3883 - “Trí thức” là gì? Ai là trí thức? (Phần 1)

Phạm Hồng Lam


Có những từ ngữ, những khái niệm nhiều người dùng một cách đương nhiên. Chẳng ai cần quan tâm tới nội dung ý nghĩa của chúng, vì xem ra đã rõ! Nhưng thực tế thì chẳng rõ gì cả. “Trí thức” là một trong những từ ngữ hay khái niệm đó.

Cuối tháng 11 năm 1989, tôi tình cờ gặp luật sư Nguyễn Mạnh Tường ở ngoại ô Paris. Chúng tôi cùng trọ trong một cái nhà để xe (garage) được biến cải thành chỗ nghỉ chân cho khách phương xa. Đó là lần đầu tiên ông được những người bạn cũ ở Pháp can thiệp để trở lại thăm bạn bè ở Paris.

Chúng tôi tâm sự tương đắc suốt hai buổi tối. Tôi đã ghi lại cuộc hạnh ngộ hôm đó và những gì biết về ông đăng trên nguyệt san Độc Lập số tháng 12/1989 tại Đức, về sau được trích in lại trong cuốn “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương” (California, 1990). Ông kể về cuộc đời hơn 40 năm bị bầm dập trong nước và nói nhiều về thái độ và tư cách sống của một người có học trong chế độ cộng sản.

Hôm chia tay, ông tặng tôi một cuốn sách với mấy dòng chữ: “À l´ami … avec mes meilleurs souhaits! Puisse-t-il conserver toujours son respect de l’honeur de l’intellectuel, son amour de la patrie et son goût de recherches!” (Tạm dịch: “Tặng anh bạn … với những lời chúc tốt đẹp nhất của tôi. Ước gì anh luôn giữ được lòng trọng danh dự của người trí thức, luôn giữ được lòng yêu tổ quốc và sở thích nghiên cứu”.

Luật sư Tường nói tới danh dự của người “Trí thức”. Theo ông, “Trí thức” là người có danh dự và biết bảo vệ danh dự của mình (danh dự đó từ đâu mà có, lại là một chuyện khác). Điều ông nói có dây mơ rễ má với mô hình Quân Tử của Nho học: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. (Giàu sang không đổ đốn, nghèo hèn không nhụt chí, không khuất phục trước uy quyền bạo lực – Mạnh Tử).

Giáo sư Nguyễn Khắc Dương, cựu quyền khoa trưởng Văn khoa Đại học Đà Lạt, thì lại nói: Việt Nam, hay rộng ra, Á Đông chỉ có Kẻ Sĩ với lý tưởng thành nhân, chứ không có “Trí thức” quan tâm tới việc tìm kiếm chân lý khoa học như ở Âu châu. Tóm lại, theo giáo sư Dương, Kẻ Sĩ là hiền nhân (homme de bien), “Trí thức” là bác học (homme de science).

Luật sư Tường nói tới cái Đức, giáo sư Dương tới cái Tài của một loại người. Nhưng suy tư của hai người vẫn còn ở trong truyền thống của một Nho gia. Nho gia là người không ngừng mở mang kiến thức và không ngừng tu đức để hoàn thiện bản thân.

Một dạo, 23 ông đảng viên già bên Trung Quốc ký tên vào một lá thư yêu cầu Cộng đảng cầm quyền cho tự do báo chí. Cùng lúc, bên Việt Nam 13 vị có bằng cấp cao trên mạng “Bô-xít” cùng ký vào một lá thư yêu cầu Cộng đảng ở Hà Nội ngừng khai thác Bô-xít. Truyền thông người Việt hải ngoại tức tốc ban cho các vị trong hai nhóm đó danh hiệu “Trí thức”. Hồi đó, giám mục Nguyễn Thái Hợp cũng được khen là “Trí thức”, khi ông yêu cầu toà án Đà Nẵng hoãn xử vụ chính quyền đuổi dân cướp đất ở Cồn Dầu.

Những trường hợp trên đây cho thấy, hễ ai có chút bằng cấp hoặc có một chút địa vị xã hội mà nói được một câu hay làm được một việc gì hợp ý thiên hạ, thì người ta gán cho nhãn “Trí thức”.

