1348 - Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi - Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 10)

George J. Veith - Trần Quang Nghĩa dịch

Trung tướng Nguyễn Đức Thắng

“LÚA GẠO CŨNG QUAN TRỌNG NHƯ SÚNG ĐẠN”

Với binh sĩ Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam, người Mỹ tạo một sức ép nặng nề lên Saigon phải bắt đầu tiến trình cam go là giành lại nông thôn. Vào tháng 12/1965, Thiệu ký một loạt sắc lệnh ban bố những chính sách, hướng dẫn, và ngân sách cho chương trình Xây Dựng Nông Thôn mới của Kỳ. Sau khi trở về từ hội nghị Honolulu vào tháng 2, một buổi họp được tổ chức vào đầu tháng 3/1966 tại Saigon nhằm giải thích với các tỉnh trưởng cách thức các đội Phát triển Nông thôn (PTNT) vừa mới thành lập sẽ đi xuống tận thôn làng và cải thiện những dịch vụ của chính quyền.

Ba ngàn tình nguyên viên PTNT đầu tiên vừa bắt đầu khóa huấn luyện tại một trường ở Vũng Tàu dưới quyền Đại tá Trần Ngọc Châu, nguyên tỉnh trưởng Kiến Hòa. Để phối hợp với bên Hoa Kỳ, vào ngày 28/3/1966, Tổng thống Johnson bổ nhiệm Robert Komer làm phụ tá đặc biệt cho tổng thống về việc bình định hoá ở Việt Nam. Nhiệm vụ của Komer là báo cáo về các chương trình khác của Hoa Kỳ nhằm hậu thuẫn cho việc bình định hoá.

.Đối với người Mỹ, cơ sở học thuyết của việc bình định hoá là trước tiên phải bảo đảm an ninh cho dân chúng chống lại sự tha hóa của Cộng sản. Sau đó, họ sẽ thuyết phục dân chúng hậu thuẫn một cách tích cực chính nghĩa Quốc gia bằng cách phân phát hàng hóa và dịch vụ như giáo dục, chăm sóc y tế. Chính quyền địa phương được cải thiện sau đó sẽ kết thúc nhiệm vụ. Thiệu và Kỳ, sốt sắng muốn hiện đại hóa đất nước, nhất trí với tiến trình này. Tuy nhiên, ở miền Nam còn tồn tại một quan niệm đối kháng với việc bình định hóa, một quan niệm ôm lấy những giá trị truyền thống tập trung vào các trách vụ cổ xưa của người cai trị và người bị cai trị. Việt Nam vẫn còn chịu ảnh hướng của Nho giáo, và việc thờ cúng tổ tiên, và một bản hợp xướng đang lớn giọng dần của những người Việt bảo thủ coi sự hiện diện của người Mỹ hạ thấp nền văn hóa của họ và tạo ra một xã hội tôn sùng vật chất, một xã hội xa vời với lý tưởng truyền thống. Bình định hoá, họ cho rằng, nên là vấn đề của chỉ riêng người Việt Nam, một vấn đề được tiến hành ở mức độ quần chúng.

Người ủng hộ hùng hồn nhất cho khuynh hướng này là Trần Ngọc Châu. Cha ông là một nhà nho nghiêm khắc, hun đúc con trai mình  bằng các phẩm chất này. Đối với Châu, sách lược bình định hoá tốt nhất không phải là ban phát hàng hóa vật chất mà là một cách tiếp cận dựa trên giá trị nêu bật “ý tưởng chinh phục người khác bằng sự thuyết phục hoặc làm gương mẫu.” Diệm, chẳng hạn, đã “đặt việc lãnh đạo của mình trên cơ sở Nho giáo là khi người có phẩm hạnh cao trị vì, đạo đức của họ sẽ phản ánh qua những hành động của chính quyền họ.”

Theo thế giới quan Khổng giáo, có bốn chức năng hoặc vai trò. Theo thứ tự quan trọng được cho là về phẩm hạnh đạo đức là sĩ, nông, công, và thương. Các sĩ quan được xem là khiếm khuyết về địa vị xã hội và dòng dõi, vốn là điều kiện lãnh đạo tối thiết trong xã hội Á châu. Châu tuyên bố rằng Kỳ là một minh họa hoàn hảo lý giải tại sao các nhà lãnh đạo miền Nam đã thất bại. Kỳ “thiếu một nền tảng vững chắc trong văn hóa Việt Nam và rèn luyện luân lý truyền thống và ít học vấn ngoài lãnh vực quân sự.” Theo quan điểm ông, các tướng lĩnh là những tay đầu sỏ chính trị thối nát khấu đầu trước người Mỹ, họ là những người đã “chấp nhận  lối sống ngoại bang quá lậm đến nỗi thiếu hiểu biết nhân dân mình.” Không có uy tín văn hóa và đạo đức gương mẫu, họ sẽ thất bại khi thuyết phục giới nông dân đồng nhất của cải của họ với chính nghĩa Quốc gia.”

