1554 - Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi - Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần 20)

Tác giả: George J. Veith

Trần Quang Nghĩa dịch



CUỘC BẦU CỬ 1971

Cuộc bầu cử tổng thống và Hạ viện thể hiện một thử nghiệm khác về các định chế dân chủ đã được khai sinh quá đau đớn bốn năm trước ở miền Nam. Bầu cử thành công và đàng hoàng với các ứng cử viên cạnh tranh sẽ thăng hoa sự rực rỡ của nền pháp trị. Cuộc tổng tuyển cử hợp pháp lần ba cũng minh chứng rằng việc can thiệp quân sự vào chính quyền đã là tàn tích của quá khứ và rằng các đối thủ chính trị giờ được tự do hoạt động. Cuối cùng, nó sẽ cung cấp một trưng cầu dân ý cho việc cai trị của Thiệu trên một phổ rộng các vấn đề, từ chiến tranh và hòa bình đến kinh tế.

Những người Việt Nam có nhận thức chính trị giả định rằng cuộc đua sẽ tranh giữa ba người: Thiệu, Kỳ, và Minh. Cho dù Hoa Kỳ đã tuyên bố sẽ có thái độ trung lập nghiêm nhặt để xoa dịu các cáo buộc cho người Mỹ nhúng tay vào các vấn đề của Saigon, không ai tin điều ấy. Hầu hết dân đô thị miền Nam thường hay phóng đại quá mức ảnh hưởng được cho là bất chính của Hoa Kỳ. Họ quả quyết việc kiểm soát vụng trộm của người Mỹ đã tác động đến nhiều quyết định của giới lãnh đạo miền Nam. Việc phát hành Tài liệu Ngũ Giác Đài, được đăng lại nhiều tập trên báo chí Saigon cho thấy sự dính líu sâu của Mỹ vào việc lật đổ Diệm, thuyết phục mọi người rằng họ đã nói đúng.

Tin rằng Thiệu là ứng cử viên “Mỹ” và và nhận thức được sự khó khăn khi tranh đua chống lại một đối thủ có phòng thủ, các chính đảng đang tồn tại, nhất là Đại Việt Cách Mạng và Phong trào Quốc gia Cấp Tiến, quay ra tập trung vào việc giành ghế Hạ viện. Phe Công giáo và Ấn Quang cũng tiếp cận tương tự. Khi chiến dịch không chính thức bắt đầu, mỗi ứng cử viên đều có điểm mạnh và điểm yếu. Từ lâu có tính diều hâu đối với hoà đàm giữa miền Bắc và miền Nam, ngài Kỳ 39 tuổi giờ lại đặt cược vào lập trường hòa bình và các vấn đề khác rạch ròi giữa Thiệu và Minh. Ông bảo vệ lập trường đã đổi khác của mình bằng cách tuyên bố rằng vì Hoa Kỳ đã rút đi nên tình hình đã thay đổi. Kỳ cũng bắt đầu lên án Thiệu và các tổng trưởng tham nhũng của ông ta, chỉ trích gay gắt vụ xâm lấn Lào, và làm sống lại lời kêu gọi công lý xã hội. Ông cũng khôn khéo kêu gọi chủ nghĩa chống Mỹ bằng cách mô tả Thiệu quá quỵ lụy trước người Mỹ trong khi vẫn nhìn nhận đất nước còn cần đến sự hậu thuẫn quân sự và viện trợ Mỹ. Kỳ, tuy nhiên, có ít tổ chức thực địa để sắp xếp người cho chiến dịch tranh cử, và dân chúng không ủng hộ ông nhiều như ông tưởng. Trong khi còn giữ được một số hậu thuẫn trong quân đội, ngay trong Không Lực, sức ủng hộ ông cũng giảm nhiều. Một số người bắc, thiểu số, và người trẻ nhìn ông có thiện cảm, nhưng ông vẫn còn bị phe Phật tử Ấn Quang và phần lớn người miền nam thù ghét. Ông không có cơ may nào thắng cử, nhưng khoái đóng vai người phá đám.

