1685 - Gươm đã tuốt ra nơi miền đất xa xôi - Những ước mơ tan vỡ của Miền Nam (Phần Cuối)
Tác giả: George J. Veith
Trần Quang Nghĩa dịch
VAI DIỄN CUỐI CÙNG: TRUNG QUỐC
Tiết lộ sau đây đã được trích xuất từ hơn một thập niên phỏng vấn và trao đổi thư điện tử với Nguyễn Xuân Phong cho đến khi ông qua đời vào tháng 7/2017. Trong hơn 30 năm qua, ông không bảo với ai về sứ mạng âm thầm cuối cùng của mình nhằm cứu lấy đất nước. Ông ghi chép rằng trong lúc ngồi tù sau chiến tranh, “tôi đã bị thẩm vấn suốt hai năm để moi ra chuyện gì đã xảy ra với người Trung Quốc, nhưng tôi không khai cho họ biết.” Một lần, lính gác đánh ông thậm tệ và làm gãy hai xương sườn, nhưng ông vẫn tiếp tục kín miệng về các hành động can thiệp của Trung Quốc trong những ngày cuối cùng.
Tuy là người lịch thiệp, thích họp mặt, và dí dỏm hay chấm phá các lời đối đáp bằng các tiếng lóng thời thập niên 1960, chỉ sau khi đưa cho ông nhiều tài liệu của Pháp và Mỹ đã được giải mật mô tả chi tiết về những nỗ lực ngoại giao của cả hai nước vào tháng 4 năm 1975, cuối cùng ông mới tiết lộ thực chất của thông điệp bí ẩn của mình. Dựa vào các bàn luận này, và nghiên cứu sâu hơn chắp vá với nhau một tập hợp chứng cứ thứ hai dường như chứng minh cho lời kể của ông, nhưng không may, không có chứng cứ về tài liệu nào đã được ấn hành để khẳng định điều này. Lời kể này chứa những điểm then chốt của câu chuyện đầy mê hoặc của ông, một câu chuyện lật úp lại đoạn lịch sử đã được nhìn nhận về những ngày cuối cùng của chiến tranh.
Khi Phong bay về Saigon, ông quyết tâm ngăn cản một “trận đánh vào Saigon.” Các đại diện VNDCCH đã ngỏ lời với ông, người Pháp, và những người khác rằng nếu Minh không được dựng lên vào ngày 26/4, họ sẽ san bằng Saigon với 20,000 quả pháo. Liệu đây có phải hù doạ hay không thì không chắc chắn, nhưng quả là mối đe doạ chết chóc, một mối đe doạ mà Phong cho là rất nghiêm trọng.
Khi Phong về đến, ông lập tức đến gặp Hương. Bởi vì ông quen biết với vị phó tổng thống nay đau mai yếu này nhiều năm rồi, ông không thể nói thẳng với người bạn già hãy bước xuống. Thay vào đó, trong văn phòng của ông ta, Phong chỉ khẳng định với ông già không còn hy vọng gì để thương lượng. Hương lắng nghe chăm chú, và ngày hôm sau, ông triệu tập quốc hội . Phong không đề cập đến thông điệp ông mang theo, vì ông biết rằng sự kiện khởi động là việc Minh lên nắm quyền và chấp nhận liên hiệp với CQCMLT.
Vài ngày sau, Phong gặp Trần Văn Đôn và một đại diện của CQCMLT để bàn luận về khả năng liên hiệp. LS Trần Ngọc Liểng, đặc vụ Cộng sản nằm vùng, có mặt làm người đại diện Minh. Phong tế nhị thông báo cho viên chức CQCMLT tại buổi họp này rằng Pháp và các nước khác sẽ hỗ trợ chính quyền mới, nhưng ông trình bày mơ hồ một cách có cân nhắc. Đây là nỗ lực duy nhất của Phong trong sự kiện chuyển giao công văn bùng nổ của mình. Ngày hôm sau, Minh tuyên thệ, nhưng cuộc tiến công của Bắc Việt nhanh chóng trấn áp các lực lượng phòng thủ của QĐVNCH quanh Saigon, và chiến tranh kết thúc.
