1537 - Tại sao chủ nghĩa Whataboutism (Anh cũng vậy) lại hiệu quả



Thủ tướng Hungary Viktor Orban tại hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu, Brussels, tháng 5 năm 2022. Johanna Geron / Reuters

Vào ngày 25 tháng 3 năm 2024, đại sứ quán Hoa Kỳ tại Budapest đã nhắm vào Hungary. Trong một video được đăng lên Facebook, các viên chức đại sứ quán đã chỉ trích chính phủ nước này vì vẫn tiếp tục mua dầu và khí đốt của Nga khi hầu hết châu Âu đang cai nghiện Moscow. "Chính phủ Hungary đã chọn cách tăng cường sự phụ thuộc của mình vào năng lượng của Nga... bằng mọi giá", video tuyên bố. "Chỉ có giới lãnh đạo chính trị Hungary mới quyết định giữ cho đất nước phụ thuộc vào năng lượng của Nga".
Hơn một tháng sau, Hungary đã phản pháo. Họ không làm như vậy bằng cách giải quyết bản chất khiếu nại của Washington, hoặc bằng cách lập luận rằng không có gì sai khi mua khí đốt từ Nga. Thay vào đó, họ chỉ trích Hoa Kỳ. "Ai là nhà cung cấp uranium số một [cho] Hoa Kỳ vào năm ngoái?" Bộ trưởng Ngoại giao Hungary Peter Szijjarto phẫn nộ hỏi. “Nga.” Người Mỹ đã chi “hơn 1 tỷ đô la” cho uranium của Nga vào năm 2023, ông nói tiếp. Tuy nhiên, “họ đang gây áp lực buộc chúng ta không mua nhiên liệu từ đó.”
Szijjarto khó có thể là quan chức nước ngoài duy nhất phản bác những lời chỉ trích của Hoa Kỳ bằng cách tham gia vào “whataboutism”—chiến thuật chuyển hướng những lời chỉ trích về hành vi xấu của chính mình bằng cách chỉ ra hành vi xấu của một bên khác. Khi các quan chức Hoa Kỳ cáo buộc Tổng thống Nga Vladimir Putin can thiệp vào cuộc bầu cử năm 2016 của Hoa Kỳ, Putin lưu ý rằng Hoa Kỳ có một hồ sơ dài về can thiệp bầu cử ở nước ngoài. Sau khi Washington chỉ trích Thổ Nhĩ Kỳ vì đàn áp giới truyền thông, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan đã công bố một báo cáo nêu chi tiết về các hành vi vi phạm quyền tự do báo chí tại Hoa Kỳ, bao gồm cả việc bắt giữ các nhà báo trong các cuộc biểu tình Black Lives Matter năm 2014.
Thoạt nhìn, có vẻ như whataboutism là một cách yếu kém để phản ứng lại những lời chỉ trích. Rốt cuộc, từ lâu nó đã được coi là một ngụy biện logic: hai điều sai không tạo nên một điều đúng. Và chính phủ Hoa Kỳ hầu như không bị trừng phạt. Các quan chức Hoa Kỳ thường xuyên, liên tục và công khai lên án các chính phủ nước ngoài, cả bạn bè và kẻ thù.
Nhưng trong nghiên cứu đầu tiên thuộc loại này, chúng tôi đã tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ rằng whataboutism thực sự có hiệu quả cao, cả trong nước và trên trường quốc tế. Khi Hoa Kỳ chỉ trích một quốc gia và quốc gia đó đưa ra lời đáp trả whataboutist, sự ủng hộ của công chúng Hoa Kỳ đối với việc trừng phạt quốc gia đó sẽ giảm xuống. Các nhóm dân số đồng minh trở nên ít ủng hộ việc tham gia vào các lệnh lên án hoặc trừng phạt do Hoa Kỳ lãnh đạo hơn. Những phát hiện này là đúng cho dù whataboutism được triển khai bởi các đối thủ hay đồng minh của Hoa Kỳ. Nói cách khác, chiến thuật này là một công cụ có giá trị đối với bất kỳ quốc gia nào muốn thách thức các chính sách của Hoa Kỳ và phủ nhận các câu chuyện của Washington.
