1356 - Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi - Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 10)

 George J. Veith - Trần Quang Nghĩa dịch


NẠN PHE PHÁI TIẾP DIỄN

Bầu cử đã đi qua, nhà lãnh đạo lão thành của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào giữa tháng 9 kêu gọi Trí Quang ngừng tuyệt thực, nhưng ông từ chối lui xuống. Ông sợ giới quân sự âm mưu cài vào hiến pháp mới vai trò tiếp tục của lực lượng vũ trang trong đời sống chính trị của đất nước. Trong một bức thư dữ dội gửi đến báo chí, ông lên án Kỳ và Thiệu, tuyên bố rằng họ muốn thành lập “một chế độ giống như Nam Hàn – một chế độ Diệm mà không có Diệm.” Lần này,  ngài Quang có đầu óc nặng mùi âm mưu ít nhất có phần đúng. Nam Hàn đúng là cung cấp một kim chỉ nam để xây dựng miền Nam. 

Sau cuộc chiến 1950-53, người Hàn, như người miền Nam hiện giờ, vô cùng nghèo khổ, thiếu thốn những nhà lãnh đạo được đào tạo, và đối mặt với một kẻ thù không khoan nhượng. Vào tháng 5 1961, các tướng lĩnh Hàn nắm lấy quyền lực từ tay các nhà cai trị dân sự chao đảo. Như Thiệu và Kỳ, họ cũng tuyên bố mong ước bầu cử, và vài vị tướng cầm đầu cỡi bỏ quân phục và trở thành chính trị gia. Tướng Park Chung-hee thắng trong một cuộc bầu cử trong sạch tháng 12 1963. Ông sau đó bắt đầu một nỗ lực đại quy mô và thành công để hiện đại hóa Nam Hàn. Mặc dù cuối cùng Park trở thành một nhà độc tài quân phiệt và bị ám sát vào năm 1979, trong những năm đầu ông cai trị đất nước theo phong cách cứng rắn khắc nghiệt khiến kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, một phong cách cai trị mà các tướng lĩnh Saigon trân trọng nhưng ngần ngại sao chép nguyên xi.

Thiệu đã đến dự lễ nhậm chức của Park vào tháng 12 1963, và ông ta nhắc nhở Kỳ rằng miền Nam cần tìm kiếm mối quan hệ thân thiết với Nam Hàn. Thiệu bảo với một vị khách Mỹ rằng đảng của Park cơ bản là “đảng của quân đội”, mà ông ngưỡng mộ vì Thiệu muốn quân đội “tham gia chính thức và hợp hiến” vào chính quyền mới. Trong khi Thiệu đã đổi ý từ những năm trước và giờ đây nhấn mạnh rằng quân đội không tìm kiếm quyền lực, những năm dưới chế độ Diệm đã tiêm nhiễm trong ông niềm ao ước sâu xa là tránh để phe dân sự kiểm soát hoàn toàn quân đội. Quân đội, Thiệu tuyên bố, phải có khả năng ngăn ngừa bất kỳ vị tổng thống nào”trở thành một nhà độc tài’. 

Tuy nhiên, trong khi hệ thống Hàn quốc “có thể vận dụng theo nhiều cách,” Thiệu nhận ra rằng “tình hình Việt Nam thực sự khó hơn nhiều,” nghĩa là đất nước ông đang gặp chiến tranh còn Nam Hàn thì không. Từ đó, mặc lời buộc tội của Quang, dù Thiệu và Kỳ đều ngưỡng mộ những thành tựu kinh tế của Park, Nam Hàn không cung cấp một khuôn mẫu cai trị cho miền Nam.