Thông điệp Phong mang đến là gì? Người Trung Hoa, ông nói, rất muốn chính phủ CMLT lên nắm quyền thông qua công thức của người Pháp để ngăn Bắc Việt thôn tính miền Nam. Sau khi chính phủ liên hiệp được thành lập, Minh sẽ phát đi lời kêu gọi cầu viện. Người Pháp sẽ lên tiếng rằng một lực lượng quốc tế sẽ tiến vào miền Nam để bảo vệ chính quyền mới. “Gân cốt” ban đầu, như cách nói của Phong, sẽ là “hai sư đoàn Dù của Trung Cộng vào Biên Hòa.” Bắc Kinh yêu cầu bốn ngày để chuẩn bị binh lính và chuyển quân như con thoi đến phi trường. Phong lý giải suy nghĩ của họ:
Bắc Kinh không thể đường đột làm chuyện này một cách trực tiếp, nhưng họ muốn người ta biết rằng họ đang … để người Pháp làm chuyện này! Vì chính trị quốc tế … Bắc Kinh không thể ngang nhiên can thiệp quân sự vào miền Nam. Pháp sẽ cần kêu gọi một vài quốc gia tham gia vào một ‘lực lượng quốc tế’ (trong đó người Pháp làm đầu tàu) để cho phép Bắc Kinh can thiệp. Một số vấn đề đang đối mặt với Bắc Kinh vào lúc đó: Số lượng lực lượng quân sự Trung Cộng nên sử dụng và họ phải ở lại miền Nam bao lâu để ngăn cản và đánh dẹp quân đội miền Bắc? Họ hứa sẽ dừng chân lâu mau tùy theo tình thế đòi hỏi, nhưng theo ý họ khoảng 3 đến 6 tháng là thời gian tối đa họ có thể tham gia … vì họ không muốn bị lên án là chiếm đóng miền Nam bằng vũ lực.
Tại sao Trung Cộng muốn can thiệp quân sự để ngăn cản thắng lợi của Bắc Việt, nhất là sau những năm tháng hậu thuẫn Hà Nội? Trung Cộng muốn một miền Nam trung lập chỉ cốt để ngăn ngừa bị bao vây bởi một hiệp ước Mát-cơ-va-Hà Nội tiềm năng. Một sử gia khẳng định rằng “các giới học giả đều đồng thuận là vào năm 1973 giới lãnh đạo Trung Cộng quan ngại sâu sắc về việc Hà Nội nghiêng về phía Mát-cơ-va.” Trong khi mối quan hệ giữa hai siêu cường Cộng sản đã trở nên xấu đi kể từ đầu thập niên 1960, Trung Cộng đã bắt đầu e sợ sự can thiệp quân sự của Nga sau vụ xâm lược Tiệp Khắc vào năm 1968. Tuyên bố tiếp theo đó của Học thuyết Brezhnev cho rằng họ có quyền lật đổ bất kỳ chính quyền Cộng sản nào đi ra khỏi quỹ đạo của Mát-cơ-va càng làm Bắc Kinh thêm quan ngại. Vào tháng 3/1969, các vụ xung đột vũ trang bùng nổ dọc theo biên giới Xô-Viết và Trung Quốc, và người Nga rắp tâm lôi kéo Ấn Độ và Bắc Hàn tham gia một liên minh chống Trung Quốc. Mặc dù nỗ lực của Nga thất bại, động thái này báo động với Băc Kinh. Theo Phong, cuộc gặp gỡ của ông với đặc sứ của Chu Ân Lai vào tháng 12/1970 là nước cờ mở màn của Bắc Kinh với Saigon để ngăn cản một Việt Nam thống nhất.
Không ai bị sốc khi hay biết về thay đổi động trời này trong chính sách Trung Cộng hơn đặc phái viên tổng thống Mỹ Alexander Haig. Gặp Chu Ân Lai vào năm 1972 như một phần công việc của đội tiền trạm trước cuộc viếng thăm của Nixon. Chu báo một tin làm Haig giật mình: “Đừng để bại trận ở Việt Nam.” Mặc dù tất cả những ngôn từ mạt sát Saigon phát xuất từ Bắc Kinh, “điều cuối cùng mà Bắc Kinh muốn,” Chu giải thích, “là một nhà nước chư hầu của Xô-Viết hung hăng và vũ trang đến tận răng ở biên giới phía nam".