Quan điểm màu hồng của Châu che lấp sự kiện rằng chỉ một số ít nhân vật ưu tú đã từng thực hành nghiêm nhặt nguyên tắc Nho giáo. Vì vậy, dựa việc bình định hoá vào điều kiện đạo đức là một thách thức đặc biệt khó khăn. Người Cộng sản cũng đã nỗ lực  theo một chương trình tương tự, yêu cầu các cán bộ  miền Nam phải đạo đức khuôn mẫu và làm gương. Về ý thức hệ, các cán bộ hiếm khi bàn luận chủ nghĩa Mác mà thay vào đấy chỉ làm nổi bật những lời ta thán tại địa phương và làm sâu sắc thêm tính bài ngoại tiềm tàng. Về kinh tế, lời kêu gọi chính của họ là cải cách ruộng đất, nhưng thành công đó nhanh chóng tiêu tan trước sự nổi giận của nông dân vì bị đánh thuế cao và bắt thành niên vào nghĩa vụ quân sự. Khi đã đạt được giới hạn của sự thuyết phục, cán bộ sẽ quay ra tổ chức quần chúng, đấu tố, và cuối cùng khủng bố để lung lạc nhân dân.

Châu cho rằng các tướng lĩnh võ biền như Nguyễn Đức Thắng đã sai lầm chấp nhận ước muốn nôn nóng của người Mỹ muốn nhanh chóng đạt kết quả. Theo Châu, Thắng “xem chương trình chỉ là bê tông, vật liệu…Quan điểm bình định hoá của họ thật đơn giản: gửi thêm vũ khí, chất hàng tiêu dùng bên trong và bao quanh làng ấp, thế là ‘được bình định hoá'”  Châu chỉ nhìn điều này dựa vào sự tin cậy trên dữ liệu và hàng hóa vật liệu mà thiếu suy xét đến điều thiết yếu hơn là việc thay đổi thái độ của con người. Đối với người Mỹ của thập niên 1960, say sưa với kỳ tích của công nghiệp hóa và học thuyết quản lý, cài thông số đạo đức vào phương trình bình định hoá là điều không thể hiểu được về mặt văn hóa. Khoa thống kê, vốn ban cho các nhân viên tài chính của chính quyền Hoa Kỳ một cái nhìn thấu suốt đo lường được, là một điều tai hại kể từ khi các khoản tài trợ và cung ứng nhân lực đi kèm với yêu cầu được kế toán để tính toán được mức độ tiến bộ. Mặc dù các con số trong kỷ nguyên Việt Nam thường được cho là bị bóp méo để cung cấp các chỉ dấu thành công, các người lên kế hoạch Mỹ không thể đo lường được tình hình hiện thời và soạn ra kế hoạch tiếp theo mà không có được thông tin chính xác. Sự chênh nhau không chỉ là sự khác biệt về tầm nhìn văn hóa mà còn là một tình huống hai bên có các chân lý đối chọi nhau. 

Xét thành công của Châu ở Tỉnh Kiến Hòa, những lập luận của ông có giá trị tới đâu? Không may, việc Châu bất mãn với thiết kế liên minh cho việc bình định hoá sớm khiến ông từ chức khỏi trại huấn luyện PTNT ở Vũng Tàu. Ra đi rồi, Châu không biết được Thắng đã thay đổi cách suy nghĩ của mình  Trong kế hoạch PTNT 1967, Thắng đã phát triển một quan điểm mới trung dung giữa việc đề cao đạo đức của Châu và nỗ lực thiên về vật chất của người Mỹ để cải thiện cuộc sống nông dân. Thắng nhấn mạnh rằng các cộng đồng địa phương nên hoạch định các dự án của mình rồi sau đó sẽ yêu cầu sự hỗ trợ của PTNT trong việc cung cấp vật liệu đồng thời cổ vũ nông dân tham gia vào chính trị và trung thành với Saigon. Hơn nữa, Châu bỏ qua những thay đổi trong xã hội miền Nam khi nó bước vào thế giới hiện đại. Trong khi những thái độ bảo thủ thường băng giá trước những đổi thay, thì nhiều dân đô thị nhanh chóng rũ bỏ lối sống cũ và đón nhận lối sống mới. Việc tiếp xúc với văn hóa Tây phương và đón nhận hàng hóa thương mại ồ ạt tràn vào đang biến đổi quan điểm của người thành phố. Trước đây, thứ bậc xã hội được xác định bằng hành vi hợp đạo Nho, nhưng vị thứ  bây giờ càng ngày càng được tính bằng số lượng tài sản, chủ nghĩa vật chất chỉ còn bị khinh thị bởi những tàn tích của chủ nghĩa bảo thủ.

