7765 - Âm mưu chống lại Nga

Bản dịch của Google


An alleged drone attack on the Kremlin, Moscow, May 2023
Một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái bị cáo buộc vào Điện Kremlin, Moscow, tháng 5 năm 2023. Tài liệu phát tay / Reuters

Khi hai máy bay không người lái đâm vào nóc điện Kremlin hồi đầu tháng 5, người phát ngôn của Tổng thống Nga, ông Dmitry Peskov không cần chờ điều tra để xác định thủ phạm. Ông tuyên bố một cách tự tin rằng cuộc tấn công do Hoa Kỳ chủ mưu chứ không phải Ukraine. Ông giải thích: “Kyiv chỉ làm những gì được bảo phải làm. Vài ngày sau, sau khi nhà văn Nga Zakhar Prilepin, một người Nga theo chủ nghĩa dân tộc trung thành và thẳng thắn ủng hộ chiến tranh, suýt bị ám sát bởi một quả bom đặt trong xe hơi của ông, Bộ Ngoại giao Nga tuyên bố với sự tự tin tương đương rằng Hoa Kỳ đứng sau tội ác đó, cũng vậy. Điều này xảy ra bất chấp thực tế là người được xác định là nghi phạm chính rõ ràng là một người từ bên lề xã hội, giống như Prilepin, rõ ràng đã chiến đấu bên cạnh lực lượng ly khai do Nga hậu thuẫn ở vùng Donbas của Ukraine.
Những khẳng định này không phải là ngẫu nhiên. Khi “chiến dịch quân sự đặc biệt” của Mátxcơva ở Ukraine biến thành một cuộc chiến lâu dài và khó khăn, hệ tư tưởng cũ về chủ nghĩa cứu thế của Nga, vốn đã trở thành công cụ ưa thích của Điện Kremlin để thao túng dư luận, đã được khuấy động thành một loại cơ sở xác định cho chế độ. Nga không còn đơn giản là đánh bại một Ukraine yếu ớt và yếu ớt đã rơi vào bùa chú của “chủ nghĩa phát xít mới”. Theo khuôn khổ mới, cuộc chiến thực sự của Nga là chống lại Hoa Kỳ hùng mạnh muốn hủy diệt nó, trong khi Ukraine – giống như Liên minh châu Âu và NATO – chỉ đơn thuần là một vệ tinh ngoan ngoãn của Hoa Kỳ. Đối với Điện Kremlin, một âm mưu nham hiểm của Hoa Kỳ đưa ra một lời giải thích thuận tiện cho lý do tại sao cuộc chiến đã kéo dài quá lâu và tại sao Putin lại tỏ ra không phải là một nhà chiến lược quân sự vĩ đại như vậy. Nó cũng giúp giải thích cho những người Nga bình thường tại sao cuộc chiến lại bắt đầu ngay từ đầu.
Nhìn trong bối cảnh này, “chiến dịch đặc biệt” đã phát triển từ nỗ lực khôi phục các vùng đất đế quốc đã mất thành một trận chiến văn minh giữa các thế lực thiện, do Nga thể hiện, và các thế lực tà ác, đôi khi được gọi là “quỷ dữ”, do Hoa Kỳ nhân cách hóa. Các quốc gia và các đồng minh của nó. Hiện tại, ý tưởng đơn giản này đã có tỷ lệ xa hoa. Vào tháng 5, Nikolai Patrushev, người đứng đầu Hội đồng An ninh Nga, dự đoán rằng người Mỹ sẽ sớm tìm cách khai thác những vùng đất rộng lớn của Nga cho mục đích tái định cư vì một vụ phun trào sắp xảy ra của siêu núi lửa bên dưới Công viên Quốc gia Yellowstone sẽ khiến họ không còn nơi nào để sinh sống. (Việc một quan chức cấp cao của Nga tán thành một thuyết âm mưu ngớ ngẩn như vậy đã khiến mạng xã hội lan truyền một câu châm ngôn nổi tiếng của Sa hoàng Alexander III: “Nga chỉ có ba đồng minh: quân đội, hải quân và núi lửa Yellowstone.”)
Nhưng điện Kremlin rất nghiêm túc. Bằng cách tập trung vào Hoa Kỳ, Putin đang khai thác các học thuyết của chủ nghĩa Stalin quá cố đã tạo nên nền tảng ý thức hệ của Chiến tranh Lạnh: Hoa Kỳ thống trị thế giới và luôn muốn làm suy yếu, nếu không muốn nói là tiêu diệt chúng ta. Tất nhiên, nhiều người Nga bình thường – ít nhất là khi họ không được nhà nước Nga nói khác đi – có xu hướng thờ ơ hoặc thậm chí thiên vị Hoa Kỳ. Nhưng như Stalin đã biết và Putin đã phát hiện ra, những thái độ đó có thể được thay đổi bằng cách tuyên truyền hiệu quả.
Bằng cách tạo ra một kẻ thù bất chính, toàn năng, chế độ Putin có thể tạo ra một lời biện minh mới cho một cuộc chiến cực kỳ tốn kém đã kéo dài hơn một năm và dường như không thể kết thúc sớm. Tất nhiên, sự hiện diện của một kẻ thù bên ngoài mạnh mẽ như vậy cũng biện minh cho việc tăng cường đàn áp những kẻ thù bên trong—những người bất đồng chính kiến, các nhà hoạt động dân quyền, luật sư, nhà báo, giáo sư và nhiều “đặc vụ nước ngoài”. Chế độ cuối thời Stalin hoạt động theo logic tương tự. Vào tháng 4 năm 1951, George Kennan đã viết trong những trang này: “Không nhóm cầm quyền nào muốn thừa nhận rằng họ chỉ có thể cai trị người dân của mình bằng cách xem và coi họ như tội phạm. Vì lý do này, luôn có xu hướng biện minh cho sự áp bức nội bộ bằng cách chỉ ra sự bất công đáng sợ của thế giới bên ngoài.”