Haig báo cáo rằng Chu “xem thảm bại và việc rút quân của người Mỹ khỏi Đông Nam Á là … hiểm hoạ đối với Trung Quốc. … Ông dường như đặc biệt quyết tâm cho tôi hiểu được lời ông muốn nói liên quan đến chiến tranh ở Việt Nam. ” Nayan Chanda, thông tín viên đầy uy tín của báo Far Eastern Economic Review, kể rất chi tiết mối quan ngại của Trung Cộng về một Việt Nam thống nhất. Ông viết rằng Bắc Kinh đã “luôn theo đuổi chính sách duy trì bằng bất cứ phương thức nào một Đông Dương phân mảnh ngoài ảnh hưởng của các siêu cường quốc. Những phương thức này bao gồm ngoại giao kín đáo, thuyết phục kinh tế, và, tất nhiên, sử dụng vũ lực quân sự.” Chanda sau đó ghi nhận rằng
"người Việt Nam vào tháng 4/1975 cho rằng Bắc Kinh thúc giục Hà Nội không phát động cuộc tấn công cuối cùng vào Saigon. Tuyên bố đó, như quá nhiều tuyên bố khác do người Việt tung ra kể từ khi họ công khai đoạn giao với Trung Quốc, có thể chỉ là tuyên truyền. Nhưng Philippe Richer, người từng làm đại sứ Pháp tại Hà Nội vào năm 1973-75, sau này khẳng định rằng vào ngày 20/4/1975 – chín ngày trước khi Saigon thất thủ – Bắc Kinh đúng là có cảnh báo với Hà Nội về mối nguy hiểm khi “vươn cây chổi quá xa,” sử dụng lối ẩn dụ mà Mao đã dùng vào năm 1972.
Người Trung Quốc cũng được cho là đã tiếp cận với Nguyễn Cao Kỳ. Trong một cuộc phỏng vấn với William Buckley trong chương trình Firing Line vào tháng 9/1975, vị phó tổng thống năm xưa tuyên bố rằng đâu đó vào cuối năm 1972, các đặc vụ Trung Cộng đã đến nhà ông tại Saigon. Kỳ nói rằng họ yêu cầu mình lật đổ Thiệu và “tuyên bố miền Nam trung lập, không đứng về phe Nga hay Mỹ.” Nếu ông ta chịu làm điều đó, “người Trung Quốc sẽ hậu thuẫn ông bởi vì chúng tôi đã gặp rắc rối ở biên giới phía bắc với người Nga. Chúng tôi không muốn thấy sườn phía nam của chúng tôi bị một tay sai của Nga chiếm đóng.” Kỳ lặp lại chuyện này trong một bài nói chuyện vào tháng 12/1975 tại Hoa Kỳ, tuyên bố rằng “một nhóm đặc vụ Trung Cộng đã đến nhà ông … và đề xuất một cuộc đảo chính do Trung Quốc yểm trợ để lật đổ Thiệu.” Tại sao Kỳ không hề đề cập sự kiện này trong các hồi ký của mình là điều khó hiểu.
Vì Thiệu không đáp ứng với lời mào đầu của Trung Quốc, khi vào tháng giêng 1974 Trung Cộng đánh chiếm Quần đảo Hoàng Sa, Bắc Kinh sử dụng sự kiện này để tìm cách bắc liên lạc với ông một lần nữa. Khi người Trung Quốc cho hồi hương những thủy thủ miền Nam bị bắt qua con đường Hongkong, họ đã nhờ vị tổng lãnh sự VNCH trao cho Thiệu một thông điệp xin một cuộc họp bí mật. Tuy Phong không có liên can đến nỗ lực đó, ông được cho biết về việc đó, thêm một nỗ lực thứ hai của người Trung Hoa vào mùa hè 1974 với sứ quán VNCH tại London. Một khẳng định từ kênh Hongkong đến từ Jim Eckes, một bạn thân của Phong, người mà lúc đó là quản lý cho hảng hàng không thương mại tại Saigon. Gia đình Eckes sống tại Hongkong, còn ông đi đi về về. Vị tổng lãnh sự CQMN nhờ Eckes giao thông điệp cho Thiệu, nhưng thay vào đấy Eckes lại chuyển nó cho Đại sứ Martin. “Thông điệp”, Eckes nói, “chết dí trong tay Martin.”
