1550 - Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi - Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 20)
Tác giả: George J. Veith
Trần Quang Nghĩa dịch
LẠI THÊM TAI TIẾNG
Đánh giá Tình báo Quốc gia do CIA ấn hành vào cuối tháng 4 kết luận rằng “viễn ảnh của miền Nam cho phần còn lại của năm 1971 khá tốt đẹp. Ba năm còn lại đã phát sinh một chính tình vững chãi hơn, một sự cải thiện rõ rệt trong các điều kiện an ninh, và tiến bộ đáng kể trong tiến trình Việt Nam hóa.” Nhưng như mọi quốc gia, xứ sở phải đấu tranh với các loại tai họa.
Sinh viên Việt Nam chưa ngồi yên, kinh tế vẫn ì ạch, và hòa bình vẫn chưa đạt được. Đối với người Mỹ, cuộc chiến dường như bế tắc, phản đối của quốc hội gia tăng, và khi các lực lượng Mỹ đẩy nhanh việc rút quân, tinh thần binh sĩ Mỹ bắt đầu sa sút. Các sự kiện kỷ luật và chủng tộc tăng lên khi bất ngờ một quan ngại mới nổi lên. Tình trạng sử dụng ma túy và nghiện ngập trong giới binh sĩ, chủ yếu là xài he-rô-in chất lượng cao, rẻ tiền, tăng vọt. Từ tháng 8 đến tháng 12 1970, 90 binh lính Mỹ chết vì bị nghi sử dụng quá liều. Vào tháng 1 và 2 1971, 36 người khác chết.
Vào đầu tháng 2 1971, Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird đề cập vấn đề với Thiệu. Tổng thống lưu ý rằng “đây là lần đầu tiên ông nghe về chuyện này.” Phần nhiều he-rô-in vào xứ qua các chuyến bay thương mại từ Lào đến phi trường Tân Sơn nhất ở Saigon. Trạm quan thuế tại sân bay không tồn tại vì các kiểm soát viên hoặc ngó lơ vì đã được lót tay hoặc đồng lõa với việc buôn lậu. Dưới sức ép của Hoa Kỳ, Thiệu ra lệnh nâng cao an ninh hải quan tại phi trường cho dù Thủ tướng Khiêm gián tiếp dính líu đến nó. Khi Khiêm sa thải tay chân của Kỳ tại cảng Saigon và Phòng Quan thuế, ông thay họ bằng người của mình. Em Khiêm là giám đốc Cục Bài trừ Gian lận Quốc gia, cánh tay đắc lực của Phòng Quan thuế. Dưới thời ông, việc buôn lậu ở miền Nam tăng vọt, và các viên chức thuế quan tất nhiên là có liên can. Vào ngày 10/3, cảnh sát bắt giữ một tiếp viên Air Vietnam buôn lậu he-rô-in từ Lào. Một tuần sau, một dân biểu Hạ viện trở lại từ Bangkok bị sờ gáy tại sân bay vì mang he-rô-in. Ngày hôm sau, một dân biểu thứ hai bị quan thuế Thái bắt tại Bangkok vì tìm cách mang vàng lậu vào Saigon. Ông này, Nguyễn Quang Luyện, không phải là tay vừa. Ông là phó chủ tịch thứ hai của Hạ viện và người dùng đầu Khối Độc Lập phò Thiệu. Mặc dù Luyện nhanh chóng được phóng thích, việc bắt giữ ông và việc ông từ chức sau đó được rao trên khắp mặt báo miền Nam.
Sau các đúc kết của Abrams và Bunker về tình trạng nghiện ngập tăng nhanh của binh sĩ Mỹ, vào ngày ⅗, Thiệu ra lệnh tùy viên an ninh quốc gia của ông, Trung tướng Đặng Văn Quang, báo cáo với ông trong vòng 10 ngày với một kế hoạch diệt trừ vấn đề ma túy. Công luận cũng phát sinh một đáp ứng tức khắc của quốc hội. Dân biểu Robert Steele đến thăm Việt Nam, và ông tuyên bố hơn 10 phần trăm nhân viên dịch vụ Mỹ nghiện hê-rô-in, một tuyên bố đáng nghi ngờ. Quốc hội bùng nổ vì lời tuyên bố của Steele, và nó bổ sung điều khoản tu chính đối với dự luật viện trợ nước ngoài sẽ hạn chế việc trợ giúp cho quốc gia nào không thiết lập hàng rào kiểm soát chất cấm. Nhận ra nguy cơ có thể gây ra cho viện trợ nếu không hành động kiên quyết về ma túy, Bunker báo cáo rằng “Thiệu dự tính đích thân đảm trách chương trình này như với chương trình bình định hoá.”
