with a view to improving its power position relative to where it otherwise would have been. In practice, that means proactively accepting strategic tradeoffs as a necessary evil in the short term while vigorously renovating underlying structural factors—technology, alliances, industrial production—to alleviate or even transcend those tradeoffs over the long haul.
Consolidation is not the same as retrenchment. Both are responses to overstretch. But they differ in the basic problem they aim to address and the end goal they attempt to achieve. Retrenchment occurs when a great power believes that its core is so depleted that no changes, however creative, will allow it to maintain its old position. The great power’s goal is to give up what it holds as a way of reducing the burden. By contrast, consolidation proceeds from the premise that a great power’s core of strength remains viable but has been mismanaged in ways that undercut its potential. Here, the great power’s goal is to preserve and replenish what it has by reweighting its external obligations and mobilizing its resource base.
Many of history’s most successful consolidations were undertaken by great powers at their zenith that needed a period of focused recuperation to gain a second wind. A classic example is the Roman Empire during Hadrian’s reign. Immediately before he became emperor in AD 117, Rome had embarked on wars that extended its power deeper into eastern Europe, the Caucasus, and the Middle East. Although these campaigns were militarily successful, they overextended the Roman army and depleted the empire’s coffers. Hadrian consolidated by disgorging his predecessor Trajan’s conquests and fortifying a defensible perimeter along the Roman Empire’s natural borders: the Rhine, Danube, and Euphrates Rivers. He negotiated a peace with Rome’s top adversary (the Parthian empire in present-day Iran), delegated more to allies, and ramped up domestic economic and administrative reforms. The result was a new golden age.
The United States pays more to service past borrowing than to fund its defense.
Nearer to the present, U.S. President Richard Nixon embarked on a form of consolidation in the late 1960s and early 1970s, when the United States was war-weary but not in true decline. Nixon’s goal was to refocus Washington on its main contest with the Soviet Union. Like Hadrian and Fisher, he pursued détente with rivals and shifted security burdens to allies, such as by adopting the Guam Doctrine, which held Asian partners responsible for their own conventional defense. He paired these moves with an ambitious program of economic reform, renegotiating trade relations with allies, expanding domestic energy production, and investing in U.S. infrastructure and technological innovation. This eased fiscal pressures, increased exports, and allowed the United States to refocus its military expenditures.
Not all attempts at consolidation succeed. In the fifteenth century, the Ming dynasty attempted to consolidate Chinese power following a period of expansion. It strengthened the Great Wall and improved agriculture and infrastructure but failed to adequately reform governing institutions and shore up its defenses against the Mongols and the Manchu, eventually leading it to succumb to outside pressure and collapse. Between World War I and II, the British Empire attempted what on paper looked like an inspired attempt at consolidation that included imperial trade preferences (lowering tariffs within the empire and raising them for everyone else) and political devolution. By that point, however, the burdens on the empire were out of all proportion to its small resource base; the United Kingdom failed to stave off a multifront war and eventually slipped from the ranks of the great powers. In the late 1980s, the Soviet Union tried to consolidate by cutting its losses in Afghanistan, using arms control to reduce defense burdens, restructuring the economy, and opening up politically. But its government was ultimately too ideologically rigid to make the reforms it needed to save itself.
Certain basic conditions need to exist for consolidation to succeed. First, a state must have enough baseline power: the entire premise of consolidation is that undermobilized reservoirs of strength can be tapped with wiser management. When no amount of mobilization can possibly match the scale of external threats, retrenchment becomes inevitable. Second, a state has to possess the will and focus to carry out a consolidation strategy. That requires strong leaders who can force unpopular policies onto the agenda (and manage the distraction of inevitable crises) and a political system able to sustain long-term plans. Finally, consolidation takes time. It is a period of intentional respite from costly foreign policy adventures and, above all, the supremely taxing trial of great-power war. Both allies and enemies have a say in the strategy’s success—allies, because they must consent to a revised bargain that requires more from them, and enemies, because the consolidating state needs a period of relative stability to rehabilitate its position.
A fresh start
The second Trump administration has pursued key elements of consolidation, as demonstrated both by its strategic documents and by most, although not all, of its major policies. The 2025 National Security Strategy explicitly identified the widening gap between the United States’ means and ends—the starting point for any consolidation strategy—as the organizing problem in U.S. statecraft. The NSS proposed a program of national revitalization that rebalances the country’s external commitments and makes generational domestic investments in core capabilities to increase U.S. power relative to its main rival, China, over time.