Mặc dù Phong đã thông tin cho Thiệu về màn mở lời của Trung Quốc, vị tổng thống đã bác bỏ đề nghị của họ. Phong phát biểu rằng vào đầu năm 1975, Trung Cộng “thất vọng trước ‘sự thiếu hiểu biết hoàn toàn'” của Thiệu. Tuy nhiên, sau khi mất Phước Long, “những nỗ lực của Trung Cộng trở nên cuống cuồng vào những tháng cuối cùng … với các thông điệp lặp đi lặp lại với tôi ở Paris.”
Vào tháng 3/1975, người Mỹ bắt đầu biết được nỗi bực mình của Trung Cộng trước chủ nghĩa phiêu lưu quân sự của Hà Nội. CIA phân tích rằng “giới lãnh đạo Trung Quốc gần như chắc chắn nhận ra rằng một chiến thắng của Hà Nội sẽ đưa Bắc Kinh vào một cuộc tranh chấp thẳng thừng và mắc mỏ hơn với cả Hà Nội và người Xô-Viết.” Vào đầu tháng 4, Đại sứ Martin thông báo cho Kissinger rằng ông ta đang nhận được “từng mẩu tin về việc qua lại ngoại giao và tình báo cho thấy sự bực bội của Liên Xô và Trung Quốc về … sự hung hăng của Bắc Việt. Tôi nghiêng về việc tin rằng người Trung Quốc chắc chắn cảm nhận theo cách này.”
Tin tình báo này bắt nguồn từ các cuộc gặp với các viên chức Trung Quốc và nhà báo ở Hong Kong. Phong nhớ lại rằng vào tháng 3/1975, Trung Quốc đang mất hết hy vọng là họ có thể thuyết phục được CQCMLT chấp nhận đề xuất của mình, họ cũng bực bội Thiệu, và họ sợ Hoa Kỳ sẽ giao Việt Nam cho người Xô-Viết để cải thiện hòa hoãn. Nhưng cuộc tiến quân nhanh chóng của Bắc Việt buộc Trung Cộng hành động mau lẹ để giữ lại một miền Nam tách biệt. Bắc Kinh và Paris muốn Minh cầm đầu chính quyền liên hiệp bởi vì phải cần một tướng lĩnh QĐVNCH để cầm chịch cho quân đội miền Nam, Minh được CQCMLT chấp nhận, và Trung Quốc không muốn giải tán chính quyền. Theo Phong,
"liên minh chính trị’ (một liên minh không phò Bắc Việt) ở miền Nam phải có năng lực bảo vệ an ninh quốc gia. Bắc Kinh thề trên đầu con em họ rằng việc cuối cùng họ muốn là làm một lực lượng chiếm đóng ở miền Nam. Vì lý do đó, họ nói rằng chỉ có VNCH mới có thể thi hành sứ mạng này. Vấn đề là vì QĐVNCH không được tiếp vận hoặc không còn trang thiết bị nào, họ có thể làm gì? Họ nói rằng sự hiện diện của một ‘lực lượng quốc tế’ ở miền Nam có thể giải quyết vấn đề này … Điều tôi cũng có thể kể cho ông biết là, việc Hà Nội ngờ vực vào khả năng xen vào của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc …. theo tôi là nguyên nhân chính tại sao Hà Nội không tiến hành giải pháp ngừng bắn và đường lối văn minh để kết thúc chiến tranh bằng một thắng lợi ngoại giao vang dội thay vì một thắng lợi quân sự chết chóc.