***
Hoa Kỳ không phải là trọng tâm ban đầu của tư tưởng bài ngoại của Nga. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Đức được coi là kẻ thù chính và sự cuồng loạn yêu nước được thúc đẩy bởi tình cảm chống Đức. Sau đó, vào những năm đầu của Liên Xô, Pháp và Vương quốc Anh được coi là những đối thủ chính - trong khi Hoa Kỳ là một xã hội tư bản xa xôi, phát triển tốt nhưng vô hồn để vay mượn công nghệ và chuyên gia công nghiệp. Biến Hoa Kỳ thành kẻ thù chính là một hiện tượng thời hậu chiến nhiều hơn: ngay cả khi đó, Stalin ban đầu bận tâm nhiều hơn đến, như ông đã nói vào năm 1946, “sự thay thế sự thống trị của Hitler bằng sự thống trị của Churchill,” và trong nỗi sợ hãi ngày càng tăng của mình, ông bỏ qua việc biến nước Mỹ thành một cường quốc hàng đầu. Nhưng ông đã nhanh chóng bù đắp bằng cả tuyên truyền và đàn áp khi “gián điệp Anh-Mỹ” xuất hiện.
Tuy nhiên, trong Thế chiến II, mọi thứ hoàn toàn khác: binh lính Liên Xô và người dân Liên Xô có mối quan hệ mật thiết với các đồng minh Anh-Mỹ của họ. Tại Hội nghị Potsdam vào tháng 7 năm 1945, đoàn ca múa của Hồng quân đã biểu diễn hai trong số những giai điệu nổi tiếng nhất của quân Đồng minh: bài hành quân của Anh “It's a Long Way to Tipperary, và giai điệu dân ca Anh-Mỹ “There's a Tavern in the Town,” được biết đến trong phiên bản tiếng Nga của nó là “Kabachok.” Sau đó được thu âm cho máy hát, những phiên bản tiếng Nga này đã rất phổ biến ở Liên Xô cùng với những bản hit khác của Mỹ, chẳng hạn như “Coming In on a Wing and a Prayer,” một bài hát trong Thế chiến II về một cuộc ném bom của quân Đồng minh được hát bằng tiếng Nga như “Bài ca của những kẻ ném bom.” Một bài hát nổi tiếng khác, được biết đến bằng tiếng Nga là “And in Trouble and in Battle”, được dàn nhạc jazz của Alexander Varlamov trình diễn ngay cả trước chiến tranh, hóa ra lại là phiên bản tiếng Nga của bản hit Mỹ năm 1934 “Roll Along, Covered Wagon, Roll Dọc theo."
Không chỉ âm nhạc của Vương quốc Anh và Hoa Kỳ được phổ biến rộng rãi vào cuối chiến tranh. Bản thân quân Đồng minh cũng vậy. Vào sáng ngày 9 tháng 5, sau khi đài phát thanh thông báo lúc 3 giờ sáng về việc Đức đầu hàng, những đám đông khổng lồ tưng bừng đổ ra đường phố Moscow. Cha tôi, người vừa tròn 17 tuổi, bị một người bạn cùng lớp đánh thức vào lúc 4 giờ sáng, và họ vội vã chạy đến Quảng trường Đỏ, nơi đã chật kín người đang ăn mừng. Trong suốt cả ngày, mọi người cũng đổ xô đến quảng trường gần đó, nơi đặt đại sứ quán Hoa Kỳ, như được ghi lại trong các bức ảnh của Yakov Khalip và Anatoly Garanin.
Trong những năm cuối đời của Stalin, chủ nghĩa bài Mỹ đã trở thành nền tảng trong tuyên truyền của Liên Xô.
Kennan, khi đó là đại biện tại đại sứ quán, người vẫn chưa nổi tiếng vì “lâu dài” của mình, nhớ lại: “Chúng tôi rất xúc động và hài lòng trước sự thể hiện tình cảm của công chúng này, nhưng lại lúng túng không biết phải đáp lại nó như thế nào. điện tín'' về hành vi của Liên Xô. Những người Hồi giáo cuồng nhiệt đang nâng đỡ bất kỳ ai mặc quân phục và sẵn sàng làm điều tương tự với nhân viên từ đại sứ quán của một cường quốc thân thiện. Kennan, người nói được tiếng Nga, đánh liều trèo ra lan can cổng tòa đại sứ để hô to: “Chúc mừng ngày chiến thắng! Tất cả vinh dự cho các đồng minh của Liên Xô!
Tuy nhiên, mặc dù không được người dân Liên Xô chú ý vào thời điểm đó, nhưng Kennan đã có thể cảm nhận được những căng thẳng đang nổi lên của Chiến tranh Lạnh. Theo nhà sử học John Gaddis, ngay cả sau chiến thắng trước Hitler, các thành viên của liên minh Big Three đã gây chiến với nhau, ít nhất là về mặt ý thức hệ và địa chính trị. Trong những năm cuối của chế độ Stalin, chủ nghĩa bài Mỹ sẽ phục vụ một mục đích chiến lược quan trọng, chống lại mối đe dọa mới của phương Tây đối với phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô. Chủ nghĩa chống Mỹ đã trở thành nền tảng của chính sách đối ngoại, tuyên truyền và phản tuyên truyền cho toàn bộ Chiến tranh Lạnh. Không có gì đáng ngạc nhiên, một cuộc đối đầu có thể so sánh được với phương Tây ngày nay đã đưa vị thần cũ ra khỏi cái lọ - không có phương tiện nào hiệu quả hơn.