Dù vậy, nông thôn chấp nhận việc Tây phương hóa chậm chạp hơn. Lời kêu gọi đoàn kết quốc gia của chính quyền đụng phải truyền thống của nông dân trước tiên phải lo lắng cho gia đình dòng họ rồi sau đó mới trung thành với nền cộng hòa xa lắc.  Tôn chỉ ai lo phận nấy thể hiện hoàn hảo tâm thức của người nông dân, khiến cho việc chính quyền muốn thay đổi thái độ của dân làng để tham gia vào nghĩa vụ dân sự là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, cho dù các viên chức chính quyền có năng lực và giỏi thuyết phục cỡ nào.

Việc bình định giờ đây trở nên quan trọng như việc đánh giặc. Một phần tư tổng ngân sách của USAID cho năm 1966 được dành cho miền Nam. Đó là “số tiền lớn nhất được chi tiêu cho một quốc gia trong bất kỳ năm nào kể từ khi Hoa Kỳ bắt đầu chương trình viện trợ nước ngoài vào năm 1948.” Với tình hình an ninh dần dần được cải thiện, các cố vấn Mỹ thúc ép đối tác Việt Nam của mình lợi dụng để áp dụng những chương trình bình định mới hoặc tăng tốc những chương trình hiện có. Một vài chương trình điện khí hóa và giáo dục nông thôn đang gặt hái kết quả, trong khi những chương trình khác như cải cách ruộng đất và cải tiến phương pháp canh tác cần phải có tình hình an ninh tốt hơn mới có thể áp dụng đại trà được. Các tổ chức Hoa Kỳ hỗ trợ gồm có giới quân sự, CIA, và USAID nhưng chương trình họ không được phối hợp, một điều bất lợi sẽ thêm tồi tệ khi binh lính Mỹ in dấu chân lên khắp vùng thôn quê. Chính quyền miền Nam giải quyết vấn nạn phối hợp vào giữa tháng 7 1966 bằng cách hòa nhập mọi nhiệm vụ bình định dưới quyền của Thiếu tướng Thắng. Bộ PTNT của ông tiếp nhận các chức năng bình định hoá được thì hành bởi các bộ Nội vụ, Canh Nông, và Công trình Công cộng.

Trong khi chuyển giao mọi nhiệm vụ bình định dưới quyền Thắng khiến bộ máy hành chính vốn có tiếng ù lì trở nên trôi chảy, Kỳ lại có một lịch trình bí mật cho một động thái. Đó là một nước cờ thí mở màn nhằm sa thải người sinh quán miền nam nhưng có tiếng là tham nhũng, Tổng trưởng Quốc phòng Nguyễn Hữu Có và Tư lệnh Quân đoàn IV Dặng Văn Quang, mà không gây ra mối bất mãn cho người miền nam. Kỳ đã thề sẽ loại trừ tham nhũng, và cả Có và Quang đều là các đích nhắm dễ dàng. Vì Thiệu và hai người đều là bạn lâu năm và đã cùng học nhiều trường với nhau, cả hai đều kêu gọi ông giúp đỡ. Thiệu từ chối nhưng ông nhắc nhở Kỳ rằng sau vụ khủng hoảng Phật giáo, đây là lúc không thích hợp để “bứt dây động rừng” và sa thải hai vị tướng.

Ông kín đáo khuyên Kỳ nên đợi đến sau cuộc bầu cử tháng 9 và kiên nhẫn xây  “một hàng rào quanh những người này, để khi Quang và Có bị loại ra sẽ không gây náo động. Nếu họ bị loại ra ngay lúc này,” Thiệu cảnh báo, “thì giải quyết được một vấn đề nhưng lại sinh ra hai vấn đề khác,” nghĩa là nó sẽ gây mối bất hòa cho người miền nam và có thể tạo ra sự chia rẽ trong nội bộ UBLĐQG. Dù có sức ép của người Mỹ phải quét sạch tham ô, hai nhà lãnh đạo cần phải hành động thận trọng, vì Saigon không cần một sự bùng nổ khác. Họ đang tung hứng yêu sách của ân nhân chống lại mối hiểm họa của sự chia rẽ nội bộ, một cuộc đấu tranh sẽ không bao giờ tiêu tán. Đó là một con đường vô cùng hẹp để đi trong thời bình nói gì đến thời chiến.