Tuy nhiên, mặc dù whataboutism có hiệu quả, nhưng nó không phải là toàn năng. Nghiên cứu của chúng tôi phát hiện ra rằng whataboutism rất thành công khi các chính phủ nước ngoài chỉ ra các hành động gần đây hơn của Hoa Kỳ bắt chước hành động của chính họ—nói cách khác, khi Washington đang đạo đức giả. Nhưng nó kém hiệu quả hơn khi các chính phủ nước ngoài trích dẫn một hành vi lạm dụng đã xảy ra từ lâu và nó gần như hoàn toàn không hiệu quả khi họ trích dẫn một hành vi xấu không liên quan. Do đó, các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ có thể khiển trách người khác miễn là những lời chỉ trích của họ không dễ dàng bị lật ngược lại.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các quan chức Hoa Kỳ nên chấp nhận rằng im lặng có thể là vàng. Thường thì tốt hơn là chỉ để hành động của một quốc gia khác tự nói lên điều đó. Và trong tương lai, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ nên cố gắng giữ cho hồ sơ trong nước và quốc tế của Washington sạch sẽ nhất có thể. Cuối cùng, làm như vậy là cách chắc chắn duy nhất để tránh chủ nghĩa whataboutism.
***
Kể từ thế kỷ XIX, các quốc gia đã phản ứng với những lời cảnh báo bên ngoài bằng cách chỉ trích ngược lại người buộc tội. Ví dụ, sau khi chính phủ Anh lên án các cuộc tàn sát người Do Thái do nhà nước Nga tài trợ vào năm 1881–82, một tờ báo Nga có quan hệ chặt chẽ với chế độ Sa hoàng đã chỉ trích London vì chính tội ác chống lại loài người của họ: “Mối quan tâm của nước Anh, nước đã làm bần cùng hóa dân số Ấn Độ và Ai Cập, nước đã đầu độc người dân Trung Quốc bằng thuốc phiện, nước đã hủy diệt, giống như côn trùng bản địa, người bản địa của Úc... mối quan tâm của những người làm những điều như vậy chắc chắn là đáng kinh ngạc.”
Vào thế kỷ XX, whataboutism trở nên phổ biến hơn nữa. Trong Thế chiến thứ nhất, các cường quốc Đồng minh cáo buộc Đức tham gia vào tội ác chiến tranh; để đáp trả, chính phủ Đức đã yêu cầu 93 học giả Đức nổi tiếng viết một bức thư ngỏ lên án quân Đồng minh vì sử dụng đạn nổ và giết hại phụ nữ và trẻ em dân thường. Trong Chiến tranh Lạnh, Liên Xô thường xuyên triển khai whataboutism trong cuộc đấu tranh chống lại Washington, bất kể cáo buộc cụ thể của Hoa Kỳ. Moscow đặc biệt chỉ trích Hoa Kỳ vì đã đối xử tệ bạc với người da đen. Cho đến ngày nay, cụm từ "và bạn treo cổ người da đen" vẫn thường được sử dụng ở Nga và nhiều nước Đông Âu để chỉ việc sử dụng whataboutism.
Ngày nay, whataboutism là một công cụ ngoại giao công khai thậm chí còn mạnh mẽ hơn, nhờ vào sự khuếch đại mà Internet cho phép. Các quốc gia sử dụng nó để lên án đối thủ của mình, chẳng hạn như khi Nga khiển trách Hoa Kỳ vì những thiếu sót về nhân quyền. Nó được sử dụng giữa các quốc gia có mối quan hệ phức tạp. Nó thậm chí còn được các quốc gia sử dụng để lên án các đồng minh của họ. Ví dụ, vào tháng 5 năm 2023, Bộ trưởng Nội vụ Pháp Gérald Darmanin đã chỉ trích thủ tướng Ý Giorgia Meloni vì "không có khả năng giải quyết các vấn đề di cư mà bà đã đắc cử". Đáp lại, các quan chức và phương tiện truyền thông Ý đã nhấn mạnh đến việc Pháp không cử nhiều hơn một số ít cảnh sát đến giúp các tiểu bang tuyến đầu ngăn chặn dòng người đổ về.