***
Vào năm 2022, thuật ngữ xúc phạm Anglosaksy—“Người Anglo-Saxon”—đột nhiên được sử dụng thường xuyên trong các cuộc thảo luận ở Điện Kremlin và thậm chí đã đi vào từ vựng của những người Nga bình thường. Nhưng thuật ngữ ám chỉ những người Mỹ mưu mô lãnh đạo các vệ tinh châu Âu ngoan ngoãn, hoàn toàn không phải là một phát minh của chế độ Putin. Nó xuất phát trực tiếp từ từ điển quyền lực của Liên Xô vào cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950, khi nó được sử dụng để chỉ những kẻ thù quan trọng nhất của Liên Xô. Trong hệ tư tưởng và tuyên truyền hiện tại của mình, Mátxcơva đã khơi dậy một cách trực giác hoặc có ý thức các thuyết âm mưu cổ điển của Nga, vốn luôn là—trong cả lịch sử Liên Xô và hậu Xô Viết—một cách đơn giản, phổ biến để giải thích các vấn đề của Nga hoặc các hành động bành trướng của những người cai trị nước này.
Ví dụ, trong Chiến tranh Lạnh, KGB đã tích cực thúc đẩy ý tưởng về một âm mưu bí mật của Hoa Kỳ chống lại Liên Xô. Hãy xem xét cuốn sách được lưu hành rộng rãi năm 1979 Mục tiêu của CIA: Liên Xô, của Nikolai Yakovlev, một nhà sử học người Nga được KGB tuyển dụng. Trong số những thứ khác, Yakovlev đã giải thích một lý thuyết sau đó phổ biến trong các cơ quan an ninh Nga và trong giới dân tộc chủ nghĩa Nga rằng có một “Kế hoạch Dulles” của Mỹ - sau khi C.I.A. đạo diễn Allen Dulles— để tiêu diệt Liên Xô. Như nhà sử học người Nga Viktor Shnirelman đã chỉ ra, ý tưởng này có thể được truyền cảm hứng từ việc cố ý đọc sai chỉ thị của Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ năm 1948 mà tình báo Liên Xô có thể đã biết. (Chỉ thị trên thực tế chỉ mang tính phòng thủ và không chứa một từ nào về “sự hủy diệt của người dân Nga”.) Huyền thoại về sự tồn tại của “kế hoạch” thậm chí còn được đưa vào một số cuốn sách lịch sử của Nga.
KGB đã thúc đẩy ý tưởng rằng có một âm mưu bí mật của Hoa Kỳ nhằm tiêu diệt Liên Xô.
Mặc dù chính phủ Liên Xô xích lại gần Hoa Kỳ hơn nhiều trong thời kỳ Mikhail Gorbachev, làn sóng chống Mỹ cực đoan vẫn tiếp tục phát triển ở một số nơi của Liên Xô và nhà nước hậu Xô Viết. Ví dụ, vào những năm 1990, Filip Bobkov, một cựu sĩ quan cấp cao của KGB, tuyên bố rằng sự sụp đổ của Liên Xô là do Hoa Kỳ dàn dựng với sự giúp đỡ của “nhóm Yakovlev”—lần này Yakovlev được đề cập là Alexander, kiến trúc sư của perestroika và cánh tay phải của Gorbachev. Những thuyết âm mưu này đã tồn tại, không thay đổi, trong giới dân tộc chủ nghĩa của Nga, kể cả trong tác phẩm của nhà triết học di cư người Nga Ivan Ilyin (1883-1954), người có khái niệm về một “thế giới đằng sau hậu trường” toàn cầu, hay illuminati, đã trở thành mốt trong Kremli. (Tuy nhiên, không nên phóng đại ảnh hưởng của những triết gia như vậy đối với Putin: ông ấy có lẽ đã trích dẫn Ilyin hai lần; và ông ấy đã một lần đề cập đến triết gia Nga cổ điển Nikolai Berdyaev, mặc dù có lẽ ông ấy không biết gì về ông ta nhiều hơn Brezhnev. Marx. Về bản chất, ông chỉ đơn giản cho thấy rằng ý tưởng lịch sử về một người Nga được hình thành để đối lập với phương Tây đã trường tồn.)
Tất cả các luận điểm của Kremlin về phương Tây nguy hiểm và sự phản đối của Nga đối với nó, mà Putin lặp đi lặp lại không ngừng, đã được hình thành từ lâu vào cuối thời kỳ Stalin, đôi khi thậm chí còn trong thơ. Năm 1951, Pravda xuất bản “Về nguyên tử của Liên Xô”, một bài thơ của nhà thơ thiếu nhi Sergei Mikhalkov, người cũng đã viết lời cho các bài quốc ca của Liên Xô và sau đó là Nga. Đại loại là: “Sẽ có bom! / Có bom! / Bạn nên tính đến điều đó! / Nhưng nó không nằm trong kế hoạch của chúng tôi / Chinh phục các quốc gia khác.” Những dòng đó có thể được dỡ bỏ ngay từ một trong những bài phát biểu của Putin.
Sau đó, có thói quen miêu tả những kẻ thù Mỹ của Nga là ngu ngốc. Trên thực tế, thông điệp là: “Đối thủ của chúng ta có thể xảo quyệt, nhưng chúng ta có thể nhìn thấu họ.” Vào những năm cuối thời Stalin, giới lãnh đạo Cộng sản đã tuyên truyền sáo rỗng về việc người Mỹ đi lang thang ở Moscow với máy ảnh và mua kẹo cho trẻ em để trông buồn bã nhằm thể hiện sự chán nản của cuộc sống ở Liên Xô. “Hãy nhìn xem, Alik đang khóc / Họ sẽ quay phim anh ấy cho nước Mỹ!” đã nói đùa với nhà thơ thiếu nhi Agniya Barto vào những năm 1950. Tương tự như vậy, Putin và Dmitry Medvedev, cựu tổng thống Nga và phó chủ tịch Hội đồng Bảo an, giờ đây có thói quen chỉ đích danh và bêu xấu các kẻ thù phương Tây trong các bài phát biểu của họ là “thằng ngu” và “dở hơi”. Kèm theo đó là nỗi ám ảnh ngày càng tăng của Putin về chủ đề LGBTQ và những trò đùa tục tĩu về người phương Tây.
MỸ ĐẦU TIÊN, NGA THỨ HAI