Ngài Minh 55 tuổi đặt cọc việc tranh cử của mình trên lập trường hòa bình và tiếng tăm của mình như một người miền nam đích thực, một người chính trực trong một biển cả các chính trị gia tham ô và là một Phật tử thuần thành trong một đất nước đa số theo đạo Phật. Một người truyền thống, vị tướng hồi hưu tự xem mình là một nhân vật quốc gia đứng trên chính trị. Phải đi diễn thuyết khắp nơi để kiếm phiếu là việc không đáng để ông làm. Không hiểu được việc vận động tranh cử hiện đại, ông ngây thơ tin rằng mình sẽ thắng chỉ bởi tình cảm quốc gia dạt dào tuôn ra một cách tự phát. Bất cứ chuyện gì khác là chứng cứ có sự gian lận bầu cử của Thiệu. Tuy nhiên, uy tín sẽ không còn đủ trong một miền Nam đang biến đổi. Ông đã không lập ra bất kỳ tổ chức tranh cử nào ở vùng nông thôn, cũng không tính toán bất kỳ chính sách nào để đánh tan dư luận cho rằng ông là một người lãnh đạo kém năng lực và lè phè chỉ nôn nóng muốn giải quyết cho rồi với người Cộng sản. Hòa bình là lá bài duy nhất của ông. Thiệu, ông tuyên bố, “tin rằng hòa bình chỉ có thể thắng được bằng cách giết đến tên Cộng sản cuối cùng. Việc này không sao làm được. Cách duy nhất là hoà đàm.” Minh, trong khi cho rằng CQCMLT sẽ nói chuyện với mình, nhắm đến một cuộc ngừng bắn và cùng tồn tại trong hòa bình nhưng không có chuyện liên hiệp. Đây là một lắt léo chính sách thú vị mà, theo kiểu điển hình, ông không thể trình bày rõ ràng một cách hiệu quả, nhất là vì Thiệu và người Mỹ đã đưa ra đề nghị ngừng bắn mà phe Cộng đã bác bỏ. Hơn nữa, vì MTGP đã yêu cầu một chính phủ liên hiệp trước khi tổ chức bầu cử, tối hậu thư này khiến đề nghị của ông là không chắc chắn.

Sau 6 năm cầm quyền, trước tiên như quốc trưởng và rồi tổng thống, ngài Thiệu 48 tuổi đã chuyển tiếp thành công từ một tướng lĩnh sang một chính trị gia thực tiễn. Ông đi xuống các tỉnh vận động tranh cử, đọc diễn văn, và lấy lòng giới nông dân. Dân chúng thoạt đầu tôn trọng ông như một đối thủ bậc thầy trong nền chính trị phức tạp của Saigon. Giờ phần đông đều xem ông như một lãnh đạo hành pháp hiệu quả: vững chải hơn ngài Kỳ thất thường, hiệu năng hơn ngài Minh bất tài. Không kém quan trọng, ông đã cân bằng một cách nghệ thuật các yêu sách xung đột nhau của công chúng miền Nam và bộ máy hành chính và quân sự trong khi vẫn duy trì sự hậu thuẫn hay phê phán của Mỹ. Ông đã làm trẻ hóa nông thôn, quản lý một cách nghệ thuật việc rút quân của Mỹ, và giám sát công việc củng cố rộng lớn nhà nước. Thật đáng khen, ông đã từ chối ve vãn các nhóm tôn giáo hoặc hợp tác với các chính đảng bằng cách bán cho họ ân huệ của chính quyền để đổi lấy sự hậu thuẫn. Bất kỳ nỗ lực vươn đến đều được sử dụng để củng cố bộ máy hành chính. Còn nữa, như mọi nhà lãnh đạo khác trong các nước đang phát triển, ông đối mặt với các vấn nạn dường như không thể giải quyết được. Nạn tham nhũng lan tràn chính quyền, chính sách cứng rắn của ông về hòa đàm gây lo lắng cho quần chúng mệt mỏi vì chiến tranh, và ông còn bị nhiều bộ phận dân chúng thù ghét. Trần Văn Đôn đúc kết với nhận xét “Thiệu là một chính khách nhưng không được lòng dân. Minh được lòng dân nhưng không phải là một chính khách.”

Hiến pháp quy định rằng quốc hội phải thông qua một dự luật bầu cử trước mỗi cuộc bầu cử. Ngay từ đầu tháng 12 1970, Thiệu đã muốn tu chính luật để “giảm số ứng cử viên tổng thống. Các đảng phái không thể phát triển dưới bộ luật hiện hành do đó nó phải được thay đổi. ” Thiệu nghĩ về một hệ thống hai đảng, “một thuộc cánh tả và một thuộc cánh phải,” sẽ khiến chính quyền vững mạnh và hiệu quả hơn.” Thiệu đã giao cho Nguyễn Văn Ngân, cố vấn pháp luật của ông thay thế Nguyễn Cao Thăng, quyền tự do hành động để điều hành chiến dịch tranh cử của mình. Để hạn chế số ứng cử viên vớ vẩn đã làm phân tán số phiếu bầu trong năm 1967, Ngân soạn ra một dự luật bầu cử mới với một điều khoản gây tranh cãi. Mặc dù luật bầu cử cơ bản dựa vào dự luật 1967,  Mục 10 mới khiến mọi người ngứa mắt. Mục này quy định rằng một ứng cử viên phải có giấy xác nhận viết tay của ít nhất 40 thượng nghị sĩ hoặc dân biểu, hoặc 100 trong số 554 hội đồng tỉnh, ít nhất 60 ngày trước cuộc bầu cử tổng thống.