Với quốc hội mới bắt đầu soạn thảo hiến pháp, Johnson yêu cầu gặp Thiệu và Kỳ tại Manilla vào cuối tháng 10 để duyệt xét tiến độ bình định hoá kể từ hội nghị Honolulu. Theo mô thức điển hình, hai cơn bão chính trị Saigon lập tức nổi lên. Trước đó trong mùa hè, Kỳ muốn lấy lòng giới ưu tú người nam – và nhờ đó làm đối trọng với mối hiềm khích hiện có mà người miền Trung dành cho ông – bằng cách đem thêm các chính trị gia người miền nam vào chính quyền. Vào giữa tháng 7, ông xáo trộn nội các và bổ nhiệm một người miền nam tiếng tăm, Nguyễn Lưu Viên, giữ chức phó thủ tướng. Trước đây Viên đã thoái thác lời mời tham gia nội các của Kỳ vì ông chống đối việc quân đội cầm quyền. Giờ đây tin tưởng Thiệu và Kỳ thành thật về việc tái lập chính quyền dân sự, vào ngày 13/7/1966, Viên chấp nhận lời mời của Kỳ và trở thành phó thủ tướng. Tuy nhiên, mối kỳ thị nam-bắc đã ung mũ không thể dịu đi chỉ bởi một vài bổ nhiệm nội các. 

Vào cuối tháng 9, tổng trưởng y tế, một người bắc và nạn thân của Kỳ, lên đường trên chuyến công tác  ra nước ngoài, để lại người phó, một người nam, điều hành. Người phó lập tức thay thế một số bác sĩ trong bộ sinh quán ở miền bắc bằng người nam. Khi trở về, vị tổng trưởng phàn nàn với trùm cảnh sát Chuẩn tướng Loan về hành động của người phó mình. Loan, chưa hề biết tế nhị là gì, bắt giữ phó tổng vào ngày 29/9 vì tội không có trong luật pháp là “xúi giục gây kỳ thị nam bắc”.

Tổng trưởng và người miền nam chính hiệu Võ Long Triều hay biết chuyện bắt giữ liền trách móc Kỳ, phun ra rằng những hành động tùy tiện của Loan đang “biến chúng ta thành một nhà nước cảnh sát trị” và “làm chính quyền mất hết uy tín và mất mặt trong mắt dư luận trong nước cũng như cộng đồng quốc tế.” Triều yêu cầu Kỳ đuổi Loan và lên án hành vi của ông ta. Kỳ, chịu ơn Loan vì đã giúp mình dẹp yên vụ Phật tử và ngại làm mất lòng nhóm Baby Turks trong quân đội, từ chối. Triều lập tức bắt đầu vận động những thành viên nội các người nam khác, bao gồm Nguyễn Lưu Viên và Tổng trưởng Kinh tế Âu Trường Thanh. Để xoa dịu tình hình, vào ngày 4/10, Kỳ buộc tổng trưởng y tế rời chính quyền. Tuy nhiên, hai ngày sau, một bài chính luận xuất hiện trên một tờ báo do một người bắc làm chủ gọi các tổng trưởng người nam là “một lũ hèn hạ đói khát quyền lực” và “bọn xấu chỉ đáng rửa ống nhổ cho chủ của chúng”

Căm tức, Triều thuyết phục Viên, Thanh, và bốn tổng trưởng khác từ chức để phản đối về hành vi của Loan và bài báo. Rối rít để tránh một cuộc khủng hoảng nội các, Kỳ “treo giò” tờ báo lăng mạ, cấm mọi tờ báo đăng những bài về vụ tranh cãi hoặc xúi giục kỳ thị nam-bắc, và bổ nhiệm một người miền nam làm tổng trưởng y tế. Kỳ hiểu rằng một sự bùng nổ công khai về hai vấn đề gây hiềm khích này – chia rẽ nam-bắc và tranh cãi dân sự-quân sự – có thể làm lu mờ không khí phấn khởi mà cuộc bầu cử tháng 9 đem lại hoặc làm nảy sinh những bất lợi trên báo chí nước ngoài trước thềm hội nghị Manilla. Hơn nữa, nó có thể tạo ra một điểm tập kết cho khối miền nam lớn hơn trong quốc hội, đến lượt họ có thể xen vào một câu từ trong hiến pháp (chẳng hạn giới hạn tuổi ứng cử viên tổng thống) sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến Kỳ.