Mặc dù chính quyền Nga thường xuyên chống Mỹ, nhưng nước này cũng từ lâu đã bị ám ảnh bởi sức mạnh kinh tế của Mỹ và thậm chí cả hàng hóa và thực phẩm của Mỹ. Một trong những khẩu hiệu chính từ thời Khrushchev thập niên 1960 tập trung vào việc bắt kịp và sau đó vượt qua Hoa Kỳ về sản lượng thịt, sữa và bơ bình quân đầu người. Khi Putin lên nắm quyền, ý tưởng phát triển đuổi kịp hầu như không ít xuất hiện. Theo một nghĩa nào đó, “Nước Mỹ trên hết” thực sự là một trong những khẩu hiệu của Putin: mọi thứ đều được nhìn qua lăng kính của Hoa Kỳ và phương Tây. Khác biệt có nghĩa là không giống người phương Tây và không sống giống họ. Chính xác hơn, nó có nghĩa là đạt được những thành công tương tự trong khi dựa vào sức mạnh của chính mình, duy trì chủ quyền và “tính độc đáo” và thực hành thay thế nhập khẩu. Nói cách khác, cả nhà nước và xã hội Nga tiếp tục tự đo lường mình trước thước đo của Hoa Kỳ và các đồng minh châu Âu.
Mô hình quay trở lại những năm đầu tiên của Liên Xô. “Các chuyên gia tư sản” người Mỹ đã xuất hiện ở Liên Xô trong quá trình công nghiệp hóa của Stalin vào những năm 1920 và 1930. Nhà văn Liên Xô Valentin Kataev đã mô tả chúng một cách hơi mỉa mai, nhưng sự thật là nếu không có công nghệ của Hoa Kỳ thì khó có thể có một bước đột phá công nghiệp nào. Khi Hoa Kỳ tổ chức Triển lãm Quốc gia Hoa Kỳ tại Moscow vào năm 1959—một sự kiện đã thu hút hơn hai triệu thành viên của công chúng Liên Xô, những người đã nếm thử Pepsi và lần đầu tiên nhìn thấy máy giặt của Hoa Kỳ—Nikita Khrushchev và Richard Nixon đã có câu nói nổi tiếng “ cuộc tranh luận về nhà bếp” tại địa điểm hội chợ, trong đó họ thảo luận về giá trị tương đối của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Vào thời điểm đó, giới lãnh đạo Liên Xô cảm thấy rõ ràng sự lạc hậu của mình trong lĩnh vực tiêu dùng. Đây cũng là lý do tại sao Liên Xô phải dẫn đầu trong cuộc chạy đua vào không gian: thoát khỏi ma trận bắt kịp.
Amerika, một tạp chí tiếng Nga về cuộc sống của người Mỹ do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ xuất bản, là một mặt hàng được thèm muốn, mặc dù ít hơn so với quần jean, kẹo cao su và nước ngọt. Đặc biệt, tạp chí đã bị cấm vào năm 1948, khi chủ nghĩa chống Mỹ của chủ nghĩa Stalin đang phát huy tác dụng mạnh mẽ, và được phát hành trở lại trong thời kỳ chống chủ nghĩa Stalin của Khrushchev tan băng vào những năm 1950. Vào đầu những năm 1970, Leonid Brezhnev vui vẻ nhận các nguyên mẫu từ ngành công nghiệp ô tô Hoa Kỳ như một món quà từ người Mỹ, làm tăng thêm bầu không khí hòa dịu. Và khi các sứ mệnh Soyuz và Apollo cùng cập bến vào tháng 7 năm 1975, nó đã được kỷ niệm ở Moscow với sự xuất hiện của “thuốc lá Virginian đích thực” trong những điếu thuốc mang tên sự kiện lịch sử: không phải khói ngạt ngào của quê hương, mà là mùi thơm của đất nước. thế giới khác. Vào những năm hoàng hôn của Liên Xô, ngành công nghiệp của Liên Xô quá phụ thuộc vào nguồn cung cấp và công nghệ của phương Tây đến mức các biện pháp trừng phạt đối với Moscow vì cuộc xâm lược Afghanistan đã khiến toàn bộ các ngành công nghiệp, chẳng hạn như kỹ thuật hóa học, gặp nguy hiểm.
Ngay cả trong thời kỳ hậu Xô Viết, việc Nga gắn bó với các mô hình của Mỹ và việc Putin nói về một thế giới đơn cực do Mỹ áp đặt đã tạo ra cảm giác phụ thuộc không thể tránh khỏi vào “họ”. Những người được hỏi trong các nhóm tập trung vào Nga đôi khi sẽ nói rằng hiến pháp năm 1993 của Nga được viết ở Washington và những sửa đổi của Putin đối với hiến pháp này là cần thiết để làm cho đất nước thực sự có chủ quyền. Tuy nhiên, đồng thời, mọi người hiểu rằng Hoa Kỳ đã là một cường quốc kinh tế mà Nga có thể học hỏi được rất nhiều điều để đạt được mức sống tương tự. Một lần nữa, sự kết hợp giữa tính ưu việt và tính kém cỏi của Nga đã đồng thời được thể hiện trong thái độ mâu thuẫn của Mátxcơva đối với đối thủ Mỹ.
Tuy nhiên, cho đến khi Putin trở lại làm tổng thống vào năm 2012 và Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014, những mặc cảm của người Nga về Hoa Kỳ không quá đáng chú ý. Trong những năm đầu cầm quyền, bắt đầu từ năm 2000, Putin vẫn thích nghi với phương Tây và cảnh giác với việc lãng phí di sản của người tiền nhiệm Boris Yeltsin. Ông không coi Nga là nước thiết lập xu hướng trong trật tự thế giới do phương Tây lãnh đạo. Tuy nhiên, thái độ thù địch công khai với phương Tây được thể hiện trong bài phát biểu của Putin tại Hội nghị An ninh Munich năm 2007 đã đánh dấu sự khởi đầu của mối quan hệ xấu đi với Hoa Kỳ—chỉ bị trì hoãn một chút bởi nỗ lực “thiết lập lại” trong nhiệm kỳ tổng thống bốn năm của Medvedev. Đến năm 2014, sự nhấn mạnh mới của Mát-xcơ-va về niềm tự hào Nga và khát vọng trở thành cường quốc được đánh thức lại đã mang lại tất cả những lo lắng cũ về Hoa Kỳ, khuấy động một cơn cuồng loạn gần như yêu nước. Nhưng biểu hiện mạnh mẽ nhất đã xuất hiện kể từ khi “chiến dịch đặc biệt” bắt đầu vào năm ngoái.