Nếu Phong là người đưa tin duy nhất mang thông điệp này, ông có thể dễ dàng bị cho qua. Nhưng ông không. Vị tướng Pháp hồi hưu Paul Vanuxem đã từng quen biết Thiệu và các sĩ quan Việt Nam cao cấp khác ngay từ thời Chiến tranh Đông Dương Thứ nhất, ông thỉnh thoảng đến thăm Thiệu trong những năm qua và đã trở lại Việt Nam vào những ngày cuối cùng như một thông tin viên cho tuần báo Carrefour của Pháp. Vanuxem ấn hành một quyển sách mỏng vào cuối năm 1976 mô tả chi tiết những ngày cuối cùng của chiến tranh. Ông ghi nhận rằng ông có mặt tại Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 để nói chuyện với Minh. Trong khi ông viện dẫn lý do cho mục đích của mình, phát biểu rằng “mọi tâm trí đang tê liệt vì sợ hãi và không còn có khả năng chấp nhận những màn mở đầu được trình bày lúc đó và có thể đã cứu được mọi thứ,” ông nói ra những chi tiết cực kỳ nguy kịch.
Có nhiều nhân chứng khác nhau chính mắt nhìn thấy Vanuxem trao đổi với Minh và chuyển đến một thông điệp tương tự như của Phong. Tuy những người này kể các phiên bản hơi khác nhau về cuộc đối thoại, tất cả đều có mặt trong phòng, và một vài người là đặc vụ Cộng sản nằm vùng. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đưa ra tiết lộ đầu tiên vào năm 1981 trong cuộc phỏng vấn cho loạt phim của kênh PBS Việt Nam: Thiên Sử Truyền Hình. Hạnh, mà Minh cho gọi trở lại khi đang nghỉ hưu, là một đặc vụ Cộng sản cắm sâu một thời gian dài. Ông cùng với Minh có mặt tại Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4. Hạnh kể lại:
"việc đầu tiên Vanuxem nói là ông đã vừa từ Paris đến. Trước khi đến, ông đã gặp nhiều nhân vật, trong đó có các thành viên của sứ quán (Bắc Kinh). Ông đề nghị Minh ra tuyên bố rằng mình sẽ bỏ Mỹ và đi về phe Trung Quốc. Theo ông ta, nếu chúng ta làm điều đó Trung Quốc sẽ tạo áp lực với Hà Nội để họ ngừng bắn trong phần phía nam Việt Nam. Sau khi suy nghĩ, Minh liền gạt đề xuất đó. Và khi Vanuxem khẩn khoản xin Minh kéo dài tình hình thêm 24 tiếng nữa, Minh cũng bác bỏ ý kiến đó. Sau khi Vanuxem đi rồi, chúng tôi tuyên bố chuyển giao quyền lực.
Nguyễn Văn Diệp, tổng trưởng kinh tế và điệp viên ngầm, đồng ý là “Vanuxem có đến gặp Minh cố gắng cổ vũ và thuyết phục ông ta rằng tình thế vẫn chưa tuyệt vọng. Vanuxem đến ngay sau khi Minh vừa thu băng xong lời tuyên bố đầu hàng.” Sau khi Minh bảo với ông ta là tình thế đã tuyệt vọng rồi, Vanuxem trả lời “vẫn chưa tuyệt vọng. Tôi đã sắp xếp việc này ở Paris. Tôi yêu cầu ngài công khai nhờ đến Quốc gia C (China) bảo vệ ngài.” Vanuxem nhờ Minh cầm cự trong ba ngày, nhưng Mình từ khước.
Dân biểu đối lập Lý Quí Chung, người mà Minh đã bổ nhiệm làm tổng trưởng thông tin, khẳng định rằng
"Vanuxem nói rằng mình muốn đưa ra một kế hoạch cho Minh để cứu vớt tình thế tuyệt vọng mà chế độ Saigon đang đối mặt. Vanuxem nói rằng Minh phải đưa ra công khai lời kêu gọi một cường quốc can thiệp, và rằng nếu chính quyền miền Nam phát đi lời yêu cầu chính thức cường quốc này sẽ can thiệp ngay lập tức. Minh cười chua chát và đáp lại, tôi cảm tạ ngài đã có thiện ý, nhưng suốt đời tôi đã phục vụ như một tên đầy tớ cho người Pháp rồi sau đó đầy tớ cho người Mỹ. Như vậy là đủ rồi. Tôi không muốn làm một tên đầy tớ thêm một lần nữa".