Cũng vì sự quyến rũ và bở ăn của nhãn đó, nên các quan đồng chí ở Việt Nam đua nhau sắm bằng cấp giả. Khiêm tốn như đồng chí thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì chút cử nhân nội hóa, máu mặt như các đồng chí Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc Sở Văn hóa Phú Thọ, Cao Minh Quang, thứ trưởng Bộ Y tế, thì phải là tiến sĩ ngoại mới toại nguyện! Nhạc sĩ Tô Hải báo động, chưa bao giờ giáo sư, tiến sĩ đầy dẫy trong các tổ chức nhà nước như hiện nay. Xưa ra ngõ gặp anh hùng, nay ra đường dẫm lên tiến sĩ!

Người ta sắm bằng cấp, trước mắt để được thăng quan tiến chức và thêm tiền, quan trọng hơn là để được ngồi vào bàn “Trí thức”. Là vì họ nghĩ rằng, “Trí thức” đơn giản là người có bằng cấp. Đấy cũng là lối nghĩ phổ thông hiện nay, không chỉ nơi người Việt. Các kiểu nói phổ cập như: Thì cùng một đám trí thức với nhau cả! Giới trí thức trong nước…! Ông đó là một đại trí thức (vì ông có nhiều bằng cao) v.v. phản ảnh lối nghĩ đó.

Ở đây, đúng ra phải nói như thế này: “Thì cùng một đám học thức với nhau cả”, “Giới học thức trong nước” hoặc nếu muốn nhấn mạnh, đó là những người có bằng cấp cao thì “giới khoa bảng trong nước”.

Đó là một ngộ nhận hoặc hiểu sai quan trọng về khái niệm “Trí thức”.

Hiện nay, không riêng gì người Việt, báo chí phương Tây nhiều khi cũng dùng tĩnh từ “trí thức” (intellectuel) một cách đại trà, không phân biệt, để chỉ chung lớp người có học thức hay học vấn cao. Nhưng, khi dùng từ này như một danh từ, để xác định một ai đó là người ‘Trí thức‘, thì ý nghĩa của nó không còn đơn giản.

Thật ra, “Trí thức” trước hết là một lối sống. Nó là một sự chọn lựa hay thái độ sống, như giáo sư Nguyễn Hưng Quốc nhận định: “Thông minh là do phú bẩm, kiến thức là do thủ đắc, kỹ năng là do rèn luyện, trí thức là do chọn lựa”.

Yếu tố quyết định nơi thái độ sống này là sự dấn thân cho một mục tiêu cao đẹp, chứ không phải tấm bằng.

Nguồn gốc và sự phát triển của khái niệm “Trí thức”

“Trí thức” là chữ người Việt dùng để chuyển nghĩa chữ “Intellectuel” của Pháp. “Trí thức” bước vào Việt Nam trong thời gian giữa hai thế chiến, với việc Pháp thay thế nền Nho học bởi Tân học.

Tại Pháp trước năm 1894, là năm xảy ra vụ án khiên cưỡng đối với đại uý Alfred Dreyfus gốc Do-thái, từ ngữ Intellectuels cũng đã xuất hiện đây đó, nhưng chẳng mang nghĩa gì đặc biệt. Việc toà án Paris bất chấp luật pháp quy kết Dreyfus vào tội gián điệp, đã tạo ra nhiều giao động trong dư luận Pháp. Cái án đó chỉ là giả tạo. Thật ra là vì Dreyfus và đồng bạn quảng bá và kêu gọi dân chủ. Cũng giống như bản án “trốn thuế” của Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải ở Việt Nam!

Đặc biệt sau khi nhà văn Émile Zola viết lên bản cáo trạng (“J´ accuse”, 1898) về vụ xử án kia, thì xã hội Pháp phân thành hai chiến tuyến. Phía theo và phía chống Dreyfus kịch liệt tấn công nhau. Những cuộc sát phạt sau đó không còn hạn chế trong vòng Paris nữa, mà vượt cả biên giới Pháp ra các nước Âu châu.

Phe theo Dreyfus từ đây dùng chữ “Intellectuels” làm biểu tượng nhận diện phe mình. Họ tự gọi mình là “Intellectuels”. Họ tung lên khẩu hiệu đó trong mọi cuộc tranh luận, kẻ nó lên cờ, viết lên báo. Họ ra “Manifeste des intellectuels” (Tuyên Ngôn Của Các “Trí thức”) để cổ xúy cho các mục tiêu họ theo đuổi: “Dân chủ”, nghe theo “lương tâm”, chỉ tuân phục thứ “chân lý” có nền tảng “khoa học”. Họ còn tự nhận mình là đệ tử trung thành, đấu tranh cho”nhân quyền” đã được xướng lên từ cuộc cách mạng 1789.