Được biết dưới tên điều khoản “40 hay 100”, Hạ viện thông qua dự luật, nhưng Thượng viện bác bỏ nó. Thiệu nộp lại dự luật, và vào ngày 3/6, Hạ viện vô hiệu hóa quyền phủ quyết của Thượng viện. Các dân biểu đối lập tố cáo Thiệu tìm cách hạn chế số ứng cử viên và Ngân đã hối lộ nhiều dân biểu để được số phiếu cần thiết, nhưng lời kết án có chút giá trị. Cuộc tranh luận chua chát đến nổi một dân biểu đe dọa sẽ cho nổ tan xác mình bằng một quả lựu đạn, trong khi một dân biểu khác rút ra một khẩu súng lục và đe doạ ban phát ngôn nhân của viện. Cuộc bầu cử vào Hạ viện sẽ xảy ra vào ngày 29/8 trong khi bầu cử tổng thống được ấn định vào ngày 3/10. Tuy nhiên, dự luật không hoàn toàn có lợi cho Thiệu. Nó hạn chế ai có thể ứng cử vào Hạ viện bằng cách ngăn cấm các viên chức quân sự hoặc tỉnh lỵ, một điều khoản ngăn cản các ứng cử viên thân Thiệu.

Mặc dù cơn cuồng nhiệt vì điều khoản 40/100, Thiệu nhấn mạnh rằng sắc luật mới là cần thiết. Ông lặp lại với Kissinger đến thăm ông vào đầu tháng 7 rằng “ông ban hành luật  .. để không cho phép các ứng cử viên tùy hứng như 1967 … Bất kỳ tổng thống nào, dù Minh, Kỳ hoặc chính ông , cũng nên có đủ uy tín và không có số phiếu 35 % như trước. Điều này quan trọng cho sự ổn định chính trị.” Hơn nữa, Thiệu nói rằng các cuộc bầu cử “sẽ được tổ chức đàng hoàng và công bằng; rằng luật bầu cử của ông không nhận vào Minh hoặc Kỳ, vốn có đủ sự hậu thuẫn, mà là cho vị tổng thống tiếp theo một uy quyền thực sự.” Thiệu cũng bảo với một nhà báo ngoại quốc là hai vấn đề lớn nhất đối diện với miền Nam là nhu cầu “tăng cường an ninh và bảo đảm dân chủ chính trị.” Ông muốn có vài ứng cử viên, “nhưng không được quá nhiều, để người thắng cuộc sẽ có đa số đáng tin cậy – suy cho cùng chúng tôi đang có chiến tranh.”

Vì vậy, Thiệu nhắm đến một uy quyền được nhiều người đồng thuận cho các chính sách hòa bình của mình trong khi cũng đánh bại người Cộng sản cứ khăng khăng loại bỏ ông trước khi bầu cử. Ngân khẳng định rằng

Thiệu không hề muốn có một cuộc bầu cử độc diễn … Chúng tôi muốn một cuộc bầu cử tử tế và công bằng, và chúng tôi thực sự muốn Minh tham gia tranh cử, bởi vì khi đó chiến thắng của Thiệu sẽ cho những người Quốc gia chúng ta một lập trường mạnh mẽ tại hoà đàm Paris … Hơn nữa, ông có khát vọng biến cuộc bầu cử thành một cuộc tổng tuyển cử quốc gia trong đó nhân dân sẽ phải chọn lựa giữa hai giải pháp chính trị hoàn toàn đối nghịch nhau: một bên là Thiệu, đại diện phe Quốc gia chống Cộng, còn bên kia là Minh, đại diện cho những người chấp nhận liên hiệp với người Cộng sản.

Vì tính đa dạng của cử tri phân mảnh số phiếu bầu, làm thế nào Thiệu có thể hợp nhất để chiến thắng? Ông có thể chiến thắng một cách hợp lý với tỷ số nào? Để trả lời cho các câu hỏi này, Ngân sử dụng các máy tính của Bộ Tổng Tham mưu Liên quân để phân tích số phiếu bầu từ cuộc bầu cử tháng 8 1970. Ông thấu hiểu được rằng nếu Kỳ không tham gia, Minh sẽ thu được khoảng 45 phần trăm, trong khi Thiệu sẽ được khoảng 55 phần trăm . Tuy nhiên, khi Ngân trình bày bảng khảo sát và kế hoạch 40/100 của mình với Thiệu để loại bỏ Kỳ, ông cũng suy đoán rằng Minh có thể bỏ cuộc khi đối đầu với sắc luật. Cho dù e sợ Minh, Thiệu tán thành kế hoạch của Ngân.