Các chính phủ từ lâu đã lo ngại về những lời chỉ trích whataboutist. Ví dụ, vào năm 1985, chính quyền Reagan đã tổ chức và tài trợ cho một hội nghị đặc biệt tại Washington, D.C., dành riêng để bác bỏ những so sánh giữa cuộc xâm lược Grenada năm 1983 của Hoa Kỳ với cuộc xâm lược Afghanistan năm 1979 của Liên Xô. Nhưng các nhà phân tích vẫn chưa nghiên cứu một cách có hệ thống liệu whataboutism có hoạt động như một công cụ của nghệ thuật chính trị quốc tế hay không. Để lấp đầy khoảng trống đó, chúng tôi đã tiến hành hai cuộc khảo sát với hơn 2.500 người trả lời, cả hai đều lấy từ các mẫu đại diện của công chúng Hoa Kỳ. Trong mỗi câu hỏi, chúng tôi đưa ra cho người trả lời các ví dụ giả định về việc Hoa Kỳ chỉ trích các quốc gia khác vì can thiệp bầu cử và ngược đãi người tị nạn. Chúng tôi hỏi họ chấp thuận các tuyên bố của Washington ở mức độ nào và liệu họ có ủng hộ việc áp dụng lệnh trừng phạt hay không. Chúng tôi chia ngẫu nhiên người trả lời thành hai nhóm. Một số người trả lời được chọn ngẫu nhiên nhận được những câu hỏi này mà không đưa ra phản biện whataboutist trước. Những người tham gia khác trả lời lại sau khi đọc các phản hồi whataboutist giả định từ các quốc gia bên ngoài.
Phát hiện của chúng tôi rất rõ ràng: whataboutism có hiệu quả cao trong việc làm suy yếu sự ủng hộ của công chúng Hoa Kỳ đối với các sáng kiến ​​chính sách đối ngoại. Nó làm giảm đáng kể sự ủng hộ đối với việc chỉ trích các quốc gia nước ngoài. Ví dụ, trước khi nghe một lời chỉ trích whataboutist, 56 phần trăm người trả lời chấp thuận lời chỉ trích của Washington đối với hành động của quốc gia nước ngoài. Nhưng sau khi nghe, sự chấp thuận giảm xuống còn 38 phần trăm. Whataboutism cũng làm giảm sự ủng hộ đối với việc áp dụng lệnh trừng phạt. Trước khi nghe một lời phản biện whataboutist, 59 phần trăm người trả lời ủng hộ các lệnh trừng phạt để đáp trả hành động của quốc gia nước ngoài. Sau đó, sự ủng hộ giảm xuống còn 49 phần trăm. Và whataboutism khiến người Mỹ coi các quyết định mà Washington lên án là có thể chấp nhận được về mặt đạo đức hơn. Tỷ lệ người trả lời cho rằng hành động của quốc gia đó có thể biện minh ngang bằng với lựa chọn của Hoa Kỳ đã tăng từ 32% lên 41%.
Trong nghiên cứu tiếp theo (với nhà khoa học chính trị Atsushi Tago), chúng tôi đã kiểm tra xem chủ nghĩa whataboutism có tác động tương tự đến các quốc gia đồng minh với Hoa Kỳ hay không. Để làm như vậy, chúng tôi đã tuyển dụng một mẫu đại diện gồm cư dân ở Vương quốc Anh và Nhật Bản và yêu cầu họ trả lời một cuộc khảo sát tương tự. Một lần nữa, chúng tôi thấy rằng chủ nghĩa whataboutism có hiệu quả. Sau khi nghe những lời đáp trả của chủ nghĩa whataboutist nhắm vào Hoa Kỳ, những người trả lời ở Anh và Nhật Bản trở nên ít có khả năng ủng hộ việc tham gia vào các lời chỉ trích của Washington. Ví dụ, trước khi nghe một lời chỉ trích của chủ nghĩa whataboutist, 59% người trả lời ở Anh và 46% người trả lời ở Nhật Bản chấp thuận tham gia vào các lời chỉ trích của Hoa Kỳ. Sau khi nghe, tỷ lệ ủng hộ giảm xuống còn 37% và 29%. Những người trả lời cũng ít ủng hộ việc chính phủ của họ tham gia vào bất kỳ lệnh trừng phạt nào của Hoa Kỳ: tỷ lệ ủng hộ giảm từ 58% xuống 41% ở Vương quốc Anh và từ 34% xuống 27% ở Nhật Bản. Cuối cùng, whataboutism đã làm tăng xu hướng của người trả lời khi coi Hoa Kỳ và người hành động whataboutism là tương đương về mặt đạo đức. Tỷ lệ người Anh trả lời coi các hành động là có thể biện minh ngang nhau đã tăng từ 30 phần trăm lên 42 phần trăm. Trong số những người trả lời Nhật Bản, tỷ lệ này tăng từ 27 phần trăm lên 34 phần trăm.