Những người khác cũng đưa ra những lời kể tương tự. Nguyễn Hữu Thái, lãnh tụ sinh viên lâu năm và đặc vụ Cộng sản bí mật cũng có mặt tại Dinh, phát biểu rằng “Vanuxem yêu cầu được nói chuyện với Tướng Minh. Vanuxem bảo với nhóm, ‘Các ông phải rút lui về Cần Thơ và cố gắng phòng thủ Quân đoàn IV. Trong một ít ngày Trung Quốc sẽ áp đặt một giải pháp trung lập hóa miền Nam.’ Tướng Minh thốt lên cùng lời phàn nàn: “Đầu tiên là người Pháp rồi tới người Mỹ, và bây giờ họ muốn chúng tôi trở thành đầy tớ của người Trung Quốc!” Tùy viên quân sự của Minh, Thiếu tá Trịnh Bá Lộc, người đã phục vụ Minh từ 1957 nhưng không phải là đặc vụ Cộng sản, khẳng định rằng Vanuxem yêu cầu Minh “hoãn lại lệnh đầu hàng. Chính phủ Pháp và tôi sẽ kêu gọi Chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa can thiệp. Với một cái nhìn nghiêm nghị trên nét mặt Tướng Minh trả lời, ‘Chúng tôi vừa yêu cầu người Mỹ hãy rời Việt Nam trong vòng 24 giờ tới. Chúng tôi không thể yêu cầu Trung Cộng can thiệp vào vấn đề nội bộ Việt Nam.'”
Nhà báo Pháp Olivier Todd cũng có cho tin về lời bình phẩm của Vanuxem. Todd viết rằng Vanuxem đề nghị Minh “nên nhờ Trung Quốc xâm lăng miền Bắc. Rồi sau đó Paris sẽ đóng vai trung gian.” Xét việc có gián điệp tại buổi họp với Minh, Hà Nội ắt biết tỏng đề xuất của Vanuxem. Văn Tiến Dũng, vị tướng Bắc Việt chỉ huy cuộc tổng công kích, viết rằng “Vanuxem … vội vã từ Pháp đến Saigon.” Vào ngày 30/4, y ra sức “can thiệp vào cuộn băng Minh đã thu âm … và trình bày một kế hoạch để phong tỏa cuộc tổng tiến công vào Saigon của chúng ta,” mặc dù “vẫn còn chưa thuận lợi để nói nhiều về họ.”
Không có gì ngạc nhiên, mối quan hệ Việt-Trung sau chiến tranh nhanh chóng trở nên chua chát. Gặp Lê Duẩn vào tháng 9/1975, lãnh tụ Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khiển trách ông ta vì những tuyên truyền gần đây của Việt Nam cho Trung Quốc như là “mối đe doạ từ phương Bắc … chúng tôi không yên tâm về việc này.” Liệu lời phê phán của Đặng, vốn lên án việc tuyên truyền chống Trung Quốc, cũng phản ánh nỗi e sợ không nói ra là Lê Duẩn cũng đã biết về âm mưu của Trung Quốc hay không, ta không biết được.
Tuy nhiên, sau khi Trung Quốc và Việt Nam giao tranh một trận tuy ngắn nhưng ác liệt trên biên giới vào tháng 2/1979 (vì những lý do không liên quan đến tháng 4/1975), Hà Nội xuất bản một quyển sách lên án “các âm mưu” của Trung Quốc nhằm chống lại Việt Nam. Họ viện dẫn đến biến cố Vanuxem bằng cách tuyên bố rằng Trung Quốc “tìm cách xúi giục các tướng lĩnh Saigon và các viên chức chính quyền hợp tác với họ, và họ thậm chí gửi ai đó cố thuyết phục Tướng Dương Văn Minh … nhằm tiếp tục kháng cự cuộc tổng tiến công và nổi dậy của binh sĩ và nhân dân miền Nam.”
