Ngày sau biết ra sao?...
Cuối năm 1965, chúng tôi mãn khóa 20 Căn bản Pháo binh tại trường Pháo Binh Dục Mỹ, được gắn cấp bậc chuẩn uý tại sân cờ của nhà trường, lúc đó chỉ huy trưởng là Đại tá Hồ Sĩ Khải. Tất cả được giữ lại để tiếp tục học một khoá Quan sát viên phi cơ, kéo dài một tháng. Hàng ngày Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang biệt phái 2 chiếc Cessna vào để huấn luyện bay quan sát và điều chỉnh tác xạ pháo binh từ trên không. Đó là những “ngày vui qua mau” vì có dịp hiếm có để đi mây về gió trên hòn đá trước đài quan sát O1 bị các khẩu đội pháo binh của Tiểu đoàn diễn tập tác xạ từ năm này qua năm khác mà vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt! Sau một tháng huấn luyện, 100 “thượng sĩ gân” đều được cấp chứng chỉ “đậu” của Trường Pháo Binh để tùy các đơn vị sử dụng. Thế rồi chia tay nhau, sau một đêm vui cuối cùng , sáng lại xe 10 bánh chở các chuẩn uý ra phi trường Nha Trang về Sài Gòn với cái giấy phép 15 ngày ngay dịp Tết đầu năm 1966.
Tư Bốn về Tiểu đoàn 72 Pháo Binh ở Mỹ Tho cùng với Nguyễn Văn Mậu, trình diện tiểu đoàn trưởng lúc đó là Thiếu tá Lê Hán Vỹ, tiểu đoàn phó Đại uý Vũ Văn Thừa. Tiểu đoàn nằm trong xã Bình Đức bên cạnh Trung tâm huấn luyên Sư Đoàn, đối diện với chùa sư nữ. Thầy giáo Mậu sau đó đi đề-lô thường trực cho Trinh Sát 12 của Lã Văn Tiêu, Tư về Pháo đội C của Trung uý Vũ Minh Bội, nằm đề-lô trừ bị tại Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn. Thời ấy, trong mỗi cuộc hành quân cấp sư đoàn đều có 2 L19 của Phi đoàn 221 Shotgun, của Sư Đoàn 9 Bộ Binh Mỹ mà nhiệm vụ của phi công là liên lạc với các toán cố vấn Mỹ đi bên dưới hoặc làm trung gian với Trung tâm Hành quân. Do đó phi cơ còn dư một chỗ phía sau, và người Mỹ đồng ý dành cho tiền sát viên trên không của Pháo binh để làm việc với để-lô các cánh quân bên dưới và trung tâm phối hợp hỏa lực.
Sau một vài chuyến đề-lô với các đơn vị Địa phương quân, giữa năm 1966 một anh khóa 14 đang bay được giải ngủ, Tư Bốn may mắn được điền vào chỗ trống. Lúc đó “Pháo binh Sư đoàn 7” (pháo binh không có cấp sư đoàn và danh xưng này chỉ có tính cách của tham mưu chuyên viên) có 4 quan sát viên trên trời; 2 của Tiểu đoản 71 Pháo Binh, 2 của Tiểu đoàn 72 Pháo Binh. Nên cứ thay phiên nhau, một ngày làm một ngày nghỉ. Quy định quan sát viên Pháo binh mỗi tháng phải thực hiện trên 20 giờ bay, có chữ ký chứng nhận của phi công Mỹ sẽ được hưởng phụ cấp không vụ số 2. Phụ cấp ấy sau khi đóng tiền cơm cho câu lạc bộ độc thân, còn dư được vài trăm ăn hủ tiếu khô chợ Vòng Nhỏ nức tiếng lúc bấy giờ. Tuy nhiên, hầu hết chúng tôi bay trên 30 giờ mỗi tháng vì ngoài các cuộc hành quân, còn bao vùng cho đoàn xe của Cục Quân Vận từ Phú Lâm về Cần Thơ và ngược lại. Mặc dù không được huấn luyên bài bản và chuyên nghiệp như quan sát viên L19 của VNAF, nhưng những “Lâm Điểu” của Pháo Binh Sư Đoàn 7 đã làm chủ được hệ thống và điều chỉnh tác xạ pháo binh yểm trợ vô cùng hiệu quả cho các đơn vị bạn bên dưới mỗi khi chạm địch.