Vào tháng 3 1971, Thiệu đã xem xét việc chọn Khiêm làm phó tổng thống mới của mình, nhưng rồi ông đổi ý sau vụ buôn lậu ở phi trường bị phát giác. Hơn nữa, ông đã hóa ra vỡ mộng với việc điều hành chính quyền của Khiêm trong vai trò thủ tướng. Họ đã đung độ nhau trong vụ án Trần Ngọc Châu và biểu tình chống đối của sinh viên và cựu quân nhân, nhưng đến vụ buôn lậu ở Tân Sơn Nhất số phận của Khiêm đã được niêm phong. Thiệu giang tay đến Trần Văn Hương, người đồng ý làm phó tổng thống cho ông. Hương nói rằng “mặc dù ông và Thiệu có những khác biệt về cơ bản ông nhất trí với Thiệu về các vấn đề chiến tranh và hòa bình và xem Thiệu là nhà lãnh đạo quốc gia tốt nhất có được.” Thiệu chọn Hương với cùng lý do ông đã chọn Hương làm thủ tướng: tiếng tăm của ông và nhu cầu quân bình đứng liên danh với người ràng buộc sâu sắc với giới ưu tú miền nam.

.Khi quốc hội đã thông qua luật 40/100, Ngân khởi động phần hai của chiến lược tranh cử của mình: dồn vào góc mọi hậu thuẫn để ngăn Kỳ có phép ứng cử. Minh được xác nhận bởi các dân biểu quốc hội theo như yêu cầu, nhưng Kỳ thất bại không đạt đủ số chữ ký của các thành viên hội đồng tỉnh. Kỳ lên tiếng phản đối, và ông khiếu nại lên Tối cao Pháp viện, nhưng bị tuyên bố vô hiệu. Nỗ lực khâu kín mọi hậu thuẫn vừa là hành động phá hoại chính trị có tính toán với một đối thủ vừa là thù oán cá nhân đối với đồng minh trước đây của Thiệu. Thiệu, trong lòng rất ấm ức trước các chỉ trích ác độc của Kỳ, quyết định công khai hạ nhục vị phó tổng thống của mình. Không bao giờ phó mặc công việc cho may rủi, Thiệu và tham mưu chiến dịch của mình ngăn cản không thương tiếc các nỗ lực của Kỳ.

Khi Kỳ bị loại khỏi cuộc đua, Minh cũng bắt đầu dao động. Minh cần tuyệt vọng sự hậu thuẫn quần chúng của Ấn Quang, nhưng khi dân biểu Lý Quí Chung, người hậu thuẫn Minh, đến thăm Thích Trí Quang để bảo đảm sự hậu thuẫn của ông ta, ông thấy nhà sư “không mấy mặn mà.” Trong khi Quang không ưa Thiệu và muốn “một chính quyền có khả năng kết thúc chiến tranh và vãn hội hòa bình,” ông tin rằng Saigon cần một nhà lãnh đạo mạnh mẽ. Quang cho rằng “Minh không phải là một chính trị gia thực sự,” một cách tế nhị để khỏi phải phán xét.

Khi có ai đó chuyền đến tay Minh các hướng dẫn tranh cử được giữ kín của Ngân gửi cho các tỉnh trưởng, vị tướng lĩnh nổi doá trao một bản sao cho sứ quán Mỹ. Tài liệu vạch ra một chương trình hành động ấn tượng phối hợp với một kè hoạch cũng nổi bật không kém nhằm đàn áp phe đối lập. Rút kinh nghiệm từ kỳ tích bất ngờ của Trương Đình Dzu vào năm 1967, Ngân đã tạo ra một kế hoạch mới để thắng dựa vào sự phân tích đầu phiếu chi tiết và cách tổ chức thực địa siêu đẳng. Kế hoạch phác họa trách nhiệm cho các tỉnh trưởng nhằm bảo đảm thành công và phân công mỗi nhân viên chiến dịch tranh cử phải xác định xu hướng chính trị của khoảng 350 cử tri. “Mục tiêu,” Ngân viết, “là để có bảng phân tích cho mỗi làng và quận sẽ cung cấp sự hiểu biết rạch ròi về khuynh hướng cùa mỗi cá nhân cử tri.” Hơn nữa, tỉnh trưởng phải thành lập một ban tham mưu bí mật để “làm tê liệt các hoạt động của liên danh đối thủ. Những mưu mẹo và chiêu thức khác nhau có thể được tung ra để phá vỡ và làm tê liệt các phần tử đối lập” kể cả hối lộ, đe doạ, giam giữ các “tên thân Cộng”, và thuyên chuyển các công chức địa phương làm việc cho phe đối lập. Thị trường Richard Daley ở Chicago ắt hẳn cũng phải đố kỵ (Ông được bầu giữ chức thị trưởng Chicago trong 6 nhiệm kỳ liên tiếp: ND).