Điều thú vị là danh tính của tác nhân whataboutist không quan trọng đối với công chúng Mỹ, Anh hay Nhật Bản. Whataboutism của các đối thủ của Hoa Kỳ, chẳng hạn như Nga, tỏ ra hiệu quả như những lời đáp trả whataboutist của các đồng minh thân cận. Tương tự như vậy, chính phủ Hoa Kỳ không thể phản bác whataboutism bằng cách lập luận rằng hành vi sai trái của họ được cho là có ý định tốt, chẳng hạn như thúc đẩy dân chủ. Do đó, những nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm chống lại whataboutism, như tại hội nghị năm 1985, có lẽ đã thất bại. Việc xin lỗi vì những hành vi sai trái trong quá khứ cũng vậy. (Theo nghiên cứu của chúng tôi, lời xin lỗi của chính phủ Hoa Kỳ, trong trường hợp tốt nhất, cũng chỉ có thể phản bác một cách khiêm tốn những tác động tiêu cực của whataboutism.) Đơn giản là không có chiến lược hùng biện nào có thể loại bỏ sức mạnh của kỹ thuật này.
***
Đối với Washington, những phát hiện này, ít nhất, rất bất tiện. Các quan chức Hoa Kỳ coi việc chỉ trích các chính phủ nước ngoài không thân thiện là một cách hấp dẫn và ít tốn kém để làm tổn hại đến vị thế quốc tế của những tác nhân như vậy và xoa dịu các nhóm cử tri trong nước. Do đó, họ thoải mái tham gia vào các cuộc lên án công khai. Nhưng khi các thế lực nước ngoài có thể dễ dàng chuyển hướng những lời chỉ trích này bằng cách tham chiếu đến một số hành động của Hoa Kỳ, thì những tuyên bố như vậy khó có thể thành công. Trên thực tế, cuối cùng chúng có thể gây hại nhiều hơn là có lợi; xét cho cùng, các phản ứng theo chủ nghĩa whataboutism sẽ hướng sự chú ý khỏi các hành động của các chính phủ khác và hướng đến hành vi xấu của chính Washington.
Tuy nhiên, hiệu quả của chủ nghĩa whataboutism có thể khác nhau. Theo nghiên cứu của chúng tôi, nó phụ thuộc rất nhiều vào bản chất và thời điểm của hành động của Hoa Kỳ đang được đề cập. Chủ nghĩa whataboutism đề cập đến những hành động tương tự gần đây của Hoa Kỳ có tác động mạnh mẽ. Nhưng những hành động của Hoa Kỳ có nguồn gốc cũ hơn nhiều - chẳng hạn như từ thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh hoặc thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh - có ít ảnh hưởng hơn. Và chủ nghĩa whataboutism đề cập đến các hành động của Hoa Kỳ không liên quan đáng kể đến cáo buộc ban đầu có tác động rất yếu và đôi khi không có tác động nào cả. Điều này vẫn đúng ngay cả khi các thế lực nước ngoài nêu ra những hành vi sai trái rất tai tiếng và gần đây của Hoa Kỳ, chẳng hạn như việc tra tấn những nghi phạm khủng bố tại Vịnh Guantanamo và những nơi khác.