Tất nhiên, không lâu sau những hành động của Kỳ, ngài Loan nóng tính và hay say sưa gọi điện hăm dọa cả Nguyễn Lưu Viên lẫn Triều, mở miệng vết thương mà Kỳ đang ra sức khâu lại. Tệ hon, hai tướng lĩnh người nam, Nguyễn Hữu Có và tư lệnh Quân đoàn IV Đặng Văn Quang, bắt đầu bí mật khuyên Triều nên cứng rắn với Kỳ. Hành động của họ không qua được mắt người dòm ngó. Kỳ và Thiệu cho họp UBLĐQG và khiển trách cả hai người vì tội gây bất hòa. Trần Văn Văn sau đó trở thành một cái gai người nam khác trong mắt Kỳ khi ông này lên án Kỳ tại quốc hội  dung túng hành động của Loan. Vụ rối beng nam-bắc phình to khiến người Mỹ tức tối. Ngoại trưởng Dean Rusk quan ngại sâu sắc về một trận bão chính trị khác trước thềm hội nghị Manilla. Rusk bảo với Lodge rằng tình hình “rất giống với những ngày tồi tệ” của Trí Quang, và ông ra lệnh Lodge “nỗ lực tối đa” để CQMN “tạo được ấn tượng quốc tế về tình đoàn kết ở Saigon,” kể cả, nếu cần thiết, nói chuyện tay đôi với Loan để y kềm chế “cung cách Gestapo” của mình.

Biết người Mỹ không hài lòng, Kỳ khẩn khoản với các tổng trưởng cứng đầu của mình đừng quậy chính quyền ngay trước cuộc họp với Johnson. Sau cuộc tấn công bằng lời năn nỉ cộng thêm lời kêu gọi đến lòng yêu nước và những bữa tiệc thịnh soạn, Kỳ thuyết phục được họ hoãn lại việc từ chức cho đến sau hội nghị thượng đỉnh. Ông bất ngờ nhận được sự giúp đỡ  khi cựu Thủ tướng Trần Văn Hương gửi một bức thư tay đến Viên và Triều khuyên họ đừng từ chức. Bức thư của Hương thuyết phục được Viên hủy bỏ quyết định của mình, nhưng Triều chỉ hoãn lại việc ra đi. Sau hội nghị, Kỳ lại gặp Triều và những người khác để mong họ đổi ý, nhưng không có kết quả. Bí mật nuôi tham vọng chính trị của riêng mình, Thanh đặc biệt không lay chuyển. Cuối cùng, trong số 7 người lúc đầu, Viên và hai người khác ở lại, còn Triều, Thanh, và hai người khác chọn ra đi.

Đồng thời với khủng hoảng nội các, việc tranh chấp trong giáo hội Phật giáo cuối cùng bùng phát. Khi bầu cử quốc hội đã qua, Tâm Châu đã trở lại Saigon vào ngày 15/9 và quyết tâm giành lại Viện Hóa Đạo từ đối thủ hiếu chiến của mình. Người đứng đầu giáo hội Phật giáo triệu tập một cuộc hội nghị để giải quyết sự tranh chấp giữa Trí Quang và Tâm Châu. Tìm cách có được quyền lực trước hội nghị, vào ngày 2/10, Tâm Châu chiếm lấy Chùa Quốc Tự và buộc hội đồng từ chức. Châu dự tính cử một hội đồng mới và loại khỏi những tay chân của Trí Quang. Xét những hành động của Tâm Châu, hội nghị, được tổ chức ngày 21-22 tháng 10, lập tức biến thành những trận đấu khẩu, trong đó phe hiếu chiến tố cáo Mỹ đã hối lộ Châu một triệu đô để về phe chính quyền. Đây là lời buộc tội vừa không đúng vừa mỉa mai, xét việc CIA đã chi tiền cho Quang vài năm rồi.

Hội nghị đổ vỡ, những người ủng hộ Quang trở về Chùa Ấn Quang và cử ra một hội đồng riêng của mình. Châu lên án hội đồng này và tuyên bố những kế hoạch thành lập một Giáo hội Phật giáo Thống nhất được cải tổ. Được sự hậu thuẫn kín đáo của Kỳ, vào cuối năm 1966, Châu đã thành lập được một liên minh gồm nhiều phe phái khác nhau thành  giáo hội Phật giáo Việt Nam, cô lập Quang trong Chùa Ấn Quang. Một nhà báo viết, “Bị cảnh sát theo dõi, bị sâu xé bởi phe phái và bị ô danh chính trị vì thất bại trong vụ tẩy chay bầu cử, Trí Quang và đệ tử dường như đã mất tất cả sức lực của mình.” Sự thống trị nền chính trị quốc gia của Quang đang mờ dần, nhưng nói nó đã cáo chung thì còn quá sớm.