Similarly, the 2026 National Defense Strategy marks a historic shift—and bears a striking resemblance to Fisher’s 1904 approach. Like Fisher, Undersecretary of Defense for Policy Elbridge Colby, the NDS’s chief architect, had the foresight to see that his country was fundamentally unprepared to face a new main threat and the courage to devise an original strategy that defied the political mainstream. The NDS calls for a stronger focus on the Western Hemisphere and China, a controlled reduction of U.S. efforts in Europe and the Middle East, and an ambitious program for mobilizing U.S. military-industrial resources.
Both the NSS and the NDS embrace a logic of tradeoffs. By shifting focus away from long-standing policy priorities in Europe and the Middle East, they accept greater risks in those theaters. By pressuring allies toward greater reciprocity in security and trade, they accept a risk of friction in these relationships. By supporting a degree of strategic cohabitation with major adversaries China and Russia, they go against the establishment wisdom that both powers must be simultaneously contained.
Even before it released these strategy documents, the Trump administration began reducing the day-to-day burden on U.S. power and replenishing the country’s core strengths. It has sought to reduce legacy commitments in nonpriority foreign theaters by drawing down the U.S. troop presence in Syria and trimming military aid to Ukraine. It reduced spending on foreign aid and international institutions and increased resources for securing the U.S. borders, fighting drug trafficking, and assisting friendly regimes in Latin and South America to stanch the spread of Chinese and Russian influence there. Its efforts to bring Venezuela to heel and pursue U.S. interests in Greenland both followed a consolidationist logic, as have its attempts to reconfigure its relations with U.S. allies. It successfully pressed European allies to endorse a five percent defense-spending target in NATO; in early 2026, it outlined a strategic overhaul of the alliance that would shift the conventional defense burden to European countries. In tandem, it has used tariffs to negotiate new trade agreements with allies and solicit domestic investment pledges that will boost U.S. reindustrialization; these pledges total $5 trillion so far. Tariffs have brought in around $200 billion and, if they remain in place, could add an estimated $5.2 trillion to the United States’ revenue over the next decade.
Like Nixon, Donald Trump has sought détente with major rivals. With Russia, his administration has pursued diplomacy aimed at ending the war in Ukraine and concurrent moves (including oil-price diplomacy and closing energy sanction loopholes) to pressure Russia toward an off-ramp. With China, it has used a combination of pressure and sustained diplomacy to attempt to rebalance trade relations in the United States’ favor without triggering a sudden deterioration that could lead to major economic shocks or a military confrontation. Although the terms of a new trade architecture with China are still being negotiated, the process of pursuing one is consistent with the consolidationist logic of seeking cohabitation with a major rival to buy time and get the pieces in place (including expanded semiconductor production, reshored supply chains, and deepened critical minerals capacity) for a stronger future position.
At home, the administration has pursued rejuvenation by encouraging reinvestment in domestic manufacturing. In addition to seeking lower tariffs on U.S. exports, it has expanded tax credits for strategic industries, reduced onerous environmental permitting frameworks for industrial projects, and funded high-tech investment hubs. It has launched military procurement reforms that prioritize contracts for innovative commercial startups and unveiled more long-term contracts to accomplish sustained production of the most-needed weapons systems. It has asked for a 50 percent increase in the defense budget and used executive orders to press for greater investments in military production capacity.
Between 2000 and 2015, a third of U.S. manufacturing jobs were lost.
The administration has also sought to accelerate innovation in tech sectors that will determine the outcome of the U.S. competition with China. Its artificial intelligence strategy lightened regulatory constraints that hamper breakthroughs, accelerated permitting for AI data centers, opened federal land for hyperscale computing facilities, marshaled large private investments in AI facilities, and began the process of expanding the power grid to secure abundant energy sources for data centers the size of several city blocks.
Undergirding all these moves is a coordinated effort to make fuller use of U.S. natural resources. The Trump administration has rolled back regulatory restrictions on the production and export of fossil fuels, opened federal lands and offshore areas for exploration, and increased funding for uranium enrichment. In 2025, U.S. production of crude oil hit record highs and its production of liquefied natural gas surpassed the output of the next three largest producers combined.
It remains to be seen how the Iran war will affect this strategy. If the United States can expeditiously accomplish its main military objectives of destroying Iran’s nuclear capabilities and degrading its ballistic missile arsenal and industrial base, it will ease the simultaneity burden by effectively neutering the weakest of the country’s three main adversaries. But already, the war has depleted the U.S. military’s arsenal and its readiness for a war with China. A conflict that stretches on for months or involves boots on the ground would undermine consolidation by draining U.S. blood and treasure and prompting sustained energy price hikes, higher inflation, subdued growth, and social blowback.
Earlier consolidation strategies came to similar forks in the road. Hadrian faced a crisis in the Levant that required the dispatch of several legions and could have become a multifront problem. In Fisher’s time, the British faced crises in Asia, North Africa, and the Balkans that could have derailed his plans for naval concentration. The Nixon administration faced an escalatory spiral in Vietnam that could have prevented it from reprioritizing Europe. In all these cases, leaders managed the crises without allowing them to subvert the central logic of their strategy. For the United States now, management will mean using any successes in Iran to truly deprioritize the Middle East going forward.