Kể từ đó, thái độ của Nga đối với Hoa Kỳ đã trở nên tồi tệ hơn. Vào tháng 2 năm 2022, 31 phần trăm người Nga có thái độ tích cực về Hoa Kỳ. Một năm sau, theo Trung tâm Levada, tổ chức nghiên cứu quan điểm độc lập của Nga, chỉ 14% số người được hỏi có cái nhìn tích cực về Hoa Kỳ và 73% có thái độ tiêu cực. Sự suy giảm về thái độ tích cực đối với châu Âu cũng không xa: chỉ 18% người Nga được hỏi có quan điểm tích cực về các nước EU vào tháng 2 năm 2023, so với 69% người không. Khi kết hợp với các thuyết âm mưu và sự cô lập ngày càng tăng của chính Putin, sự gắn kết của Nga với Mỹ đã trở thành một công thức mạnh mẽ cho chủ nghĩa quân phiệt.
NGUỒN CỦA ỨNG XỬ CỦA NGA
Việc Putin ủng hộ chủ nghĩa chống Mỹ theo âm mưu đặc biệt nguy hiểm vì chế độ của ông ngày càng coi thường các giới hạn đỏ cũ. Trong Chiến tranh Lạnh, ít nhất, cả hai bên đều đồng ý rằng hậu quả của việc gây thiệt hại cho nhau là không thể chấp nhận được. Vấn đề của Putin - trên thực tế, vấn đề của cả thế giới hiện nay - là chính phủ Nga thiếu một bản năng mà kể từ cuối những năm 1960 đã liên tục dẫn đến sự hòa dịu với phương Tây: sự sẵn sàng đàm phán. Thay vào đó, Putin đã đình chỉ hợp tác về không phổ biến vũ khí hạt nhân, thảo luận về khả năng tấn công hạt nhân với mức độ trẻ con, bày tỏ sự bất bình của lứa tuổi thanh thiếu niên và thể hiện sự không sẵn lòng duy trì đối thoại dù chỉ ở mức độ tối thiểu. Tất cả những hành động này phân biệt rõ ràng chủ nghĩa bài Mỹ của Putin với chủ nghĩa bài Mỹ của những người tiền nhiệm Liên Xô quá cố của ông.
Kennan viết vào năm 1950, “Tính cách chính trị của chính quyền Xô Viết như chúng ta biết ngày nay là sản phẩm của hệ tư tưởng và hoàn cảnh”. Nếu người ta nhìn vào nguồn gốc hành vi của Nga ngày nay, hoàn cảnh là một nhà độc tài bị ám ảnh bởi sứ mệnh của mình. Về hệ tư tưởng, khái niệm chính sách đối ngoại mới của Nga đề cập đến “vị trí đặc biệt của nước này với tư cách là một nền văn minh nhà nước nguyên thủy, một cường quốc Á-Âu và Âu-Thái Bình Dương rộng lớn” - một thuật ngữ mới đáng chú ý. Khái niệm này tiếp tục viện dẫn vai trò của Nga trong việc củng cố “người dân Nga và các dân tộc khác tạo nên cộng đồng văn hóa và văn minh của thế giới Nga”—một không gian địa lý không có biên giới cụ thể.
Bản chất chiết trung của hệ tư tưởng này, vốn đã tái xuất hiện ở các giai đoạn phát triển lịch sử khác nhau của nước Nga, đã được mô tả một cách sắc sảo trong “Đoạn thoại, 1945” của Vladimir Nabokov, một truyện ngắn trong đó một cựu đại tá Bạch vệ di cư sang Hoa Kỳ tuyên bố , “Người dân Nga vĩ đại đã thức dậy và đất nước của tôi lại là một đất nước vĩ đại.” Anh nói tiếp: “Chúng tôi [đã] có ba nhà lãnh đạo tài ba. Chúng ta có Ivan, người mà kẻ thù của ông ta gọi là Khủng khiếp, sau đó chúng ta có Peter Đại đế, và bây giờ chúng ta có Joseph Stalin. … Ngày nay, trong từng lời phát ra từ nước Nga, tôi cảm nhận được sức mạnh, tôi cảm nhận được sự huy hoàng của Mẹ Nga xưa. Cô ấy lại là đất nước của những người lính, tôn giáo và những người Slav đích thực.”
Trong bài phát biểu Ngày Chiến thắng vào ngày 9 tháng 5, Putin nói rằng kẻ thù của Nga đáng chú ý vì hệ tư tưởng ưu việt của họ. Điều thú vị là anh ấy sử dụng hầu hết mọi thứ có thể nói về mình—“tham vọng thái quá, kiêu ngạo và dễ dãi” khi anh ấy đưa vào bài phát biểu của mình—và đặt nó trước cửa đối thủ của mình. Đây là mục đích sâu xa hơn của chủ nghĩa bài Mỹ của Nga: gán mọi thứ mà chính bạn đang âm mưu, tất cả những kế hoạch vô đạo đức mà bạn đang ấp ủ, cho Hoa Kỳ.
Nhưng ý thức hệ hồi sinh này cũng phản ánh sự biến mất của trật tự Chiến tranh Lạnh lưỡng cực và sự mất đi sự vĩ đại và quyền lực của Nga đi kèm với nó. Vì vậy, khi Putin và các thành viên trong nhóm của ông nói về một thế giới đa cực mới, họ chỉ đơn giản là đang cố gắng khẳng định lại vị thế siêu cường đã mất của Moscow và thể hiện mình là ánh sáng dẫn đường cho các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ và các quốc gia Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ Latinh. Tất cả những điều này là hậu quả của chấn thương tâm lý về sự sụp đổ của Liên Xô, mà giới tinh hoa lên nắm quyền vào năm 2000 đã mang theo bên mình. Hai mươi hai năm sau, chấn thương đó đã dẫn đến một thảm họa toàn cầu.