Khủng hoảng nội các giờ đã tránh được, phe Phật tử đang tự hủy hoại nhau, và quốc hội mới đang tổ chức, Kỳ và Thiệu bay đến Manilla để gặp Johnson đánh giá kết quả việc bình định hoá. Thiếu tướng Thắng nhìn nhận rằng công tác bình định hoá chưa hoàn thành được những mục tiêu mà các đồng minh đã đề ra ở Honolulu, nhưng cũng đạt được những tiến bộ đáng kể. Người Mỹ đồng ý mở rộng chương trình bình định hoá trong năm 1967, nhưng họ muốn một thay đổi lớn lao: chuyển các cuộc hành quân của QLVNCH từ chiến lược “tìm và diệt” sang “quét và giữ”. Vì an ninh là bước đầu tiên, QLVNCH sẽ trở thành lá chắn để các đội PTNT có thể hoạt động ở phía sau.

.Vì ý tưởng này sát với ý tưởng mà Thiệu và Kỳ đã đề xuất với Westmoreland hồi tháng 7 1965, họ nhất trí trong thông cáo chung Manilla “sẽ huấn luyện và đóng góp một phần các lực lượng vũ trang để chia sẻ các hoạt động ‘quét và giữ” nhằm cung cấp một lá chấn cho một xã hội mới có thể được xây dựng ở phía sau.” QLVNCH sẽ còn có trách nhiệm cơ bản là truy quét các lực lượng thù địch trong những vùng đông dân cư, nhưng sẽ gìn giữ những phần lãnh thổ chiếm được cho đến khi các lực lượng ĐPQ và DQ có thể đảm đương nhiệm vụ đó. Trong khi phân chia khôn khéo các nhiệm vụ – binh sĩ Việt Nam lo xử lý làng xã còn lực lượng Mỹ đánh nhau với bộ đội chính quy của QĐND xa khu dân cư – có một điều đáng lo ngại: có những ghi chép u ám về cách đối xử người dân của QĐVNCH. Hơn nữa, quân đội rất miễn cưỡng khi được giao những nhiệm vụ mà họ coi là của cảnh sát hay của đơn vị dân quân. Quân đội chính quy sẽ thi hành nhiệm vụ mới này giỏi đến cỡ nào còn là câu hỏi mở.

Lý do cho việc chuyển đổi từ việc tiêu diệt kẻ thù đến bảo vệ dân chúng là vì các đồng minh tin rằng giờ họ đang đánh thắng cuộc chiến. Vào tháng 3 1965, Lê Duẩn đã ra lệnh các lực lượng Cộng sản đánh bại miền Nam trước khi binh lính Mỹ có thể bước vào và làm lệch cán cân. Quyết định đó nhằm tránh cuộc chiến quy mô lớn. Từ mùa xuân 1965 cho đến cuối hè 1966, có nhiều trận đánh cấp tiểu đoàn và trung đoàn xảy ra hơn bất cứ thời gian nào khác trong cuộc chiến, kể cả cuộc Tổng Công Kích Tết và Phục sinh, Sau khi bị thương vong nặng nề, vào mùa thu 1966 Cộng quân đã rút lui, và những trận đánh lớn đã giảm hẳn. Tài liệu Ngũ Giác Đài khẳng định rằng “giả định chủ yếu nằm bên dưới chủ trương mới về kiểm soát dân chúng, vào cuối năm 1966, là niềm tin đang lớn dần cho rằng cuộc chiến chủ lực quân đang dần dần kết thúc.

Không có một nhân tố đơn lẻ nào khác đóng một vai lớn như thế trong quyết định giao việc bình định hoá cho binh sĩ.