No pain, no gain
Like all strategies, consolidation comes with risks. Indeed, it requires a willingness to accept obvious near-term risk for long-term gain. These risks fall into two main categories. The first is that adversaries see the strategy’s underlying purpose and accelerate their plans for aggression. China, in particular, could see a window of opportunity and try to take Taiwan. Similarly, Russia might try to exploit a reduction of U.S. efforts in Europe before allied burden shifting has fully materialized. Both sets of risks increase the longer the Iran war goes on.
Critics of the Trump strategy on the hawkish right claim that prioritizing the Western Hemisphere and China will undercut the U.S. military’s ability to thwart rivals in the other theaters. Some call for the United States to quickly expand its armed forces to a size that could handle two or more wars simultaneously (thus returning to the old 2- or 2.5-war standard) while also recapitalizing the U.S. nuclear arsenal. Although it is conceptually attractive, this remedy would require immense additional public borrowing. And it does not account for how the United States would meet its existing commitments during the many years such a buildup would take to complete. Prioritization is a necessity, and it must be tackled now, voluntarily and logically.
The second set of risks has to do with U.S. allies and partners who could fail to understand or be convinced by a consolidation strategy, perceive it as retrenchment or even hostility, and respond in ways that hamper Washington’s ability to realize the strategy’s benefits. Some critics on the left allege that by abandoning key components of the so-called rules-based international order, the Trump administration will prevent the United States from reaping the benefits of global cooperation. They worry that allies may conclude that Washington is forfeiting its role as a reliable security provider and will seek closer relationships with Beijing and Moscow.
A U.S.–South Korean joint military exercise, Yeoncheon, South Korea, March 2026Kim Soo-hyeon / Reuters
Like the hawks, however, these critics tend to exaggerate the solvency and sustainability of the status quo. They treat “order” as something intrinsically valuable and an end in itself, even though elements of that very order—lopsided trade agreements, mass migration, and transnational protocols that left China largely unconstrained—have eroded U.S. power. Although it is true that states tend to realign when old structures no longer serve their interests, current geopolitical realities will likely prevent a foundational realignment. In many places, including in the Indo-Pacific, U.S. partners lack an alternative anchor for regional security. And the NATO countries’ reliance on U.S. defense technology and planning ensures a degree of dependence that cannot be undone by speeches advocating greater European sovereignty. Even the EU, for all its trading might, faces real limits on how much it can strengthen its strategic ties with China. Europe’s large, inward-turning domestic market cannot absorb the goods of a fellow exporter—and vice versa. If anything, the onset of a new economic shock from China’s burgeoning overcapacity may drive the EU closer to the United States.
Still, alliances matter, and Washington cannot rely on blind structural forces to hold them together. Getting optimal performance out of allies is essential to successful consolidation. Trump’s hard bargaining with allies—which alarmed so many establishment observers—was essential to get them to do things they otherwise would not have done. Now his administration must pull them closer. One way to do that is by revamping NATO along the lines Colby proposed in a February speech in Brussels: in such an arrangement, European allies would revert to focusing on territorial defense in exchange for U.S. strategic and nuclear backstopping, a concept broadly similar to Nixon’s Guam Doctrine. There as well as in Asia, the aim could be to integrate U.S. and allied defense industrial bases to acquire the capability to surge production for vital munitions.
The best way to keep allies on side is to explain to them frequently, coherently, and persuasively why the United States is making changes and how those changes will be in their interests, too. That is exactly what the Trump administration has started to do. Colby laid out the material case in February. A few days later, Secretary of State Marco Rubio laid out the civilizational case at the Munich Security Conference by arguing that a “renewal” of U.S. power is a prerequisite to the defense of the West. Sustaining these messages, while working pragmatically to help partners implement their planned defense buildups, will mitigate the inevitable friction that comes with prioritization.
Back on sollid ground
Trump has taken important steps to set the United States on a path to consolidation. Some of the very qualities that have most alarmed his critics—his conceptual heterodoxy and the speed with which he changes policies—have been crucial to jar the U.S. system, as well as U.S. allies, into a mindset of urgency. The United States now needs to stay the course by keeping its frontiers as stable as possible and wisely using the time that consolidation buys to strengthen the U.S. power base. Most important, it must not allow the war in Iran to become a morass. Even a small regional war, if it becomes protracted, could derail consolidation.