ANDREI KOLESNIKOV là Nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Á-Âu Carnegie Russia.

https://www.foreignaffairs.com/russian-federation/plot-against-russia

***

The Plot Against Russia

An alleged drone attack on the Kremlin, Moscow, May 2023. Handout / Reuters

When two drones crashed into the roof of the Kremlin in early May, the Russian presidential spokesman Dmitry Peskov didn’t need to wait for an investigation to identify the culprit. The attack was masterminded by the United States, not Ukraine, he stated confidently. “Kyiv only does what it is told to do,” he explained. A few days later, after the Russian writer Zakhar Prilepin, a staunch Russian nationalist and outspoken supporter of the war, was nearly assassinated by a bomb placed in his car, Russia’s Foreign Ministry stated with equal confidence that the United States was behind that crime, too. This was despite the fact that the person identified as the prime suspect was clearly someone from the fringes of society who, like Prilepin, had apparently fought alongside Russian-backed separatists in Ukraine’s Donbas region.
These assertions are not casual. As Moscow’s “special military operation” in Ukraine turns into a long and difficult war, the old ideology of Russian messianism, which had already become the Kremlin’s preferred tool for manipulating public opinion, has been stirred into a sort of defining rationale for the regime. No longer is Russia simply bringing to heel a weak and feckless Ukraine that has fallen under the spell of “neo-Nazis.” According to the new framing, Russia’s real fight is against the mighty United States, which wants to destroy it, while Ukraine—just like the European Union and NATO—is merely an obedient U.S. satellite. For the Kremlin, a sinister U.S. plot offers a convenient explanation for why the war has dragged on for so long and why Putin has proved to be not such a great military strategist after all. It also helps explain to average Russians why the war was started in the first place.
Seen in this context, the “special operation” has evolved from an effort to recover lost imperial lands into a civilizational battle between the forces of good, embodied by Russia, and the forces of evil, sometimes called “satanic,” personified by the United States and its allies. Already, this simple idea has taken on extravagant proportions. In May, Nikolai Patrushev, the head of Russia’s Security Council, predicted that Americans would soon be seeking to exploit Russia’s vast expanses for resettlement purposes because an imminent eruption of the supervolcano beneath Yellowstone National Park will leave them with nowhere to live. (That a senior Russian official was endorsing such an absurd conspiracy theory prompted a social media riff borrowing from Tsar Alexander III’s famous dictum: “Russia has only three allies: the army, the navy, and the Yellowstone volcano.”)
But the Kremlin is dead serious. By fixating on the United States, Putin is tapping into the late Stalinist doctrines that made up the ideological foundations of the Cold War: the United States rules the world and has always wanted to weaken, if not destroy, us. Of course, many ordinary Russians—at least when they are not being told otherwise by the Russian state—have tended to be indifferent or even partial to the United States. But as Stalin knew and Putin has discovered, those attitudes can be shifted by effective propaganda.
By conjuring a nefarious, all-powerful adversary, the Putin regime can create a new justification for a hugely costly war that has already lasted well over a year and seems unlikely to end anytime soon. The presence of such a strong external enemy, of course, also justifies intensified repression of internal enemies—dissidents, civil rights activists, lawyers, journalists, professors, and various “foreign agents.” The late Stalinist regime operated under the same logic. In April 1951, George Kennan wrote in these pages: “No ruling group likes to admit that it can govern its people only by regarding and treating them as criminals. For this reason there is always a tendency to justify internal oppression by pointing to the menacing iniquity of the outside world.”

DAMN YANKEES

The United States was not the original focus of Russian xenophobia. During World War I, Germany was considered the main enemy, and patriotic hysteria was fueled by anti-German sentiment. Then, in the early Soviet years, France and the United Kingdom were considered the main adversaries—whereas the United States was a distant, well-developed but soulless capitalist society from which to borrow technology and industrial specialists. Turning the United States into the main enemy was more of a postwar phenomenon: even then, Stalin was initially more preoccupied with, as he put it in 1946, “the replacement of Hitler’s domination by Churchill's domination,” and in his growing Anglophobia, he overlooked the transformation of America into a leading power. But he quickly made up for it in both propaganda and repression when “Anglo-American spies” came on the scene.
Yet during World War II, things were absolutely different: Soviet soldiers and the Soviet population had a strong affinity for their Anglo-American allies. At the Potsdam Conference in July 1945, the Red Army’s song and dance ensemble performed two of the Allies’ most popular melodies: the British marching song “It’s a Long Way to Tipperary, and the Anglo-American folk tune “There’s a Tavern in the Town,” known in its Russian version as “Kabachok.” Subsequently recorded for gramophone, these Russian versions were wildly popular in the Soviet Union along with other American hits, such as “Coming In on a Wing and a Prayer,” a World War II song about an Allied bombing raid that was sung in Russian as “Song of the Bombers.” Another popular song, known in Russian as “And in Trouble and in Battle,” which was performed even before the war by Alexander Varlamov’s jazz orchestra, turned out to be a Russian version of the 1934 American hit “Roll Along, Covered Wagon, Roll Along.”
It wasn’t just the music of the United Kingdom and the United States that were stratospherically popular by the end of the war. So were the Allies themselves. On the morning of May 9, after the 3 AM radio announcement of Germany’s surrender, enormous jubilant crowds poured onto the streets of Moscow. My father, who had just turned 17, was woken by a classmate at four in the morning, and they rushed toward Red Square, which was already full of people celebrating. Throughout the day, people also flocked to the nearby square where the U.S. embassy was located, as captured in photographs by Yakov Khalip and Anatoly Garanin.
In Stalin’s late years, anti-Americanism became the cornerstone of Soviet propaganda.
“We were naturally moved and pleased by this manifestation of public feeling, but were at a loss to know how to respond to it,” recalled Kennan, then chargé d’affaires at the embassy, who had not yet become famous for his “long telegram’’ on Soviet conduct. Rapturous Muscovites were hoisting up anyone in military uniform and were prepared to do the same to staff from the embassy of a friendly power. Kennan, who spoke Russian, risked climbing out onto the parapet over the embassy’s entrance to shout: “Congratulations on the day of victory! All honor to the Soviet allies!”
Although it was unnoticed by the Soviet people at the time, however, Kennan could already sense the emerging tensions of the Cold War. According to the historian John Gaddis, even in the wake of their triumph over Hitler, the members of the Big Three alliance were already at war with one another, at least ideologically and geopolitically. In the later years of the Stalin regime, anti-Americanism would serve an important strategic purpose, countering the West’s new threat to Soviet spheres of influence. Anti-Americanism became the cornerstone of foreign policy, propaganda, and counterpropaganda for the entire Cold War. Not surprisingly, a comparable confrontation with the West today has brought the old genie out of the bottle—there are no more effective means.