Minh lúng túng trước trận đánh tăng ào ạt về chính trị theo lối hiện đại của Ngân. Thay vì chiến đấu lại, và vì không được sức hậu thuẫn của Ấn Quang, vào ngày 20/8, ông rút lui. Bunker ra sức thuyết phục ông ngày hôm trước hãy ở lại vì điều tốt đẹp cho đất nước và thậm chí đưa ông tiền để ủng hộ cho chiến dịch tranh cử, nhưng Mình từ chối. Ngày hôm sau, trong điều được coi là một trò khác của Thiệu, Tối cao Pháp viện bất ngờ xử Kỳ được phép đăng ký ứng cử. Bunker ra sức thuyết phục Kỳ tiếp tục, nhưng Kỳ cũng từ chối.

Với sự “nghỉ chơi” của Minh và Kỳ, Thiệu cần trấn an với giới quân sự rằng mình không muốn biến thành một Diệm thứ hai. Vào ngày 23/8, ông cho họp lại Hội đồng Quân sự đang hoi hóp để xin được họ thông cảm cho việc mình cứ việc tiến hành bầu cử. Theo Ngân, Thiệu đưa ra đề nghị từ chức nếu Hội đồng Quân sự không ủng hộ mình. Mọi người đều nhất trí ủng hộ ông trừ Tướng Viên, không có ý kiến vì chủ trương quân đội đứng ngoài chính trị. Tiếp sau đó, vào ngày 29/8, Thiệu thăng chức cho gần 30 tư lệnh lên một bậc trong quân hàm. Trong đó có cả Ngô Dzu tai tiếng, một chỉ dấu cho thấy ưu tiên của Thiệu là việc “tề gia” chứ không phải là dư luận quốc tế. Ông cũng tỏ ra láu cả hơn cả Kỳ khi thăng cấp vị tư lệnh Không lực lên trung tướng, giờ vượt cấp vị phó tổng thống. Kỳ cũng biết rằng mình không thể sử dụng bản giao ước bí mật hai người đã ký vào năm 1967, bản giao ước cho Hội đồng Quân sự quyền phủ quyết Thiệu. “Sử dụng bản ấy chống lại ông ta,” Kỳ viết, “ắt hẳn sẽ bốc trần quân đội là trò hề, và khiến kẻ thù chúng ta xem những tiến bộ thực sự của chúng ta về dân chủ chỉ là rác rưởi. Công khai văn kiện đó chắc chắn sẽ khiến người Mỹ cuốn gói lẹ.”

Vào đầu tháng 7, với hơn 1,300 ứng cử viên vào Hạ viện, CQMN khởi động chiến dịch toàn dân đi bầu. Hạ viện được mở rộng từ 137 lên 158 ghế vì dân số gia tăng. Ứng cử viên không tranh cử nhân danh đảng, và về mặt kỹ thuật họ không đại diện một khu vực đặc biệt nào mà chỉ cho một nhóm 50,000 cử tri trong một quận. Mặc dù phần đông ứng cử viên đối lập ôn hòa đều được để yên, nhưng một số ít ứng cử viên chống đối Thiệu gay gắt thì bị các viên chức địa phương làm khó dễ. Ứng cử viên Công giáo kích động Ngô Công Đức đã bị Ủy ban Bầu cử bác đơn ứng cử vì bị gán là cảm tình viên của MTGP. Đức là chủ báo Tin Sáng, nhật báo đối lập chính ở Saigon, và khi tờ báo in bài viết về câu chuyện tình nổi tiếng của Thiệu ở Vũng Tàu, số phận của Đức đã bị định đoạt. Ngược lại,  Dương Văn Ba, cũng là một người Công giáo miền nam thân cận với gia đình bà Thiệu, đạt sít sao điều kiện ứng cử. Không giống Đức, Ba người từng được bầu làm tổng thư ký Hạ viện khóa đầu, thật ra là một đặc vụ nằm vùng của MTGP.

Vào cuối tháng 6, một chỉ thị được ban hành, giao việc tổ chức bầu cử cho  Lực Lượng Nhân Dân Tự Vệ. LLNDTV được giao nhiệm vụ động viên dân chúng đi bầu, bảo vệ họ, và phụ giúp ai cần được giúp đỡ đến phòng phiếu. LLNDTV sẽ “phát động một chiến dịch lớn” trước ngày bầu cử một tháng “để quảng bá cuộc bầu cử bảo đảm nhân dân hiểu rõ tầm quan trọng của cuộc bầu cử và rủ nhau đi bầu cho đông.” Họ cũng lên kế hoạch bảo vệ an ninh đề phòng kẻ địch phá hoại và hỗ trợ “những cử tri già cả, ốm yếu, và tàn tật đi bầu.” Để tránh cho là hù dọa cử tri, họ bị cấm mang vũ khí đến phòng phiếu. Dù Thiệu rõ ràng muốn có được một đa số vững chắc trong Hạ viện, chỉ thị không hướng dẫn LLNDTV vận động ai là người cử tri phải bầu mà chỉ khuyến khích đi bầu làm tròn “nghĩa vụ quốc gia.”