Dù các nhà lãnh đạo Saigon đều đặn và đôi khi chính xác bị lên án là xa rời nông thôn, điều đó không phải luôn đúng. Liên kết với người Mỹ, các kế hoạch đang được phát triển để cải thiện nông thôn một cách ấn tượng. Rõ ràng, để việc bình định hoá có kết quả, tình hình an ninh cần được cải thiện, vì các đơn vị Địa phương quân/Dân quân thiếu huấn luyện và trang bị kém, và họ thường rút về đồn khi đêm xuống, dân làng không có người bảo vệ. Ngoài việc tăng cường an ninh, trở ngại chính trong việc tiến hành bình định hoá ở mức độ làng ấp là thiếu thốn cán bộ tại chỗ có năng lực. Tuy nhiên, cho dù Saigon có thể đào tạo các cán bộ có năng lực, thì có ít người muốn  về công tác ở nông thôn vì sợ các đội ám sát và bắt cóc của Cộng sản. Theo báo cáo của chính quyền sáu tháng đầu năm 1966 có đến 420 viên chức địa phương bị bắt cóc hoặc sát hại. Cho dù có sự sút giảm đáng kể so với số 991 viên chức bị mất tích hoặc sát hại trong nửa đầu của năm 1965, CIA mô tả chiến dịch khủng bố nhằm “chứng minh cho dân chúng thấy rằng chính quyền không đủ sức mang lại an ninh cho những người đại diện họ và để hù dọa những ai lăm le muốn hợp tác với chính quyền.” Hơn nữa, không chỉ có những viên chức hành chính địa phương bị bao vây, các đơn vị Cộng quân cũng bắt đầu tấn công các trại tị nạn và các khu tái định cư nếu họ không chịu trở về dưới quyền kiểm soát của họ. Lấy một trong nhiều ví dụ, vào ngày 13/5, Cộng quân tấn công trại tị nạn An Thân ở Tỉnh Quảng Trị, sát hại 11 dân tị nạn, làm bị thương 13 người khác, và đốt rụi 249 nơi trú ẩn gia đình.

Với quân đội lo việc an ninh, các đội PTNT được giao nhiệm vụ hỗ trợ các viên chức địa phương tiến hành các chương trình của chính quyền. Khoá PTNT đầu tiên gồm khoảng 4,500 sinh viên tốt nghiệp vào ngày 21/5/1966, nhưng thành tích của các đội đầu tiên này khác nhau. Một số người tốt nghiệp thể hiện bản lĩnh xuất sắc trong khi số khác thì tầm thường. Cho dù có hội nghị tháng 3, các viên chức địa phương thường sử dụng sai mục đích các đội PTNT cho các nhiệm vụ an ninh hoặc lôi kéo họ vào vòng tham ô bằng cách chuyển các vật liệu xây dựng của viện trợ Hoa Kỳ ra bán lại ở thị trường chợ đen. Để chấn chỉnh tình trạng này, Thắng tổ chức các buổi sê-mi-na từ tháng 8-tháng 10 trong mỗi quân khu để nhắc nhở các tỉnh trưởng rằng đối với Saigon, “chương trình PTNT giờ đây còn quan trọng hơn việc hành quân và người Việt Nam phải tự mình lãnh trách vụ thi hành các chương trình này.” Thắng cũng có những hành động sửa sai bằng cách nhổ tận gốc những cán bộ PTNT tồi và chỉ thị cho các lãnh đạo tỉnh về vai trò thích đáng của đội. Ông cũng ra lệnh cho trường huấn luyện ở Vũng Tàu áp dụng những “bài học đã được học” cho khoá thứ hai, tốt nghiệp vào tháng 9. 

Một trong những chương trình PTNT quan trọng trong năm 1966 là chấn hưng giáo dục. Những chế độ miền Nam kế tiếp nhau đều nhận thức được rằng việc hiện đại hóa miền Nam phải cần đến hàng ngàn công nhân có học vấn. Trường học là một công cụ thiết yếu để xây dựng đất nước, và tỉ số mù chữ cao là trở ngại nghiêm trọng cho khả năng phát triển đất nước. Tuy nhiên, giáo dục hàng triệu nông dân vô học là một nhiệm vụ nặng nề. Theo một nghiên cứu của USAID, vào năm 1955, chỉ có 20 phần trăm học sinh có đủ điều kiện đến trường. Tỉ số này xuống đến 3 phần trăm vào trung học và ít hơn nữa vào cao đẳng. Hệ thống trường học của người  Pháp có mục tiêu hướng đến đào tạo nhóm phần tử ưu tú cai trị, không phải giáo dục đại chúng. Hơn nữa, các trường Pháp đều ở trong các thành phố, nên việc giáo dục chỉ hạn chế cho một nhúm người  hoặc có thể đạt được điểm số thật cao hoặc gia đình có đủ điều kiện cung ứng chi phí học tập.