Do đó, các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ nên xem xét lại cách tiếp cận của họ đối với những cáo buộc whataboutist. Thay vì bắn từ hông, trước tiên họ phải kiểm tra cẩn thận hồ sơ của chính quốc gia mình và hiệu chỉnh thông điệp của mình để tránh bị cáo buộc là đạo đức giả. Để làm như vậy, các bộ phận của chính phủ Hoa Kỳ có thể chỉ đạo các nhân viên làm việc cẩn thận với các đồng nghiệp có trí nhớ của tổ chức và chuyên môn có liên quan trước khi đưa ra các tuyên bố. Các quan chức cũng có thể yêu cầu đánh giá tác động của whataboutism trước khi đưa ra các bài phát biểu quan trọng hoặc công bố các sáng kiến ​​mới, giống như cách họ tiến hành các sáng kiến ​​kinh tế và nhân đạo.
Để biết lý do tại sao các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ nên áp dụng các biện pháp như vậy, hãy xem xét bài phát biểu mà đại sứ Hoa Kỳ tại Liên hợp quốc, Linda Thomas-Greenfield, đã đưa ra vào tháng 3 năm 2022 chỉ trích gay gắt Nga vì cuộc xâm lược Ukraine. Trong bài phát biểu của mình, Thomas-Greenfield đã khiển trách Moscow vì sử dụng bom chùm. Nhưng đây là một sai lầm nghiêm trọng về mặt hùng biện: Hoa Kỳ, giống như Nga, chưa bao giờ ký công ước quốc tế cấm những loại vũ khí này, và theo bản ghi nhớ năm 2017 của Bộ Quốc phòng, các kế hoạch chiến tranh của Hoa Kỳ vẫn cho phép sử dụng chúng trong một số điều kiện nhất định. Do đó, Washington đã phải đưa ra tuyên bố rút lại lời chỉ trích về bom chùm. Họ đã làm như vậy đủ nhanh để tránh phản ứng của Nga.
Cuộc xâm lược Ukraine của Nga đủ rộng và đủ tệ để Hoa Kỳ có thể lên án theo những cách không mời gọi những lời buộc tội kiểu whataboutist. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, Washington có thể không thể đưa ra những lời khiển trách không đạo đức giả. Trong những trường hợp này, tốt nhất là các quan chức Hoa Kỳ không nên nói gì cả. Làm như vậy có thể khó khăn đối với các diễn viên người Mỹ quen nói chuyện thoải mái. Nhưng họ nên nhớ rằng, bằng cách giữ im lặng, họ tránh được những tuyên bố có khả năng gây hại cho chương trình nghị sự chính sách đối ngoại rộng lớn hơn của họ.
Cuối cùng, trong tương lai, Hoa Kỳ nên cố gắng tránh các lựa chọn chính sách không phù hợp với các giá trị và nguyên tắc của Hoa Kỳ đã nêu. Ví dụ, Washington nên nỗ lực tránh ngược đãi những người bị giam giữ. Nên từ chối các lệnh trừng phạt kinh tế gây ra thiệt hại đáng kể và vô cớ cho dân thường. Và trong hầu hết các trường hợp, không nên tiến hành các cuộc xâm lược hoặc cố gắng lật đổ các chính phủ nước ngoài mà không có sự chấp thuận của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Tránh những quyết định như vậy dễ nói hơn là làm. Hoa Kỳ không thể chỉ đơn giản là rũ bỏ những bất công đã ăn sâu bén rễ. Những người lý trí có thể không đồng ý về việc liệu một số quyết định nhất định có thể chấp nhận được về mặt đạo đức hay không. Và việc phá vỡ các quy tắc chuẩn mực có thể giúp Washington đạt được các mục tiêu mà nếu không thì có thể chứng minh là khó nắm bắt, điều này khiến việc làm như vậy trở nên hấp dẫn đối với các quan chức. Nhưng việc sử dụng quyền lực của Hoa Kỳ một cách thiển cận có thể phản tác dụng trong nhiều năm. Ví dụ, CIA đã hỗ trợ các cuộc đảo chính ở Iran năm 1953 và Guatemala năm 1954, nhanh chóng loại bỏ các mối đe dọa cộng sản được nhận thức và bảo vệ các lợi ích của phương Tây tại các quốc gia này. Cuộc xâm lược Iraq năm 2003 đã nhanh chóng lật đổ một nhà độc tài ghét Hoa Kỳ. Nhưng mỗi hành động trong số này đều vi phạm nghiêm trọng chuẩn mực quốc tế cơ bản về chủ quyền quốc gia và chúng đã trở thành ví dụ mạnh mẽ về tiêu chuẩn kép của Washington. Cho đến ngày nay, những trường hợp này vẫn được các thế lực nước ngoài đưa ra khi Hoa Kỳ quyết định công kích họ.