Tóm lại, thoạt kỳ thủy “Trí thức” đồng nghĩa với tiến bộ, biết điều, chân chính, dân chủ, tự do.

Đối lại, phe “lề phải” theo nhà nước lúc đó ra sức chửi đám “Trí thức” là bọn “phản quốc”, bọn “Do-thái”, “vô tài bất tướng”, “đĩ điếm”, “không tim thiếu óc”, “vô bản năng”…

Như đã nói, cuộc tranh luận đã vượt ra ngoài biên giới Pháp. Ở Pháp, dù phe “lề phải” đa số không ngừng đập “Trí thức”, nhưng họ cũng không để “mất trí” trong cuộc tranh luận. Nghĩa là họ vẫn công nhận nét đẹp đâu đó của “intellectuels”, khi họ vẫn tự nhận mình mới là “Trí thức” thứ thiệt, chứ không phải như kiểu của đám Dreyfus!

Đối lại, ở nước Đức bên cạnh, ít ra cho tới năm 1945, chữ Intellectuels không bao giờ mang nghĩa tích cực. “Trí thức” ở đây mang nội dung hoàn toàn tiêu cực. Nó là quan điểm nối dài của cánh “lề phải” bên Pháp.

Thời Đức quốc xã (*) của Hitler, “Trí thức” bị cho là bọn “vô cảm”, “Do-thái”, “ảo tưởng”, “bất tài vô trí”, đầu óc bị nhiễm độc vì ăn phải bã dân chủ và chủ hòa của báo chí Do-thái, nên cần phải bị khử trừ. Hitler đã có lần giả mếu máo trước hàng vạn “bò đỏ” của ông: Rất tiếc là chúng ta phải cần Trí thức, vì nay mai chúng có thể bị tiêu diệt hết, chẳng còn mống nào để mà xem! Tóm lại, theo Đức quốc xã, “Trí thức” là thứ ngoại lai, không phải của Đức (undeutsch). Đức quốc xã dùng khái niệm này như một dụng cụ để diệt đối thủ, diệt những ai mà chúng không thích.

Sau thế chiến II, các chính thể dân chủ ở Đức đã cố gắng tìm lại ý nghĩa cho các khái niệm đã bị Đức quốc xã xuyên tạc. Số phận Intellectuels nhờ đó hết còn tiêu cực. Nhưng để tránh từ ngữ “ngoại lai” này, người Đức thường thay thế nó bằng chữ “Geistiger” (người trí tuệ, người có đầu óc).

“Trí thức” trong thế giới cộng sản

Chuyện kể: Đảng ra lệnh cho nhà nước xây một trung tâm sinh hoạt. Căn lầu 4 tầng “hoành tráng” không kém gì lâu đài “Con ngỗng trắng” (Neuschwanstein, nơi mỗi năm có cả triệu du khách tới tham quan, do ông vua cuối cùng của bang Bayern xây trên đỉnh núi tại miền Nam nước Đức trong thế kỷ 19). Tầng dưới căn lầu được dành cho các cháu nhi đồng, tầng kế cho các cán bộ, tầng ba cho các trí thức văn nghệ sĩ nhà nước, và tầng trên cùng cho các lãnh đạo Đảng và nhà nước. Nhưng, cũng như lâu đài Ngỗng Trắng ở Đức, trung tâm sinh hoạt kia không có một cầu tiêu nào cả.

Trước thắc mắc của nhân dân, khâu thiết kế giải thích: Tầng trệt không cần cầu tiêu, vì các cháu đã có bô đựng; tầng của cán bộ cũng không cần, vì bọn này suốt ngày lo đi cải thiện ở đâu, chứ chẳng bao giờ có mặt ở sở đâu; tầng cho trí thức văn nghệ sĩ cũng không cần, vì bọn này khi cần chúng ỉa lên mặt nhau, chứ đâu vào nhà xí; và tầng lãnh đạo lại càng không cần, vì đã có đám bưng bô đứng chực sẵn.

Câu chuyện có một điểm rất lạ: Dành cho giai cấp trí thức văn nghệ sĩ cả một tầng lầu! Một quan điểm hoàn toàn đi ngược lại giáo lý cộng sản chính thống. Cộng sản coi “Trí thức” là thành phần không sản xuất, chây lười lao động, dễ chao đảo, quen thoả hiệp, chủ bại, tiểu tư sản phản động, nguỵ và với đủ mọi thứ biếm ngữ đê tiện khác. Nói tóm lại, “Trí thức” là một cái bãi – hay nói đúng bài bản theo Lênin, là một giai cấp: Giai cấp “Trí thức” , nơi đó dùng để đổ tất cả những thứ rác rưởi bị xem là phản động chống lại Đảng, chống lại giai cấp vô sản, chống nhà nước của Đảng Cộng sản.