Thật ra, người Mỹ đã phán đoán sai lầm Hà Nội một cách tệ hại. Việc giảm các hoạt động công kích lớn là do việc tái cung ứng chậm chạp dọc theo Đường Mòn Hồ Chí Minh và việc thay thế số thương vong từ những trận đánh trước. Sau khi tái củng cố, Quân đội Nhân dân lên kế hoạch phát động hai đợt hành quân từ tháng 10 1966 đến tháng 4 1967. Hà Nội tin rằng chiến lược của Mỹ là đánh bại các lực lượng của họ để ép Bộ Chính trị đến bàn hội nghị, cũng chính xác là chiến lược của họ dành cho quân đồng minh. Dựa vào đánh giá này, Bô Chính trị quyết định ra tay trước. Kế hoạch của họ là giáng những tổn thất lớn, chặn đứng các cuộc tiến kích của Hoa Kỳ, và đạt được một thắng lợi quyết định trong khoảng thời gian hai năm 1967-1968.

Sau khi trở về từ Manilla, Kỳ đặt quyết tâm vào việc bài trừ tham nhũng. Trước tiên, vào ngày 18/11 ông bổ nhiệm  4 tổng trưởng mới, toàn là người nam, để thay thế những người đã từ nhiệm. Đó là sự nhượng bộ rõ ràng với lợi ích vùng miền của người nam, nhờ đó nó nhận được sự thông cảm cho động thái tiếp sau của ông: đuổi việc Thiếu tướng tham nhũng Đặng Văn Quang. Vào ngày 19/11, Kỳ loại tư lệnh Quân đoàn IV và thay y bằng Chuẩn tướng Nguyễn Văn Mạnh. Kế hoạch đầu tiên đặt nền móng của Thiệu đã đạt kết quả hoàn hảo. Thiệu chọn Mạnh thay Quang, vì ông ta đã làm việc cho Thiệu trong thập niên 1950 khi Thiệu là tham mưu trưởng cho Quân khu 2 cũ đóng ở Huế. Thiệu, trong một miếng ngụy biện, giải thích với Westmoreland rằng cho dù có tín đồn rùm beng là Quang và Có tham nhũng, “nhưng họ không có chứng cứ để buộc tội,” đúng là điều khôi hài, nhưng vì “tin đồn quá lan rộng đến nỗi họ không có cách nào khác” ngoài việc thay người. Tuy nhiên, Thiệu đánh giá Quang là một tham mưu giỏi, vì thế ông cử ông ta cầm đầu Bộ Kế hoạch và Phát triển mới.

Trong khi đó, quốc hội đã hoàn tất cơ cấu tổ chức. Dẫn đầu là Phan Quang Đán và Trần Văn Văn, họ lập tức tìm cách lật ngược thỏa ước bầu cử trước đây với Ủy ban Lãnh đạo. Họ đang củng cố vị thế để thách thức sự độc chiếm quyền lực của phe quân sự trong cuộc bầu cử tương lai, và họ đang bắt đầu tranh giành tiếng tăm với Thiệu và Kỳ. Vào ngày 9/11, quốc hội nhất trí tu chính Điều khoản 20, mệnh đề cho phép phe quân đội có quyền hủy bỏ bất kỳ điều khoản nào của hiến pháp. Văn công kích Điều khoản 20, tuyên bố rằng Uỷ ban Lãnh đạo “không bao gồm những viên chức được bầu nên họ không được phép áp đặt quyền lực lớn hơn để tạo hình hiến pháp.” Văn nộp yêu cầu sửa đổi Điều khoản 20 cho Thiệu vào ngày 18/11. Vài tuần sau, Uỷ ban Lãnh đạo gửi câu trả lời mạnh mẽ về Điều khoản 20: không.

Trong khi chuẩn bị một cuộc công kích mới, Hà Nội cũng tìm kiếm những phương thức khác để làm trầm trọng thêm rạn nứt nội bộ Saigon. Bộ Chính trị chọn đốt lên mối căng thẳng dân sự-quân sự và ra lệnh Đảng Uỷ Vùng Saigon-Gia Định và Bộ phận An ninh chỉ đạo lực lượng do thám vũ trang thành phố Saigon ám sát một trong ba mục tiêu: Thiệu, Kỳ và Văn. Vì Thiệu và Kỳ được bảo vệ kỹ, nên đội an ninh Saigon quyết định nhắm vào Văn. Sau khi điều tra việc đi lại của ông, một kế hoạch được hình thành. Vào sáng ngày 7/12, Văn bước vào ô tô riêng của mình và bắt đầu đi đến quốc hội. Khi ông đi chậm lại để quẹo cua, hai tên sát thủ Cộng sản chạy trên xe gắn máy bắn ba phát vào xe, giết chết ông. Đoàn hộ tống cảnh sát đuổi theo các tên sát nhân và bắt được một tên, tên còn lại trốn thoát. Đài Phát thanh Giải phóng ngay lập tức “phát đi một bài bình luận cho rằng đây là hậu quả của một vụ tranh chấp nội bộ trong đó các phe phái thù địch giết hại lẫn nhau. Các cán bộ và các tổ chức công khai của chúng ta hoạt động ở Saigon gây ảnh hưởng cả nhân dân miền Nam và báo chí nước ngoài để tạo ra ấn tượng rằng Văn bị ám sát vì ông dự tính sẽ tranh cử tổng thống trong cuộc bầu cử sắp đến.”