Ngày bầu cử là 29/8. Trong số hơn 7,000 phòng phiếu chỉ có một số ít đóng cửa vì bị VC can thiệp. Được LLNDTV “khuyến khích” rủ nhau đi bầu tỷ số tham gia đầu phiếu rất cao: 78 phần trăm so với 65 phần trăm trong kỳ bầu cử Thượng viện tháng 8 1970. Thiệu phấn khởi trước kết quả, cho rằng nó thể hiện tình đoàn kết và sức mạnh quốc gia, cho dù nhiều người đi bầu chỉ vì muốn tránh phiền nhiễu của cảnh sát khi bị hỏi thẻ cử tri không được đóng dấu của mình.

Như bầu cử Thượng viện 1970, phe Ấn Quang tạo ra đột phá. Phe Phật giáo thắng 24 ghế, hầu hết ở Quân đoàn I, nơi họ gần như hốt sạch phiếu. Trong khi việc tọng phiếu gian lận vào thùng là hiếm, một vài ứng cử viên đối lập như Dương Văn Ba bị quấy rầy trắng trợn và thất cử. Tối cao Pháp viện hủy bỏ kết quả trong ba tỉnh, trong đó có tỉnh của Ba. Cho dù Minh lớn tiếng cho Thiệu gian lận bầu cử, 42 dân biểu mới được biết là đối lập Thiệu, 81 thân Thiệu, trong khi 36 không rõ lập trường chính trị.

Nguyễn Bá Cẩn, dân biểu từng ra sức bảo vệ Trần Ngọc Châu, được bầu làm phát ngôn nhân mới, để tiến lên nắm quyền lực cao hơn. Lạ thay, chỉ có một thiểu số người đương chức thắng cử, cuộc bầu cử phục dựng sự nghiệp một vài chính trị gia tên tuổi Saigon, trong đó có Trần Văn Tuyên, VNQDĐ lão thành. Tuyên đã thất cử hồi năm 1967, nhưng lần này ông thắng một ghế tại Saigon. Một người chiến thắng khác là cựu tướng lĩnh Trần Văn Đôn, đại diện Tỉnh Quảng Ngãi nhờ Ấn Quang yểm trợ. Sau khi được bầu, ngài Đôn kín đáo nhanh chóng đổi sang phe Thiệu, nhờ đó ông được bầu làm chủ tịch Ủy ban Quốc phòng, làm bàn đạp vào bộ máy chính quyền.

Ngài Kỳ nóng nảy quyết định quạt cho cháy đám tro tàn của nỗi bất mãn công khai. Thoạt tiên, ông đòi Thiệu từ chức và tái quy định thể thức tuyển cử. Nhiều quan sát viên cũng yêu cầu hoãn lại bầu cử. Tuy nhiên việc đó phải cần quốc hội tu chính hiến pháp về tình trạng bầu cử độc diễn, một tiến trình dường như bất khả vì quốc hội cũ đã qua còn quốc hội mới chưa được hợp thức hóa. Bỏ ngoài tai lời kêu gọi từ chức của Kỳ, vào ngày 11/9, Thiệu tuyên bố trên truyền hình minh sẽ không từ chức. Sau đó Kỳ thuyết phục Viên triệu tập Hội đồng Quân sự cưỡng ép Thiệu rồi sau đó tổ chức một cuộc bầu cử mới. Viên từ chối với lý do nhất quán quân đội ở ngoài chính trị.

Kỳ quay sang sử dụng sức ép đường phố, ông kêu gọi tẩy chay bầu cử. Một số người bất đồng chính kiến nổi tiếng như Bà Ngô Bá Thành, cắm đùi trước quốc hội, nhưng rồi nhanh chóng bị bắt giữ và ném vào tù vì tội hành hung quan toà xét xử bà. Một số thương phế binh đáp ứng với lời kêu gọi vũ trang của Kỳ, cũng như nhóm sinh viên quá khích của Huỳnh Tấn Mẫm. Dưới sự chỉ đạo của Đoàn Thanh niên Saigon thuộc Trung ương Cục miền Nam, Mẫm nhờ Kỳ giúp đỡ. Là một người chẳng biết thận trọng là gì, “Kỳ đồng ý cấp cho họ … thiết bị văn phòng, xe cộ, (2,000) lựu đạn cầm tay Mark 3, loại dùng để huấn luyện.” Vào ngày 19/9, tay chân của Mẫm đánh nhau với cảnh sát trên đường phố Saigon và sử dụng lựu đạn để phá hủy thùng phiếu. Một tuần sau, chúng phát động một chiến dịch đánh bom lửa xe hơi Mỹ. Cảnh sát bố ráp ban lãnh đạo của chúng, nhưng Mẫm chuồn đến biệt thự của Minh. Không thể đốt lên một phản ứng cấp quốc gia, anh ta ẩn thân ở yên đó cho đến 1972 thì bị bắt khi lẻn đi ra ngoài.