“THERE WILL BE BOMBS”

In 2022, the derogatory term Anglosaksy—“Anglo-Saxons”—suddenly came into frequent use in Kremlin discussions and even entered the vocabulary of ordinary Russians. But the term, which refers to scheming Americans who lead obedient European satellites, is by no means an invention of the Putin regime. It comes directly from the Soviet lexicon of power of the late 1940s and early 1950s, when it was deployed to refer to the Soviet Union’s most important adversaries. In its current ideology and propaganda, Moscow has intuitively or consciously regurgitated classic Russian conspiracy theories, which have always been—in both Soviet and post-Soviet history—a simple, universal way to explain Russia’s problems or the expansionist actions of its rulers.
During the Cold War, for example, the KGB actively promoted the idea of a secret U.S. plot against the Soviet Union. Consider the widely circulated 1979 book CIA Target: The USSR, by Nikolai Yakovlev, a Russian historian recruited by the KGB. Among other things, Yakovlev expounded a theory then popular in the Russian security agencies and in Russian nationalist circles that there was an American “Dulles Plan”—after C.I.A. director Allen Dulles— to destroy the Soviet Union. As the Russian historian Viktor Shnirelman has shown, this idea was likely inspired by an intentional misreading of a 1948 U.S. National Security Council directive that may have become known to Soviet intelligence. (The directive was in fact exclusively defensive and contained not a single word about the “destruction of the Russian people.”) The myth about the existence of the “plan” even found its way into some Russian history books.
The KGB promoted the idea that there was a secret U.S. plot to destroy the Soviet Union.
Although the Soviet government moved much closer to the United States during the Mikhail Gorbachev era, the strain of extreme anti-Americanism continued to thrive in some corners of the Soviet and post-Soviet state. In the 1990s, for example, Filip Bobkov, a former senior KGB officer, claimed that the collapse of the Soviet Union had been engineered by the United States with the help of the “Yakovlev group”—this time the Yakovlev in question was Alexander, an architect of perestroika and Gorbachev’s right-hand man. These conspiracy theories had lived on, unaltered, on Russia’s nationalist fringe, including in the work of the Russian émigré philosopher Ivan Ilyin (1883-1954), whose concept of a global “world behind the scenes,” or illuminati, became fashionable in the Kremlin. (The influence of such philosophers on Putin, though, should not be exaggerated: he has quoted Ilyin on perhaps two occasions; and he has referred once to the classic Russian philosopher Nikolai Berdyaev, although he probably knows no more about him than Brezhnev did about Marx. In essence, he was simply showing the that the historical idea of a Russianness shaped in opposition to the West has endured.)
All of the Kremlin’s theses about the dangerous West and Russia’s opposition to it, which Putin repeats nonstop, were formulated long ago in the late Stalin era, sometimes even in verse. In 1951, Pravda published “On the Soviet Atom,” a poem by the children’s poet Sergei Mikhalkov, who also wrote the words to the Soviet and then Russian national anthems. Roughly translated, it went something like: “There will be bombs! / There are bombs! / You should take that into account! / But it’s not in our plans / To conquer other countries.” Those lines could be lifted straight from one of Putin’s speeches.
Then there is the practice of portraying Russia’s American enemies as stupid. In effect, the message is, “Our opponents may be cunning, but we can see right through them.” In the late Stalin years, the Communist leadership propagated the cliché of Americans’ roaming Moscow with cameras and bribing children with candy to look sad to show the despondency of life in the Soviet Union. “Look, Alik is crying / They’ll film him for America!” joked the children’s poet Agniya Barto in the 1950s. Similarly, Putin and Dmitry Medvedev, the former Russian president and deputy chairman of the Security Council, now have a habit of naming and shaming Western enemies in their speeches as “morons” and “half-wits.” Accompanying this is Putin’s growing obsession with LGBTQ topics and obscene jokes about Westerners.