Vào ngày ⅙, ông cách chức em trai Khiêm và người đứng đầu quan thuế và loại tất cả viên chức coi Quan thuế và hành lý ở phi trường.
Khi Nixon tuyên chiến Cuộc Chiến chống Ma túy vào ngày 17/6/1971, Thiệu bắt chước với một chương trình tương tự. Mặc dù cảnh sát bắt đầu tóm được các vụ ma túy lớn, và việc buôn lậu ở Tân Sơn Nhất được kiểm soát, tranh cãi lại sôi sục một lần nữa vào 7/7. Sử dụng thông tin không được chứng thực mà quân cảnh Mỹ có được cho rằng các quan chức cao cấp của CQMN có dính líu đến việc mua bán ma túy, Dân biểu Steele công khai cáo buộc Tư lệnh Quân đoàn II Thiếu tướng Ngô Dzu buôn bán ma túy. Dzu kịch liệt bác bỏ, nhưng việc cho ông có liên can bị che mờ trước một quả bom tin thứ hai do đài NBC News loan đi. Vào ngày 15/7, Phil Brady, thông tín viên của đài ở Saigon, tuyên bố rằng Thiệu và Kỳ sử dụng việc mua bán chất cấm để tài trợ cho chiến dịch tranh cử tổng thống của mình. Brady, kể theo nguồn tin Việt Nam tuyên bố ma túy tuồn vào miền Nam từ Lào trên những chuyến bay của Không Lực Việt Nam, lời kết án cũ chống Kỳ trước đây. Mặc dù Brady cho rằng không có người nào trực tiếp liên quan, anh ta viện dẫn rằng tùy viên của Thiệu, Trung tướng Quang (người mà Thiệu đã ra lệnh điều tra hoạt động buôn lậu ma túy) là trùm ma túy lớn nhất ở miền Nam, Thiệu phủ nhận chuyện đó, Kỳ cũng vậy, thậm chí còn bệnh vực Thiệu. “Dù tôi và Thiệu không còn là bạn,” Kỳ nói, “tôi không tin ông ta có liên quan đến chuyện như vậy.”
Trong khi xì-căng-đan buôn lậu kết hợp với niềm tin quốc tế cho rằng chính quyền miền Nam đầy dẫy tham nhũng, ở Mỹ, ý nghĩ rằng các nhân viên Hoa Kỳ đang bị dính he-rô-in do các đầu nậu là các quan chức cao cấp CQMN bán ra khiến miền Nam bỗng biến thành một quốc gia sống nhờ hoạt động buôn bán ma túy. Thiệu vẫn dấn tới, và vào ngày 10/8, ông yêu cầu quốc hội thông qua dự luật xử tội chết cho những ai buôn bán ma túy. Dự luật cũng đưa ra các thủ tục xét xử đặc biệt cho người sử dụng và chuyển các vụ án ma túy lớn cho Tòa án Quân sự Lưu động.
Tuy nhiên, buôn lậu và ma túy tạm thời bị đẩy ra khỏi trang nhất trên mặt báo khi một vài nghị sĩ Mỹ quăng ra các cáo buộc cho rằng Phượng Hoàng thực tế là chương trình ám sát được nguy trang. William Colby đã vừa hoàn tất chuyến đi với tư cách người đứng đầu cơ quan CORDS, và ông lập tức được yêu cầu làm chứng về các vi phạm có mục đích trong tổ chức Phượng Hoàng. Vào ngày 19/7, ông mạnh mẽ bác bỏ các cáo buộc này, mặc dù ông nhìn nhận rằng thỉnh thoảng lạm dụng cũng có xảy ra. Kế hoạch Phượng Hoàng 1970, giờ phần lớn là do người Việt Nam vận hành, đã gán chỉ tiêu bắt cán bộ địch cho mỗi khu vực. Trong khi Phượng Hoàng không phải là một hệ thống thủ tiêu, nhưng dưới sức ép của tổng thống phải cho thấy hiệu quả, các đặc vụ khu vực phải hoàn thành chỉ tiêu hoặc bằng cách khai gian số liệu hoặc túm đại ai đó chỉ hơi tình nghi có hợp tác với Việt Cộng .