Saigon lên kế hoạch mang đến nông thôn một nền giáo dục miễn phí ở mức độ thôn ấp, nhưng dù có những nỗ lực xuất sắc, số học sinh đi học chỉ cải thiện chút ít vì thiếu trường ốc, giáo viên, và ngân sách. Các quỹ của USAID giúp lấp đầy lỗ hổng. Chỉ tính riêng trong năm 1966, hơn 2,200 lớp học mới ở ấp được xây dựng sử dụng vật liệu Mỹ viện trợ dưới Chương trình Tự Hỗ trợ của Thắng. Cùng với đà gia tăng ngoạn mục trong số trường công, chính quyền cũng khuyến khích xây cất trường dạy nghề và trường tư để gầy dựng một dân tộc và lực lượng lao động có học vấn.

Tất nhiên, phải cần đến nhiều giáo viên hơn, và trong năm 1966, hơn 3,000 người được đào tạo để về công tác tại làng ấp. Trong số đó có nhiều phụ nữ, nêu bật sự thay đổi của vai trò nữ giới đang trỗi dậy, cũng làm bực mình các thành phần bảo thủ. Với phần đông nam thanh niên vào quán đội, phụ nữ nhanh chóng tham gia những lãnh vực nghề nghiệp mà trước đây chỉ dành cho nam giới. Trong khi truyền thông quần chúng thường mô tả những hậu quả xã hội xấu xa như nạn mãi dâm trong xã hội miền Nam do sự hiện diện đông đảo của người Mỹ, phụ nữ Việt đang gặt hái thành công trong thương trường và những ngành nghề khác. Đó là một trong vài biến đổi trong cộng đồng mà miền Nam đang trải qua do sức ép của chiến tranh và điều kiện sống và kinh tế đang thay đổi.

Vậy mà như mọi đất nước có chiến tranh đang trải qua sự đổi mới sâu sắc về xã hội, không có gì là trơn tru. Sĩ số học sinh tăng vọt buộc các trường ở Saigon phải dạy ba ca, nhưng ở nông thôn số học sinh đi học vẫn thưa thớt. Đánh nhau buộc phải đóng cửa trường, kết quả nhiều học sinh phải ở lại lớp. Lương giáo viên cực thấp, và còn bị Cộng sản hù dọa và tuyên truyền, dẫn đến sự thiếu hụt giáo viên được đào tạo. Còn nữa, trong khi việc cải thiện giáo dục không đều, nói chung nó vẫn là một thành tựu không được ca ngợi của Saigon.

Việc chăm sóc dân tị nạn vẫn còn là một chương trình sinh tử khác nhưng thường là tạm thời. Trong thời gian hai năm từ tháng 6 1964 đến tháng 6 1966, cuộc chiến đã tạo ra một triệu người tị nạn. Khoảng phân nửa phải tạm trú trong các lều tạm thời, trong nửa số còn lại hoặc trở về làng cũ hoặc được đi định cư nơi khác. Không may, thống kê chỉ phản ánh những người đã chính thức đăng ký xin hỗ trợ, còn lại hàng ngàn người không kể xiết  đã bỏ chạy về thành phố hoặc đã chuyển đến sống với người thân. Vào ngày 12/4/1966, giờ được tài trợ bởi Hoa Kỳ lẫn chính quyền, Ủy viên về Dân Tị nạn Bác sĩ Nguyễn Phúc Quế ra lệnh thành lập những trung tâm cứu trợ mới tại mỗi tỉnh. Biết rằng khó kiếm đủ người để công tác trong các văn phòng mới của mình, Bs Quế chính thức yêu cầu một thay đổi xã hội khác: ưu tiên nhận vào làm những cựu quân nhân và vợ các tử sĩ. Vào cuối hè, măc dù Quân đoàn I đang trải qua khó khăn trong việc trợ giúp người tị nạn do sự bùng dậy của Phật tử, cục tị nạn của Quế đã mở được 45 trung tâm tị nạn mới. Với số tiền dư dả của USAID, vào ngày ⅛, Bs Quế tăng chi trả mỗi ngày mỗi người từ 7 lên 10 đồng. Xét miền Trung khan hiếm đất đai, và thường không thể đưa gia đình về nhà cũ, chính quyền quyết định di dời dân tị nạn tình nguyện đến nơi ở mới xa hơn về phía nam. Nhóm di dời nội tỉnh đầu tiên như thế xảy ra vào ngày 17/5, khi Hải quan Mỹ chở 852 người tị nạn từ Tỉnh Phú Yên trên bờ biển đến Vịnh Cam Ranh, nơi có nhiều công trình xây dựng đang cần lao động.