Cái nhìn tiêu cực về “Trí thức” được khởi đi từ Lênin. Ông này học được luận điệu của đám “lề phải”, khi đang chạy trốn nhà nước Nga ở Âu châu. Và ông đã biến luận điệu đó thành giáo lý cho phù hợp với giáo thuyết đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản.

Nhưng luận điệu của Lenin cũng chỉ là một thứ bình phong khiên cưỡng. Không có giới học thức bày đường chỉ lối, thì lấy ai mà vận dụng cơ bắp nông dân, lấy ai mà bày đường chỉ lối cách mạng cộng sản!

Nhà văn Phạm Thị Hoài có một nhận định thần sầu: “Cách mạng vô sản ở Việt Nam là một cuộc cách mạng do một nhóm trí thức lãnh đạo một nhóm nông dân đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp công nhân”! Nhưng bà Hoài cũng lầm to. Khi cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam được phát động, thì giai cấp công nhân chưa có mặt, và người ta đấu tranh là cho quyền lợi của “giai cấp vô sản”, chứ đâu cho các ông bà công nhân! Các khẩu hiệu chỉ là bánh vẽ.

Nhưng “giai cấp vô sản” là ai? Chẳng là ai cả! Đấy chỉ là miếng vải đỏ của mấy tay đấu bò Tây-ban-nha, nhằm kích động thú tính nơi con người. “Độc tài vô sản” có nghĩa là độc tài đảng trị. “Quyền lợi của giới vô sản” là quyền lợi của đảng. Mà đảng là ai? Rốt cục thì mọi lợi quyền đều vào tay nhóm lãnh tụ có học!

Chính sách truy diệt Trí thức kia được cụ thể hóa ở Việt Nam với khẩu hiệu “Trí, phú, địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ”; ở Cam-bốt qua Pôn-pốt với trên dưới hai triệu nhân mạng, đặc biệt là những người biết chữ. Ở Nga với 25 ngàn trí thức Ba-lan bị Stalin ra lệnh thủ tiêu và vùi chung ở cánh rừng Katyn. Ở Tàu với hàng triệu nạn nhân đặc biệt trong cuộc “cách mạng văn hóa”, là vì theo Mao, “Trí thức” không bằng cục phân, phân còn dùng được để bón ruộng! Một vài thí dụ tiêu biểu.

Tóm lại, đối với thành phần được/bị gọi là “Trí thức”, Cộng sản và Đức quốc xã có cùng một chính sách như nhau, dù ngôn từ khẩu hiệu có hơi khác.

(Còn tiếp)

_______

(*) Đức Quốc xã, tức Nazi, viết tắt của chữ Nationalsozialistisch. Tác giả Phạm Hồng Lam dùng cụm từ “Tộc-xã”, với lời giải thích như sau:

Hitler lập ra đảng Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei (NSDAP: Đảng Công Nhân Dân Tộc Xã Hội Chủ Nghĩa Đức). Chương trình hành động và ý thức hệ của Đảng này là Nationalsozialismus (gồm hai yếu tố: Nationalismus = chủ nghĩa dân tộc, đề cao chủng tộc Arian; chữ Nation ở Đức vốn có nghĩa là Dân Tộc, chứ không phải Quốc Gia; và yếu tố Sozialismus = đi theo Sozialistisch = đường lối xã hội chủ nghĩa, chứ không theo Sozial = đường lối xã hội (dân chủ) thông thường. Vì thế, tôi dịch National-sozialistisch là Tộc-xã, trong đó chữ Tộc nói lên khía cạnh đề cao chủng tộc.

Tuy nhiên, nhiều người hiểu cụm từ “tộc xã” là “công xã thị tộc”, tức thời Công xã nguyên thủy, là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử phát triển của loài người, kéo dài hàng triệu năm. Do vậy, để người đọc hiểu đúng ý tác giả, trong bài này và nhiều bài khác, chúng tôi thay thế cụm từ “tộc xã” của tác giả, thành cụm từ “Đức quốc xã”.

https://baotiengdan.com/2026/04/29/tri-thuc-la-gi-ai-la-tri-thuc-phan-1/

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?