Trong thế giới mang tính âm mưu của nền chính trị miền Nam, lời buộc tội tìm được mảnh đất màu mỡ. Thiệu cực lực bác bỏ chính quyền có vai trò nào trong cái chết của Văn. Khi việc đó là không đủ, chính quyền đem sát thủ lên truyền hình, và y khai rằng việc sát hại là âm mưu của Cộng sản. Nhưng như thế cũng chưa đủ. Một dân biểu quốc hội, Lý Quí Chung, một người miền nam, đọc điếu văn tại lễ tang không nhìn nhận đây là thủ đoạn của Cộng sản. Để duy trì mối ngờ vực về cái chết của Văn, tại lễ tăng, một đặc vụ Cộng sản dúi vào tay người góa phụ một tờ giấy ghi rằng, “Bà phải nói với Thiệu rằng Việt Cộng không giết chồng bà. Nếu bà không vâng lời, bà sẽ chịu chung số phận với chồng mình.” Khiếp sợ, bà Văn xin Thiệu đừng tử hình tên sát thủ, nên Thiệu giảm án xuống thành tù chung thân tại Đảo Côn Sơn. Y được trả tự do ngày 1/5/1975.

Không lâu sau cái chết của Văn, lại xảy ra một âm mưu ám sát khác. Khi Bs Đán bước vào ô tô để lái đến quốc hội, một tiếng nổ xé toạc một lỗ trong ghế sát bên ông. Ngạc nhiên thay, ông chỉ bị thương nhẹ. Ai ra tay ám hại ông vẫn còn là điều bí ẩn. Các ấn phẩm khác nhau của An ninh Nhân dân Cộng sản thời hậu chiến mô tả chi tiết gần như mọi mưu toan hoặc các vụ ám sát thành công các nhân vật chính quyền miền Nam cao cấp. Người Cộng sản tự hào đã “giáng một đòn” vào “bè lũ tay sai bù nhìn” và không ngần ngại bình luận những hành động này. Vậy mà như quả lựu đạn ném vào Thích Thiện Minh cuối tháng 5 làm bị thương nhà sư, không có đề cập gì đến âm mưu sát hại Đán. Trong khi sự thiếu vắng tài liệu không miễn xá tội cho người Cộng sản, việc bàn luận ít ỏi về hai mưu toan này thật hùng hồn, chỉ đến thủ phạm là người Quốc gia. Đán đang đẩy mạnh quy định cải cách ruộng đất vào trong hiến pháp, một chương trình bị nhiều điền chủ miền nam kịch liệt chống đối.

Bất kể thế nào thì đó là mưu tính cuối cùng nhắm vào sinh mạng các dân biểu quốc hội. Dù có những xáo trộn về kinh tế và hỗn loạn chính trị, Kỳ và Thiệu vẫn theo đuổi việc tạo dựng cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân mình. Cuộc lột xác của miền Nam đã bắt đầu, và việc phối hợp các nỗ lực của Hoa Kỳ và Việt Nam nhằm cải thiện mức sống của người Việt sẽ đạt được những thành tựu có ý nghĩa. Tuy nhiên,  liệu nó có đạt được những mục tiêu đề ra nhằm lôi kéo nông dân về phía Saigon vẫn còn là câu hỏi bỏ ngõ.

(Hết phần 10)

https://nghiencuulichsu.com/2021/10/25/guom-da-tuot-ra-noi-mien-dat-xa-xoi-nhung-uoc-mo-tan-vo-cua-mien-nam-phan-10/

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?