Cách vận dụng kiểu này dễ dàng xảy ra bởi vì cho dù hiến pháp đã đặt người Cộng sản hoặc người chủ trương trung lập ra ngoài vòng pháp luật, nó không đưa ra một định nghĩa hoặc một quy định nào cho biết hành động nào mới được coi là tiếp tay cho Cộng sản. Từ đó, bất kỳ hoạt động nào không phù hợp với chính sách nhà nước hoặc chống lại tính khí thất thường của các viên chức địa phương đều có thể bị dán nhãn hiệu “Cộng sản”. dẫn đến hạch sách hoặc bắt bớ. Hạ viện bãi bỏ Uỷ ban An ninh Tỉnh của Phượng Hoàng để chấm dứt tình trạng lạm dụng buộc Thiệu phải điều chỉnh pháp lý cho chương trình để ủy ban được hoạt động trở lại. Vào đầu tháng 8, Thủ tướng Khiêm ký một sắc lệnh củng cố sự bảo vệ cho các đối tượng bị kết án, cử các thẩm phán về tỉnh để đẩy nhanh tiến trình xét xử, và yêu cầu “các phần tử cấp thấp chỉ ủng hộ cho VC” nên được phóng thích nếu họ “thay đổi thái độ.”
Dù quan trọng, Phượng Hoàng chỉ là một phần của một nỗ lực tổng thể ở nông thôn. Bình định hoá vẫn chiếm một vị trí cao trên lịch trình của Thiệu, và kế hoạch 1971 tiếp tục các nỗ lực của ông nhằm cải thiện quyền lực địa phương. Ông và Colby đã phát triển ba chủ đề cho năm 1971: quốc phòng địa phương, tự trị địa phương, và tự phát triển địa phương. Vì Thiệu tin tưởng mình đã chiếm lại được nông thôn từ tay Cộng sản, ông ra lệnh đổi tên bình định hoá sang Phòng vệ Cộng đồng và Phát triển Địa phương để phản ánh các ưu tiên mới của mình. Ông dự định tăng cường an ninh bằng cách củng cố Lực lượng Nhân dân Tự vệ, Phượng Hoàng, và sự hiện diện của cảnh sát trong làng ấp. Tự trị địa phương, cải cách ruộng đất và phát triển nông thôn cũng sẽ được củng cố và mở rộng.
Trong một bài diễn văn, Thiệu giải thích rõ ràng suy nghĩ của mình; ông đã tạo ra một “chiến lược chống cộng hiệu quả … dựa vào nhân dân như lực lượng hạt nhân. Nếu chúng ta có thể kiểm soát nông thôn cán bộ cộng sản sẽ ngừng hoạt động.” Colby ghi nhận rằng tạo ra một kế hoạch quốc gia khiến Thiệu có thể “áp đặt một chiến lược chính trị một cách nền tảng vào nỗ lực miền Nam” bằng cách vận động nhân dân trong cuộc chiến chống Cộng trong khi đồng thời xây dựng một xã hội và kinh tế tốt đẹp hơn.
Với Lam Sơn 719 đã qua, vào ngày 7/4, Nixon tuyên bố rằng “Việt Nam hóa đã thành công ” và thông báo việc rút thêm 100,000 quân nữa. Để bù trừ cho việc rút các đơn vị khỏi Quân đoàn I, Thiệu thành lập một sư đoàn mới trong khu vực. Sư đoàn 3 được thành lập bằng cách ghép hai trung đoàn từ Sư đoàn 1 và bắt buộc các đơn vị khác cung ứng để cho đủ quân số của sư đoàn mới. Một cách điển hình, họ gửi đi các binh sĩ cặn bã của mình, và sư đoàn 3 trải qua thời gian còn lại trong năm chuẩn bị thay thế lực lượng Mỹ ra đi. Cuối cùng đơn vị mới được thành lập và chưa hề gặp thử thách này được giao phòng vệ Khu Phi Quân sự ở phía bắc Tỉnh Quảng Trị sát với nơi tập trung của bộ đội chủ lực thuộc QĐNDVN.