Washington must also wield diplomacy to the fullest extent possible to sustain and, within certain limits, widen the détentes Trump is trying to build with Russia and China. Détente does not signal weakness any more than Hadrian’s peace with the Parthians did; the goal is to constrain rivals from pursuing their optimal strategies while freeing the United States to pursue its optimal strategy.
With Russia, Washington should continue its current dual track of diplomacy and pressure. Its aim should be to end the war with an intact Ukrainian glacis, just beyond the formal U.S. security perimeter, that is strong enough to impede Russia’s expansion and (together with NATO’s rearmament) deflect Russia’s attention to its eastern territories, where China is making deep inroads.
Washington needs allies that can defend themselves and augment American power.
It should continue to spurn Russia’s push for a new, comprehensive security settlement in Europe, which would only have the effect of drawing Moscow’s energies westward. But it should encourage new initiatives in arms control. Because of the Ukraine war, Russia will need to redirect spending from its nuclear arsenal toward rebuilding its conventional forces. This presents an opportunity to revise old arms frameworks, minted when the United States had only one major rival, to account for the need to deter China.
With China, the United States should likewise strive to constrain the frame of competition. It should continue to emphasize deterrence by denial instead of primacy as the goal of U.S. power in Asia. It should engage Beijing primarily on trade, with the goal of reaching a new geoeconomic détente that stops short of full decoupling while erecting restrictions in high-tech areas to protect key competitive advantages.
As the commercial plank develops, Washington should be willing to explore a security component to U.S.-Chinese relations. The United States and China need to have deeper discussions about the strategic implications of emerging space and cyber technologies, for example, which harbor rapid escalatory potential. The Trump administration is also right to emphasize the development of new crisis-management mechanisms to ensure that small incidents and accidents do not spiral into unintended conflict.
Washington must pair its diplomatic outreach to rivals with a comprehensive effort to convert its alliances into more mature and well-integrated structures. The proximate goal should be to develop alliances that can reduce the United States’ simultaneity burden by making substantially bigger contributions to conventional security in their respective regions. That will mean that future U.S. administrations will have to pressure allies not only to fulfill their laudable pledges to increase defense spending but to accomplish what this money is meant for—improved readiness, deeper magazines, and greater warfighting prowess.
The United States must confront hard tradeoffs in spending.
Beyond that, the United States should want to get its alliances to a point where allies not only defend themselves more effectively but also actively augment the U.S. power base. It should want allies that provide market access to support U.S. reindustrialization while continuing to support the dollar as the premier reserve currency; whose defense industries are aligned with U.S. industries in integrated structures; and whose tech regulations boost rather than hamper U.S. innovation in fields such as AI. Getting to this outcome will take time and require a revised grand bargain with allies that codifies reciprocity across the board in both security and trade so that reciprocity is not just a transient byproduct of tariff threats but part of the foundation of the relationship.
The hardest challenge will be internal. The quickest way for the United States to derail consolidation would be to lurch back toward the habits that led to overextension—fixating on achieving defense primacy worldwide, going back to nonreciprocal trade deals, latching back onto transnational causes that are detached from the U.S. national interest, pursuing nation building and democracy promotion with missionary zeal, or reverting to economic policies that accelerate the hollowing out of the American heartland. The United States has big built-in advantages over its rivals, and it has much deeper reservoirs of strength than either Rome or the United Kingdom did in their prime. But its debt has become an albatross. Eventually, there is no getting around the fact that the United States must confront hard tradeoffs in spending. That is difficult to envision in the current polarized setting. But a good starting point would be to develop a consensus on consolidation as a strategy and its corollaries of rebalancing commitments abroad and rejuvenation at home. Ultimately, the optimal way out of the debt problem is stronger economic growth—which can only be achieved by consolidation’s self-fortifying mix of deregulation, focused investment, and increased energy production.
If the United States can stay the consolidationist path, it could, a decade or so down the road, find itself in a much-improved state of affairs. It would have a thriving economy fueled by abundant cheap energy, a strong manufacturing base, and an AI sector second to none. It would have confident allies fielding serious militaries that have fundamentally altered the balance of power in the world’s major regions and have freed the country from the worst aspects of the simultaneity problem. It would have a deeper arsenal of weapons, backed by a reanimated American industry that is less reliant on its main rival to develop lifesaving medicines, power the U.S. economy, or acquire the materials to wage war. That United States would have truly gained a second wind as a great power—and be in a position to ensure its citizens and allies a continuation of the safety and prosperity to which they have become accustomed well into the twenty-first century.
A. WESS MITCHELL is Principal and Co-Founder of the Marathon Initiative and the author of Great Power Diplomacy: The Skill of Statecraft From Attila the Hun to Kissinger. From 2017 to 2019, he served as U.S. Assistant Secretary of State for Europe and Eurasia in the first Trump administration.
Nhận xét
Đăng nhận xét