Vì bầu cử độc diễn được ấn định vào ngày 3/10, nên Thiệu tuyên bố mình coi đó như cuộc trưng cầu dân ý về chính quyền của mình. Phiếu bầu sẽ là tín nhiệm hoặc bất tín nhiệm, và ông sẽ từ chức nếu không nhận được tối thiếu là 50 phần trăm số phiếu tín nhiệm. Một lần nữa ông báo tin cho Hội đồng Quân sự là mình sẽ từ chức nếu Mỹ cắt viện trợ vì quyết định độc cử của mình.

Ngay cả ngài Bunker vốn ngày thường lạc quan, trong báo cáo có lẽ là cay độc nhất của mình về miền Nam, kết luận rằng trong khi mỗi ứng cử viên “đã xử sự vô trách nhiệm ..  tôi sẽ cho Thiệu là người có lỗi nhiều nhất và phải giải thích rõ ràng.” Theo ý kiến ngài đại sứ, “Thiệu đã đi quá xa.” Bunker muốn một cuộc tranh cử gay go thể hiện một cuộc bầu cử công bình và tự do để đánh đổ lời cáo buộc rằng Thiệu là một nhà độc tài. Một chiến dịch như thế sẽ giúp duy trì sự hậu thuẫn của quốc hội và công luận Mỹ cho cuộc chiến và lấy đó để so sánh với chế độ độc đảng của Hà Nội. Thay vào đó, quyết định của Thiệu đã cho phong trào phản chiến một cái dùi cúi để quật lại mình. Phương cách tỏt nhất để tác động đến thái độ chống đối Thiệu của người Mỹ là mô tả ông là người “chống dân chủ.”

Cuộc bầu cử êm xuôi, và tỉ số cử tri đi bầu là 88 phần trăm, 91 phần trăm trong số đó ủng hộ ông tiếp tục ở lại cầm quyền. Ấn Quang vẫn duy trì là phe đối lập chính của Thiệu, kích bác nhưng không còn thù địch gay gắt như trước. Các chính đảng cũ, trừ PTQGCT và Đảng Công Nông của Bửu, một lần nữa hoạt động một cách cầm chừng. Các chỉ huy quân sự cao cấp, được gài toàn là người trung thành với Thiệu, không chịu bày mưu trong bóng tối. Nông thôn, dù lạnh nhạt với chính trị, nhận thức bầu cho Thiệu thì có lợi cho mình hơn. Chỉ có giới ưu tú thành thị là vẫn còn khinh thị Thiệu.

Dù tốt hơn hay tệ hơn, Thiệu đã trở thành trục xoay mà chính trị miền Nam quay quanh nó. Dù khi nắm quyền lãnh đạo đất nước trong bốn năm, ông đã dỡ bỏ tai tiếng là một con cờ của Mỹ và đương đầu với cách kết thúc cuộc chiến: hoà đàm, tiếp theo là bầu cử  có MTGP tham gia. Mục tiêu của ông là có thể hiểu được; phương pháp của ông là đầy tai tiếng. George Carver của CIA, một quan sát viên sắc sảo về Việt Nam, nói rõ việc tính toán sai lầm của Thiệu: “Thiệu có thể đã đánh bại dễ dàng bất kỳ đối thủ nào … trong một cuộc bầu cử đàng hoàng và hoàn toàn cởi mở. Bằng cách làm như thế, ông có thể đã tự hào là người bảo vệ tính hợp hiến của chính quyền mình và đặt phe chỉ trích ông và địch thủ ông – Cộng sản hay không Cộng sản, Việt Nam hoặc nước ngoài – ở trong một tình thế lúng túng. Thay vào đó, ông đã cho nổ tung tất cả. …

Tại sao Thiệu, trong khi ý thức về công luận quốc tế vốn hay gièm pha mình nhiều hơn là mình đáng thế, lại có hành động mắt lấp tại ngơ như vậy? Rõ ràng có những mục tiêu chính sách không nói ra chẳng hạn bắt  buộc một cuộc tổng tuyển cử với Minh về đối thoại hòa bình để củng cố vị thế của mình ở Paris. Nhưng bên dưới lẩn khuất các nỗi sợ cá nhân nghiêm trọng. Bất kể các trấn an từ Nixon, Thiệu âm thầm nhắm đến việc chiếm đa số phiếu để ngăn người Mỹ khỏi trao đổi việc ông ra đi với một sự rút lui danh dự. Ngân cho rằng Thiệu bảo với mình ông Htin rằng người Mỹ “muốn thay thế tôi với Minh trong cuộc bầu cử tháng 10 vì nếu Mình thắng ông ta có thể sẽ yêu cầu người Mỹ hoàn toàn chấm dứt sự can thiệp, sẽ tạo điều kiện cho người Mỹ bỏ rơi miền Nam theo một cách đúng đắn và thích hợp mà không sợ bị kết án là phản bội đồng minh của mình.” Nguyễn Bá Cẩn, giờ là chính trị gia quyền lực thứ tư ở Saigon, cũng có các ý kiến mang tính âm mưu tương tự. Ông viết