.Cho dù những nỗ lực của Quế, vào cuối tháng 8, thêm 100,000 dân tị nạn khác đã lấp đầy danh sách của chính quyền. Hầu hết đều được cấp lều tạm trú, nhưng hệ thống vệ sinh  nghèo nàn trong trại mới đã quá tải. Bs Quế tìm cách mở rộng các dịch vụ y tế. Trong một thỏa thuận ký giữa Huế và Bộ Y Tế vào cuối tháng 10, những trang bị và nhân sự được bổ sung về các địa điểm. Tùy vào kích cỡ và địa điểm trại, những trạm khám bệnh mới được xây dựng với nhân viên y tế gồm một cô mụ vườn, một nhân viên y tế ấp, và một lao công. Với ý thức công binh xã hội, Quế ra lệnh ưu tiên thuê mướn nhân công dành cho “vợ góa và con côi của các chiến sĩ đã hy sinh cho đất nước.” Hơn nữa, vào giữa tháng 12, ông cũng bổ sung các giám thị nữ và nhân công nữ nhằm “mở rộng lãnh vực hoạt động Phúc lợi Xã hội để cải thiện cuộc sống trẻ em, thanh niên và phụ nữ tại các trại tị nạn.”

Cho năm 1967, Quế lên kế hoạch giảm thiểu đáng kể số người tị nạn bằng cách tái thiết các chương trình cấp tỉnh. Trong thư gửi đến các tỉnh trưởng vào cuối tháng 11 1966, Quế một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác chăm sóc người tị nạn: “Trong mối quan ngại đặc biệt của chính quyền là số người tị nạn Cộng sản đổ về ngày càng tăng… Một thắng lợi vinh quang của chính quyền trong cuộc chiến đấu này sẽ tạo nên một ảnh hưởng mạnh mẽ cho việc bình định hoá, cho phát triển kinh tế, và cho việc dân chủ hóa ở nông thôn.” Tiếc thay, dù có sự hỗ trợ  tài chính dồi dào từ Hoa Kỳ, nhưng vấn đề tị nạn thường ngốn hết tài nguyên quốc gia, và các ghi chép hỗn hợp của CQMN nhằm giám sát hàng trăm ngàn dân tị nạn trở thành cuộc thánh chiến cho những nhà lãnh đạo quốc hội như Thượng nghị sĩ Edward Kennedy (bang Mass.). Từ tháng 5 đến tháng 10 1967 Kennedy tổ chức một loạt buổi phúc trình quốc hội chỉ trích gay gắt công tác chăm sóc người tị nạn, một hình thức khiển trách miền Nam và cuộc chiến.

Ngoài việc cải thiện giáo dục và cứu trợ dân tị nạn, hai chương trình chủ yếu khác cho năm 1966 là điện khi hóa và cải thiện chăm sóc y tế. Các cuộc khảo sát do chính quyền và USAID tiến hành chỉ ra rằng nhu cầu dân quê mong muốn nhiều nhất là có điện về làng. Và để đáp ứng, Saigon ra tay hành động. Mạng điện về làng là một bước chủ chốt trong công tác cải thiện nền kinh tế nông thôn. Vào đầu tháng 3 1965, Thủ tướng Quát nhờ người Mỹ hoạch định một kế hoạch điện khí hóa nông thôn. Vào ngày 15/10/1965, chính quyền ký một thỏa thuận với USAID để khởi động dự án. Người Việt tạo ra một Liên hiệp Quốc gia Hợp Tác Xã Điện Lực để làm cầu nối giữa USAID và những hợp tác xã điện lực địa phương mới thành lập, hầu hết đều trong vùng châu thổ. Dù có nhiều trở ngại về vật tư, vào ngày 25/5/1966, Thắng ký một sắc lệnh cho 30 nhà máy phát điện sẽ khởi động Chương trình Điện khí hóa Nông thôn mới. Chẳng bao lâu Cộng sản chỉa mục tiêu phá hoại vào các đường dây tải điện.