Lê Duẩn, nói sau cuộc chiến biên giới tháng 2/1979, cho rằng ông đã luôn cảnh giác với những mưu đồ của Trung Quốc đối với xứ sở mình. Trong một tài liệu được sử gia Christopher Goscha phát hiện, Lê Duẩn nói, “Khi chúng ta đánh thắng ở miền Nam, có nhiều nhà lãnh đạo ở Trung Quốc không hài lòng … Sau khi đánh bại người Mỹ chúng ta vẫn giữ nguyên một triệu quân, khiến các đồng chí Liên Xô thắc mắc: ‘Các đồng chí, bộ các đồng chí tính đánh ai nữa sao mà vẫn giữ một quân đội thường trực to lớn như vậy?’ Tôi trả lời, ‘Các đồng chí ạ, sau này các bạn sẽ hiểu.’ Lý do duy nhất chúng ta vẫn duy trì một quân đội thường trực như thế là vì mối đe doạ Trung Quốc đối với Việt Nam. Nếu không có mối đe doạ ấy, thì quân đội thường trực to lớn đó là không cần thiết.”
Nhân dịp kỷ niệm năm thứ 10 ngày Saigon thất thủ, Hà Nội cuối cùng thừa nhận có mưu toan can thiệp của Trung Quốc. Một viên chức cho rằng “giới thẩm quyền Trung Quốc nuôi dưỡng một âm mưu cực kỳ thâm độc. Như Dương Văn Minh, vị tổng thống cuối cùng của chế độ bù nhìn, tiết lộ: Vào buổi sáng ngày 30/4/1975, qua trung gian của Vanuxem … Trung Quốc yêu cầu Minh cầm cự chiến đấu ít nhất 24 tiếng để có đủ thì giờ tuyên bố đoạn giao với Hoa Kỳ và đồng minh với Trung Quốc. Trung Quốc sau đó sẽ gia tăng sức ép, kể cả việc đem binh sĩ vào Việt Nam nhằm kết thúc hận thù vì lợi ích của Trung Quốc.”
Trong khi nhiều nhân chứng làm chứng cho phát ngôn của Vanuxem, một vài nhân vật chủ chốt nghi vấn việc ông mang một thông điệp từ chính phủ Pháp. Phong nói rằng mình không biết gì về hành động của Vanuxem, mặc dù khi được tác giả thông tin, ông xác nhận Vanuxem “đi với tôi trên chuyến bay Air France đến Saigon trước khi thành phố thất thủ. Tôi chắc chắn ông ta phải nghe điều gì đó về những gì đang xảy ra lúc đó, nhưng tôi cũng chắc chắn ông không có vai trò gì trong đó, mặc dù ông có thể hỗ trợ chút gì đó trong các nỗ lực của Pháp (để thành lập một chính quyền liên hiệp).”
Gia đình Vanuxem cũng không tin rằng chính quyền Pháp đã sử dụng ông như một người đưa tin. Họ lập luận rằng việc ông dính líu vào cú đảo chính thất bại của quân đội Pháp vào tháng 4/1961 (tại Algeria, một thuộc địa Pháp) biến ông thành một kẻ bị hất hủi của chính quyền Pháp. Vanuxem bị hai năm tù, tài sản bị tịch thu, và con cái không được phép đến trường. Ông đến miền Nam đơn giản như một nhà báo, và ông không hề đề cập đến biến cố này với gia đình. Pierre Brochard cực lực khẳng định Vanuxem “không phải là một đặc sứ của Pháp. Tuy là một người thuộc Đông Dương cũ, ông không có mối quan hệ nào với sứ quán, và tôi chưa hề gặp ông ấy.” Trong khi ông nhìn nhận “Người Trung Quốc không vui sướng gì khi Hà Nội nắm quyền kiểm soát,” nhưng Brochard không nhớ có tiếp xúc nào với Trung Quốc, cũng không tin là Bắc Kinh sẽ có toan tính đột nhập quân sự vào tận Biên Hòa. “Lúc đó tình hình tuyệt vọng lắm rồi,” ông nói. Bà xã của Mérillon cũng xác nhận bà chưa hề gặp Vanuxem và rằng Brochard rất thân cận với chồng mình.