AMERICA FIRST, RUSSIA SECOND

As much as official Russia has often been anti-American, it has also long been obsessed with U.S. economic power and even U.S. goods and food. One of the main slogans from the 1960s Khrushchev era focused on matching and then overtaking the United States in terms of per capita meat, milk, and butter production. When Putin came to power, the idea of catch-up development was hardly less present. In some sense, “America first” is effectively one of Putin’s slogans: everything is viewed through the prism of the United States and the West. To be different means not looking like Western people and not living like them. More precisely, it means achieving similar successes while relying on one’s own strength, upholding sovereignty and “originality,” and practicing import substitution. In other words, both the Russian state and society continue to measure themselves against the yardstick of the United States and its European allies.
The pattern goes back to the earliest Soviet years. American “bourgeois specialists” appeared in the Soviet Union during Stalin’s industrialization drive in the 1920s and 1930s. The Soviet writer Valentin Kataev depicted them somewhat ironically, but the truth is that without U.S. technology, it’s unlikely that an industrial breakthrough would have been possible. When the United States presented the American National Exhibition in Moscow in 1959—an event that attracted more than two million members of the Soviet public, who tasted Pepsi and got their first look at American washing machines—Nikita Khrushchev and Richard Nixon had their famous “kitchen debate” at the fair site, in which they discussed the relative merits of capitalism and socialism. At the time, the Soviet leadership clearly felt its backwardness in the consumer sphere. This was also why the Soviet Union had to lead the way in the space race: to break free of the catch-up matrix.
Amerika, a Russian-language magazine about American life published by the U.S. State Department, was a coveted item, although less so than jeans, chewing gum, and soft drinks. Characteristically, the magazine was banned in 1948, when Stalinist anti-Americanism was in full force, and was released again during Khrushchev’s anti-Stalinist thaw in the 1950s. At the beginning of 1970s, Leonid Brezhnev gladly accepted prototypes from the U.S. car industry as a gift from the Americans, adding to the atmosphere of détente. And when the Soyuz and Apollo missions jointly docked in space in July 1975, it was commemorated in Moscow with the appearance of “real Virginian tobacco” in cigarettes named after the historic event: not the choking fumes of the motherland, but the fragrant aroma of another world. By the twilight years of the Soviet Union, Soviet industry was so dependent on Western supplies and technologies that the sanctions imposed on Moscow for the invasion of Afghanistan put entire industries, such as chemical engineering, in jeopardy.
For Putin, everything is viewed through the prism of the United States and the West.
Even in the post-Soviet era, the Russian fixation with U.S. models and Putin’s talk of a U.S.-imposed unipolar world created a sense of unavoidable dependence on “them.” Respondents in Russian focus groups would sometimes say that Russia’s 1993 constitution was written in Washington and that Putin’s amendments to it were required to make the country truly sovereign. At the same time, however, people understand that the United States has been an economic powerhouse from which Russia could learn a lot in order to achieve the same standard of living. Once again, a combination of Russian superiority and Russian inferiority has been simultaneously expressed in Moscow’s contradictory attitude toward its American rival.
Still, until Putin returned to the presidency in 2012 and Russia annexed Crimea in 2014, Russians’ complexes about the United States were not so noticeable. In the initial years of his rule, beginning in 2000, Putin was still adjusting to the West and wary of squandering the legacy of Boris Yeltsin, his predecessor. He did not see Russia as a trend-setter in the Western-led world order. The open hostility to the West expressed in Putin’s speech at the 2007 Munich Security Conference, however, marked the start of deteriorating relations with the United States—delayed only slightly by an attempted “reset” during Medvedev’s four-year presidency. By 2014, Moscow’s new emphasis on Russian pride and reawakened great-power aspirations brought back all the old hang-ups about the United States, stirring up a quasi-patriotic hysteria. But the strongest manifestation has surfaced since the “special operation” began last year.
Since then, Russian attitudes toward the United States have worsened drastically. In February 2022, 31 percent of Russians had a positive attitude about the United States. A year later, according to the Levada Center, the independent Russian opinion research organization, just 14 percent of respondents had a positive view of the United States, and 73 percent had a negative attitude. The decline in positive attitudes toward Europe is not far behind: just 18 percent of Russians polled had a positive opinion of EU countries in February 2023, compared with 69 percent who did not. When combined with conspiracy theories and Putin’s own growing isolation, Russian fixations with America have become a potent recipe for militarism.

THE SOURCES OF RUSSIAN CONDUCT

Putin’s embrace of conspiratorial anti-Americanism is especially dangerous because of his regime’s growing disregard for the old red lines. During the Cold War, at least, both sides agreed that the consequences of inflicting damage on each other would be unacceptable. Putin’s problem—in fact, the whole world’s problem right now—is that the Russian government lacks the one instinctthat since the late 1960s has consistently led to détente with the West: the willingness to negotiate. Instead, Putin has suspended cooperation on nuclear nonproliferation, discussed the possibility of a nuclear strike with infantile levity, expressed teenage grievances, and shown an unwillingness to maintain even a minimal level of dialogue. All of these actions unfavorably distinguish Putin’s anti-Americanism from that of his late Soviet predecessors.
“The political personality of Soviet power as we know it today,” Kennan wrote in 1950, “is the product of ideology and circumstances.” If one looks at the sources of Russian conduct today, the circumstances are a dictator obsessed with his mission. As for the ideology, Russia’s new foreign policy concept refers to the country’s “special position as an original state-civilization, a vast Eurasian and Euro-Pacific power”—a noteworthy new term. This concept further cites Russia’s role in consolidating “the Russian people and other peoples that make up the cultural and civilizational community of the Russian world”—a geographic space whose borders are not specified.
The eclectic essence of this ideology, which has re-emerged at various stages of Russia’s historical development, was described astutely in Vladimir Nabokov’s “Conversation Piece, 1945,” a short story in which a former White Army colonel who emigrated to the United States declares, “The great Russian people has waked up and my country is again a great country.” He continues: “We [have] had three great leaders. We had Ivan, whom his enemies called Terrible, then we had Peter the Great, and now we have Joseph Stalin. … Today, in every word that comes out of Russia, I feel the power, I feel the splendor of old Mother Russia. She is again a country of soldiers, religion, and true Slavs.”
In his Victory Day speech on May 9, Putin said that Russia’s enemies were notable for their ideology of superiority. It is interesting that he uses almost everything that can be said about him—“exorbitant ambition, arrogance and permissiveness” as he put it in his speech—and lays it at the door of his opponents. Herein lies the deeper purpose of Russian anti-Americanism: to attribute everything that you yourself are plotting, all those immoral plans you are hatching, to the United States.
But this resurrected ideology also reflects the disappearance of the bipolar Cold War order and the loss of Russian greatness and power that have come with it. Thus, when Putin and members of his team talk about a new multipolar world, they are simply trying to reassert Moscow’s lost superpower status and portray themselves as a guiding light for the former Soviet republics and the countries of Africa, Asia, and Latin America. All of this is a consequence of the psychological trauma of the collapse of the Soviet Union, which the elite who came to power in 2000 carried with them. Twenty-two years later, that trauma has resulted in a global catastrophe.
  • ANDREI KOLESNIKOV is a Senior Fellow at the Carnegie Russia Eurasia Center.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?