Chăm sóc y tế cũng được chọn để nâng cấp. Miền Nam đã thừa hưởng một hệ thống y tế vô cùng thấp kém, nghĩa là, như hệ thống giáo dục, được thiết kế chủ yếu cho người Pháp và cư dân đô thị. Việc chăm sóc y tế ở nông thôn rất ngặt nghèo dẫn đến tử suất ở trẻ em rất cao. Các bệnh như sốt rét và lao phổi lan tràn. Hầu hết dân quê trông cậy vào thầy thuốc Đông y cổ truyền  sử dụng cây thuốc có tại chỗ, nhiều khi không hiệu nghiệm. Với nạn khan hiếm bác sĩ trầm trọng, phần đông được xung vào quân y, các đội thăm khám thuộc quân đội Hoa Kỳ và từ các quốc gia khác bắt đầu cung cấp chăm sóc y tế đến với dân quê. Trong nửa đầu của năm 1966, quân y Mỹ đã điều trị thuốc men cho hơn 2 triệu lượt người dân. Dần dần lòng tin vào lối chữa trị hiệu nghiệm của Tây y đã thấm nhuần vào giới nông dân.

Vào đầu tháng 6 1966, Thiếu tướng Thắng và Bộ Y Tế ký một thỏa thuận phát động Chương trình Phát triển Y Tế Nông thôn. Các nhân viên y tế địa phương được Mỹ huấn luyện các phương pháp sơ cứu căn bán và xây dựng các trạm y tế ở cấp làng và quận. Các bệnh viện tỉnh được mở rộng có thêm phòng giải phẫu. Một tiêu điểm là sức khỏe phụ nữ. Vào ngày 26/7, Thắng ra lệnh xây dựng 30 phòng hộ sinh mới tại 14 tỉnh. Bs Nguyễn Lê Hiếu, một bác sĩ người miền Nam công tác tại Bộ Y Tế vạch ra kế hoạch. “Các vấn đề đặc biệt về sức khỏe được nhắm đến,” ông lưu ý, “và những chương trình thích hợp được dựng lên để chiến đấu và kiểm soát chúng tức chống sốt rét (tiêm và phun thuốc), chống bệnh phong … Các đội lưu động được thành lập để đến từng làng giúp huấn luyện và chăm sóc sức khỏe.” Không may, người Cộng sản cũng nhắm đến việc chăm sóc sức khỏe. Theo Bs Hiểu, “Vài hoạt động y tế bị bộ máy tuyên truyền của kẻ thù dán cho nhãn hiệu có mục đích quân sự, chẳng hạn các nhân viên y tế phun thuốc DDT chống sốt rét và đánh dấu lên cửa nhà nào đã phun rồi được kẻ thù xuyên tạc là “sắp xếp và đánh dấu để thu thập thông tin quân sự.”

Những tiến bộ về giáo dục, tị nạn, điện khí hóa nông thôn, và chăm sóc y tế chỉ là một phần trong trách vụ rộng lớn ở nông thôn. Những nỗ lực PTNT có ý nghĩa khác bao gồm Công trình Công cộng, nhằm xây dựng và tu bổ gần 300 dặm đường xá, khoảng 150 cây cầu, vét hoặc đào mới gần 100 dặm kênh rạch. Một Chương trình Tự Túc ở ấp  hoàn thành hơn 2,300 dự án được dân chúng địa phương xây dựng. Phòng Cảnh sát được mở rộng, cũng như các chương trình chiêu hồi và chiến dịch Tâm Lý Chiến nhằm kêu gọi các nông dân cam kết trung thành với Saigon. Trên tất cả, cho dù bộ của ông chưa hoàn thành được các mục tiêu năm 1966 được đề  ra ở Honolulu trong việc tăng cường an ninh thôn ấp, Thắng tin rằng nền tảng đã được xây dựng trong năm 1966 cuối cùng sẽ cung cấp những cải thiện có ý nghĩa cho nông dân. Trở ngại lớn nhất của ông vẫn là cái yết hầu mà MTGP vẫn còn nắm giữ trên phần lớn lãnh thổ ở nông thôn, nhưng các lực lượng đồng minh vẫn chưa chiếm lại được.

Trong khi các chương trình bình định đang phát triển, tình hình kinh tế tiếp tục cản trở nghiêm trọng sức tăng trưởng của quốc gia.

CQMN đã làm theo vài đề xuất kinh tế của Hoa Kỳ nhưng đã không thể thành tựu, và điều kiện thương mại vẫn còn thê thảm. Chính quyền Hoa Kỳ bồn chồn lo lắng, và tại một buổi họp vào cuối tháng 5 1966, Robert Komer, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Johnson về bình định hoá, công kích dữ dội tùy viên của Kỳ, Bùi Diễm. Komer đòi “phải có những biện pháp khẩn cấp để kềm hãm lạm phát,” nếu không hậu quả kinh tế có thể đe doạ đến tương lai của Việt Nam. Bùi Diễm đồng ý rằng chính quyền đã không đạt được chỉ tiêu và nhìn nhận rằng “tái thiết kinh tế cũng quan trọng như thắng lợi quân sự hoặc chính trị.” Ông thổ lộ rằng “Kỳ không quan tâm lắm đến những vấn đề này nhưng ông đồng ý hậu thuẫn bất kỳ biện pháp nào có cơ may thành công cho dù còn rủi rõ về mặt chính trị.”