Thời gian ấy Trung uý Nguyễn Việt Hà khóa 10 Thủ Đức là "Lâm Điểu" cừ khôi nhất của 72 Pháo binh, trận lớn nào cũng có mặt cùng với Từ Nghiêm Hội khóa 13, đề-lô dưới đất phối hợp điều chỉnh tác xạ làm các đơn vị VC như 514 Cơ động Mỹ Tho thiệt hại nặng nề, nhất là trong trận vùng An Thạnh Thủy, Chợ Gạo. Sau đó 514 giải thể, biến thành 514 A, 514 B để bị Thiết đoàn 6 hốt ổ trong trận Gia Thuận,
Gò Công, "Trên trời có Hà, dưới đất có Hội" là câu nói lúc ấy để chỉ 2 tay đề lô sừng sỏ này.
Mới đây tình cờ tìm thấy bức hình cổng phi trường Vĩnh Long bên dưới, cũng gợi cho Tư nhiều kỷ niệm khó quên trong đời “đề-lô trên trời”. Vì mỗi chiều, khi nhận lệnh ra sân bay Hồ Nước (Mỹ Tho) thì đã có người của Phòng 3 Sư Đoàn đợi sẵn với phóng đồ hành quân ngày hôm sau. Trực thăng sẽ đưa xuống phi trường Vĩnh Long, có xe của căn cứ đưa ra tận cổng và từ đó lên xe lam đến Tiểu đoàn 9 Công Binh ngủ nhờ một đêm. Sáng hôm sau khoảng 6 giờ trở lại phi trường, đi nhờ xe của cổng phi trường đến khu vực của L19, chờ phi công Mỹ để lên vùng.
Cuộc đời đi mây về gió kéo dài được 2 năm thì Tư thuyên chuyển về Tiều Đoàn 92 Pháo Binh của Thiếu tá Huỳnh Hữu Lân ở Cái Tàu Hạ (Sa Đéc), nhờ đó mới biết Sa Đec có Cái Tàu Hạ mà cũng có Cái Tàu Thượng. Tại đây gặp lại nhiều bạn cùng khóa, chưa kịp vui thì vài ngày sau theo Trung úy Nguyễn An Cảnh về Pháo đội B Châu Đốc. Sau một cuộc hành quân trực thăng vận và leo lên đỉnh Cô Tô (Châu Đốc) 3 ngày 2 đêm lùng sục với Tiểu đoàn 1/15 thì xuống núi về Bắc Vàm Cống nghỉ, chờ thay Thiếu úy Hoa Văn Hớn đi phép sau trận TĐ2/15 bị tràn ngập ở Giồng Riềng. Bỗng có lệnh của tiểu đoàn kêu về trung đội 3B/92 PB ở chi khu Kiên Sơn, Rạch Giá thay thế Đại uý Thạch Quang Lân khóa 12 đi học pháo đội trưởng. Cuộc đời đề-lô ngắn ngủi chấm dứt nhẹ nhàng và giấc mơ "đi làm trung đội trưởng" đến sớm một cách không ngờ.
Bây giờ nằm nghĩ lại, những lúc ôm phóng đồ hành quân lang thang lên xe lam về Tiểu Đoàn 9 Công Binh ngủ nhờ, mới thấy Phòng 3 Sư Đoàn lúc ấy tin tưởng nơi các quan sát viên phi cơ đến mức nào. Đáp lại, chúng tôi, những sĩ quan cấp thấp thiếu úy, trung úy ngày ấy, chưa bao giờ đánh mất lòng trung thành vô hạn với đất nước Việt Nam Cộng Hòa.

Nhận xét
Đăng nhận xét