Có thể nào Vanuxem đã nghĩ ra trò này theo ý riêng của mình không? Frank Snepp ở sứ quán Mỹ viết rằng vào buổi sáng ngày 25/4, đài phát thanh Saigon hét tướng lên “Lê Duẩn sát hại đối thủ chính trị chính của mình tại Hà Nội! Quân Trung Cộng tràn qua biên giới vào miền Bắc để trả thù cho người bị hại chết! …. Nhưng tất nhiên, điều đó không gì hơn là một trò chơi khăm, một chiêu chiến tranh tâm lý do giới thẩm quyền Saigon bịa ra để làm bối rối và làm mất tinh thần bộ đội Bắc Việt đang ở trên thềm cửa nhà họ.” Nếu Vanuxem đi trên chuyến bay đáp xuống vào chiều ngày 25/4, hẳn ông có thể đã nghe các tin tức giả mạo này và tưởng là thật. Tuy nhiên, xét các chi tiết đặc biệt trong thông điệp của ông, kịch bản này dường như không chắc chắn. Ông không hề đề cập đến tin phát thanh, cũng không đến cái tin được cho là Lê Duẩn đã chết, và lời bình luận của ông giống một cách kỳ lạ với thông tin của Phong. Giả sử Vanuxem vẫn còn là một công dân bị hất hủi trong xã hội Pháp, việc ông mang theo thông điệp của chính quyền Pháp là điều đáng ngờ, nhất là vì đã có Mérillon ở Saigon.
Điều dường như chắc chắn hơn là việc người Trung Quốc nhắm vào một đặc sứ khác ngoài Phong. Phong là một nhà ngoại giao dân sự, trong khi Vanuxem có mối ràng buộc mật thiết với các tướng lĩnh QĐVNCH, và ông có một tiểu sử lâu đời hậu thuẫn nền cộng hòa. Ông sẽ là đặc phái viên hoàn hảo để thuyết phục các tướng lĩnh QĐVNCH chống cộng chấp nhận sự giúp đỡ của Pháp và Trung Quốc, nhất là một đề xuất táo bạo như thế này. Hơn nữa, là một người đưa tin cô độc, ông cũng có thể phủ nhận nếu cần thiết. Rằng Vanuxem đã có phát ngôn đó hình như là điều không thể chối cãi. Liệu thông tin của ông hoặc Phong có phải thực sự là chủ định thực của Trung Quốc hay không là điều chưa giải quyết. Điều này có thể là một màn tung hoả mù ngoại giao khác hay không?
Đúc nặn một chính phủ liên hiệp chắc chắn là chiêu trò của Hà Nội, một chiêu trò mà các đồng minh của Bộ Chính trị vui sướng phụ họa. Hoàng Đức Nhã tin là như vậy. Ông khẳng định rằng Mérillon đã bảo với ông, như một phần của lời yêu cầu Nhã nên làm thủ tướng mới, rằng “người Trung Quốc sắp sửa đem vào vài sư đoàn để ngăn quân Bắc Việt,” nhưng Nhã ngờ rằng đây chỉ là mưu mẹo của Trung Cộng để bán đứng họ trên một chính phủ liên hiệp. Xét mọi vận động ngoại giao nhằm loại bỏ Thiệu, ý tưởng không thể không kể đến.
Vanuxem mất năm 1979, để lại những hành động của mình không được xem xét, trong khi Phong chưa hề bàn luận về khả năng ông bị lợi dụng. Hơn nữa, trong khi Hà Nội rõ ràng nhìn nhận câu chuyện Vanuxem, nó không thể được khẳng định mà không có chứng cứ hoặc lời thú nhận chính thức của chính quyền Trung Quốc hoặc Pháp. Việc Trung Quốc và Pháp, mỗi nước vì lợi ích của riêng mình, đã thông đồng nhằm tạo ra một miền Nam trung lập và tước đi của Hà Nội thắng lợi từ lâu họ ao ước, vẫn còn là bí ẩn vĩ đại cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam. (còn tiếp)
https://nghiencuulichsu.com/2021/12/07/guom-da-tuot-ra-noi-mien-dat-xa-xoi-nhung-uoc-mo-tan-vo-cua-mien-nam-phan-cuoi/

Nhận xét
Đăng nhận xét