chúng ta biết rất rõ ràng Hoa Kỳ hậu thuẫn Minh trong cuộc bầu cử này, cũng như họ đã hậu thuẫn Trương Đình Dzu chống lại Thiệu trong chiến dịch bầu cử đầu tiên … Sau này, sau khi xem xét lại các chiêu đòn và mưu tính của Mỹ trong chính sách đối với miền Nam, tôi kết luận rằng người Mỹ đã sắp xếp cho Minh rút ra khỏi cuộc bầu cử và đã cho phép giới truyền thông, và nhất là giới truyền thông Hoa Kỳ, công kích Thiệu vì “cuộc tái đắc cử độc diễn’ của mình để đặt Thiệu vào một thế yếu sau đó sẽ cho phép người Mỹ kiếm soát và ép buộc ông để họ có thể áp đặt kế hoạch của mình là bán đứng và phản bội Việt Nam.

Do đó, Kissinger đến gặp ông vào tháng 7 và sau đó gặp Kỳ và Minh, nỗi sợ của Thiệu càng lớn mạnh. Ông kết nối việc Bunker gặp gỡ Minh thuyết phục ông ta ở lại tranh cử với việc Mỹ hậu thuẫn vị cựu tướng lĩnh. Điều người Mỹ dự định như một sự thể hiện công khai giải pháp trung lập Thiệu xem như là các mưu tính của người Mỹ. Các tính báo của ông cũng báo cáo với ông về các tiếp xúc của người Mỹ với các nhân vật đối lập khác, các cuộc gặp gỡ khiến các ngờ vực của ông dường như có thật.

Rồi hai sự kiện đáng báo động xảy ra đồng thời. Tùy viên của Nixon Alexander Haig báo tin cho Thiệu vào tháng 9 rằng người Mỹ chuẩn bị đưa ra đề nghị Thiệu từ chức để dẫn dụ Hà Nội chịu chấp nhận đề xuất hòa bình của Mỹ. Khi vào khoảng nửa số Thượng nghị sĩ miền Nam trong cùng ngày với Haig cũng yêu cầu ông từ chức vì cuộc bầu cử độc diễn, Thiệu thấy đây là chứng cứ của mối ngờ vực của mình. Trong khi Thiệu không nghĩ người Mỹ đang lên kế hoạch cho một cuộc đảo chính chống mình, ông tin rằng ông phải làm bất cứ điều gì cần thiết để phong tỏa một cú đảo chính chính trị.

Trong khi những nỗi sợ này quay cuồng trong tâm trí được biết là vốn đa nghi của Thiệu, không may cho đất nước ông, nỗi đau lớn dần của một nền dân chủ non trẻ đã đổ tràn trên mặt báo và màn hình TV: tình trạng áp bức, tham nhũng, Chuồng Cọp, và buôn lậu ma túy, chỉ liệt kê một ít. Những vụ xì-căng-đan không ngớt, các chỉ trích thuộc ý thức hệ, cộng thêm số thương vong của binh lính Mỹ, đã làm yếu đi không thể phục hồi quyết tâm của dân chúng Mỹ muốn giúp đỡ miền Nam. Cuộc bầu cử độc diễn là giọt nước làm tràn ly.

Một cuộc khảo sát quốc gia do Viện Harris thực hiện vào cuối tháng 10 1971 cho thấy 65 phần trăm dân Mỹ giờ nghỉ rằng cuộc chiến không chỉ là một sai lầm mà còn “sai về mặt đạo lý.” Trận thảm bại ở Lào đã tước đi mọi hy vọng rằng Việt Nam hóa có thể thành công. Khoảng 53 phần trăm không tin CQMN có thể “ngăn được người Cộng sản chiếm đóng sau khi Hoa Kỳ rút quân.*

Canh bạc bầu cử của Thiệu đã đi lạc vào bi kịch Hy Lạp, và với việc Hà Nội đang bí mật chuẩn bị một cuộc công kích lớn để tiêu diệt cộng cuộc bình định và “đuổi Nixon đi”, quả đấm kép này mở màn cho việc Saigon trượt dốc không đảo ngược được đến chốn tận diệt. (còn tiếp)


Nguồn:

https://nghiencuulichsu.com/2021/11/24/guom-da-tuot-ra-noi-mien-dat-xa-xoi-nhung-uoc-mo-tan-vo-cua-mien-nam-phan-20/

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?