Để giải quyết tình hình cấp bách, vào ngày 10/6, Thiệu ký sắc lệnh giao cho một mình  Kỳ quyền quyết định tùy ý về lập pháp kinh tế và tài chính trong ba tháng. Xét rằng lạm phát sẽ ăn vào đồng lương ít ỏi của nhân viên nhà nước và những người lao động có đồng lương cố định, với quyền lực mới trong tay, Kỳ lập tức tán thành tăng lương cho họ. Quan trọng hơn, sau một đề xuất của Nguyễn Hữu Hạnh, một cố vấn kinh tế của ông, Kỳ ký một sắc lệnh gây sốc, có rủi ro về mặt chính trị nhưng cần thiết: hạ giá đồng bạc. Quyết định tăng tỷ giá một đô-la ăn 118 đồng, tăng thuế nhập khẩu một lần nữa, hỗ trợ giá gạo, và bán vàng ra thị trường tự do để thu hút tiền đồng. Cú hạ giá khiến nhiều người điêu đứng vì làm giá cả tăng vọt trong một thời gian ngắn, nhưng vào giữa tháng 10, Chỉ số Giá Tiêu dùng của Saigon, gồm hơn 20 mặt hàng thiết yếu dùng để đo chi phí sinh hoạt, đã giảm xuống dưới mức tháng 6.

Rủi thay, sự giải cứu chỉ có tính tạm thời. Vào giữa tháng 11, gạo một lần nữa thiếu hụt ở thủ đô. Lũ lụt đã cản trở việc vận chuyển từ vùng châu thổ, với hai tỉnh thất thu đến 80 phần trăm sản lượng thu hoạch. Sứ quán Hoa Kỳ ước tính rằng việc chuyên chở gạo đến Saigon, mà dân số đã gia tăng, thấp hơn 40 phần trăm so với năm 1955, vốn đã thấp hơn năm 1964. Tình hình tồi tệ đã buộc Mỹ phải vận chuyển khoảng 300,000 tấn gạo để bù trừ thiếu hụt.

Cho dù có viện trợ  hào phóng của Hoa Kỳ, sự thất thu cộng với lượng tiêu thụ ở đô thị tăng đẩy giá nhu yếu phẩm tăng vọt. Giá gạo giờ cao hơn 30 phần trăm so với trước khi hạ giá tiền đồng hồi tháng 6. Việc tăng giá làm điêu đứng dân nghèo Saigon, vốn khẩu phần chủ yếu là gạo và nước mắm. Thậm chí giá một bao  100 kí loại gạo rẻ nhất có trộn 25 phần trăm tấm cũng tăng đáng kể. Giải quyết vấn đề lương thực là điều sinh tử. “Lúa gạo,” Komer nói, “cũng quan trọng như súng đạn,”

Đối với quá nhiều vấn đề kinh tế, từ việc quá tải cảng Saigon và thuế đánh vào tiền tiết kiệm ngoại tệ, những chỉnh đốn tài chính chỉ giải cứu tạm thời. Saigon chết đói thu nhập và không thể ngăn giảm tiền thặng dư mà chi tiêu thâm hụt đã sinh ra. Vậy mà chính quyền không thể thu đủ thuế để làm nhẹ bớt vấn đề. Cũng không có chương trình nhập khẩu hàng tiêu dùng nào được mở rộng có thể thu hút lượng tiền cung cấp quá phình to hoặc tạo ra đủ thuế nhập khẩu để làm giảm sự thâm hụt. Trốn thuế là một truyền thống lâu đời ở Việt Nam, và có ít cơ chế cưỡng bách thi hành các luật hiện có. Hỗ trợ giá gao, trong khi giữ cho giá gạo ở Saigon hợp lý, trái lại không khuyến khích điền chủ bán gạo cho nhà nước hoặc thương lái Hoa kiều có mặt khắp nơi. Điền chủ có thể được giá tốt hơn nếu tuồn gạo qua Cao Miên hoặc bán cho Cộng sản. Dù vậy cải cách thuế không có mặt hàng đầu trên lịch trình của Kỳ. Ông có những vấn đề cấp bách hơn.

(còn tiếp)


https://nghiencuulichsu.com/2021/10/25/guom-da-tuot-ra-noi-mien-dat-xa-xoi-nhung-uoc-mo-tan-vo-cua-mien-nam-phan-10/

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?