Dù Nixon cam kết mang binh sĩ về nhà, cuộc đấu tranh phản chiến vẫn tái diễn. Một phần điều này được đốt lên là do ông ra lệnh chuyển Trung úy William Valley Calley đến quản thúc tại gia hoãn lại việc kháng án của anh vào ngày 31/3/1971, đến tù chung thân về vụ tàn sát Mỹ Lai. Một nhóm nhân viên phục vụ trước đây ở Việt Nam tự nhận mình là Cựu Quân nhân Chống Chiến tranh nổi giận vì các sĩ quan khác không bị truy tố. Vào cuối tháng 4, họ tổ chức một cuộc tuần hành phản đối đến Washington, mà đỉnh cao là việc làm chứng nổi tiếng của cựu sĩ quan Hải quân John Kerry trước Ủy ban Quan hệ Đối ngoại Thượng viện. Vào ngày 24/4, một cuộc biểu tình phản chiến rầm rộ được tổ chức ở Washington. Vào đầu tháng 4, chỉ có nhóm cứng rắn ở lại, còn các người kích động thì trút cơn thịnh nộ lên khắp thủ đô. Họ phong tỏa đường phố và các trụ sở chính quyền, buộc cảnh sát phải vào cuộc giải tán.
Đại sứ Bùi Diễm cố gắng một cách tuyệt vọng chuyển tải đến Thiệu áp lực đường phố mà Nixon đang đối phó. Ông viết rằng “hình ảnh hàng ngàn người trẻ tuổi cầm cờ Việt Cộng, tuần hành qua các đường phố Washington … sẽ giống như một tấm gương soi mà Tổng thống Nixon luôn phải nhìn vào đó bất cứ khi nào phải đưa ra một quyết định về Việt Nam.” Bùi Diễm trông thấy một “cơn đại hồng thủy các sáng kiến của quốc hội nhắm đến việc hủy diệt năng lực tiến hành chiến tranh của bộ máy hành chính … Mỗi ngày tôi sống với sự xói mòn liên tục của sự hậu thuẫn, và mỗi đêm tôi tìm cách chuyển dịch trải nghiệm thành một thông điệp có sức thuyết phục gửi về Saigon.” Sau 5 năm ở Washington chiến đấu cho xứ sở mình, một Bùi Điểm bị bao vây, vỡ mộng tính đến việc về hưu.
Các sự kiện khác cũng khiến tín tức về Việt Nam xuất hiện trên truyền hình Mỹ hàng đêm. Việc phát hành Tài liệu Ngũ Giác Đài vào ngày 13/6 thu hút trọn vẹn báo chí Mỹ về các phát hiện khác nhau. Mặc dù Hà Nội đã bí mật chuẩn bị cho một đợt giao tranh mới, vào ngày 1/7, Nguyễn Thị Bình của CQCMLT ngụy trang tham vọng của mình bằng cách đề xuất một Đề nghị Bảy Điểm mới, một đề nghị hơi vá víu từ đề nghị của bà hồi tháng 9 1970. Nixon phái Kissinger tới Saigon vào đầu tháng 7 để trấn an rằng mình đã bác bỏ đề nghị của bà.
Không lâu sau đó, vào ngày 15/7, Nixon công bố một quả bom là ông sẽ viếng thăm Trung Quốc vào năm tới 1972. Về mặt chính thức, Thiệu chào đón tin này, nhưng đằng sau hậu cảnh ông trở nên lo lắng Hoa Kỳ có thể bỏ rơi miền Nam qua “một sự đổi chác nào đó,” nhất là vì Kissinger đã không bảo với Thiệu (hoặc các đồng minh khác mà ông đến thăm) về chuyện đi đến Bắc Kinh. Dù với các sự kiện xảy ra, cuộc bầu cử tổng thống sắp tới ở miền Nam chẳng bao lâu sẽ khống chế mặt báo. (còn tiếp)
Nguồn:
https://nghiencuulichsu.com/2021/11/24/guom-da-tuot-ra-noi-mien-dat-xa-xoi-nhung-uoc-mo-tan-vo-cua-mien-nam-phan-20/
Nhận xét
Đăng nhận xét