Các chính phủ nước ngoài có thể và thực sự sử dụng hồ sơ của Hoa Kỳ chống lại Washington. Những lời chỉ trích của họ làm xói mòn sự ủng hộ trong nước và quốc tế đối với các hành động của Hoa Kỳ. Do đó, Hoa Kỳ sẽ khôn ngoan khi tránh đưa ra những quyết định phi đạo đức khi theo đuổi các mục tiêu hạn hẹp, ngắn hạn. Làm như vậy là cách duy nhất để các quan chức tương lai của Hoa Kỳ không phải gặp gỡ nhiều lần với những bóng ma trong quá khứ của nước Mỹ.

WILFRED M. CHOW là Trợ lý Giáo sư tại Khoa Nghiên cứu Quốc tế thuộc Đại học Nottingham Ninh Ba, Trung Quốc.
DOV H. LEVIN là Phó Giáo sư về Quan hệ Quốc tế tại Khoa Chính trị và Hành chính Công thuộc Đại học Hồng Kông.

https://www.foreignaffairs.com/united-states/why-whataboutism-works

***

Why Whataboutism Works

In International Politics, It Pays to Point Fingers

Hungarian Prime Minister Viktor Orban at the European Union leaders summit, Brussels, May 2022. Johanna Geron / Reuters

On March 25, 2024, the U.S. embassy in Budapest took aim at Hungary. In a video posted to Facebook, embassy officials decried the country’s government for continuing to purchase Russian oil and gas when most of Europe was weaning itself off Moscow. “The Hungarian government has chosen to augment its reliance on Russian energy . . . at any expense,” the video declared. “Only the Hungarian political leadership has decided to keep the country dependent on Russian energy.”
A little more than a month later, Hungary fired back. It did so not by addressing the substance of Washington’s complaint, or by arguing that there was nothing wrong with buying gas from Russia. Instead, it criticized the United States. “Who was the number one supplier of uranium [to] the United States last year?” Hungarian Foreign Affairs Minister Peter Szijjarto indignantly asked. “Russia.” Americans had spent “more than $1 billion” on Russian uranium in 2023, he continued. And yet “they are putting pressure on us not to buy fuel from there.”
Szijjarto is hardly the only foreign official to counter U.S. criticisms by engaging in “whataboutism”—the tactic of deflecting criticism of one’s own bad behavior by pointing to another actor’s bad behavior. When U.S. officials accused Russian President Vladimir Putin of meddling in the 2016 American elections, Putin noted that the United States has a long record of electoral interference abroad. After Washington blasted Turkey for its crackdown on the media, Turkish President Recep Tayyip Erdogan released a report detailing violations of press freedom in the United States, including the arrests of journalists during the 2014 Black Lives Matter protests.
At first glance, it may seem as if whataboutism is a weak way to respond to critiques. After all, it has long been considered a logical fallacy: two wrongs do not make a right. And the U.S. government has hardly been chastened. American officials routinely, continuously, and openly condemn foreign governments, friends and foes alike.
But in first-of-its-kind research, we have found strong evidence that whataboutism is, in fact, highly effective, both domestically and in the international arena. When the United States criticizes a country and that country issues a whataboutist retort, U.S. public support for penalizing it declines. Allied populations become less supportive of joining American-led condemnations or sanctions. These findings were true whether whataboutism was deployed by U.S. adversaries or allies. The tactic, in other words, is a valuable tool for any states looking to challenge American policies and negate Washington’s narratives.
Yet although whataboutism works, it is not all-powerful. Our research found that whataboutism was highly successful when foreign governments pointed to more recent U.S. actions that mimicked their own—in other words, when Washington was being hypocritical. But it was less effective when foreign governments were citing an abuse that happened long ago, and it was almost entirely ineffective when they cited an unrelated bad act. American policymakers, therefore, can successfully rebuke others as long as their criticisms cannot easily be flipped back.
In some instances, however, U.S. officials should accept that silence can be golden. Often, it may be better to simply allow another country’s actions to speak for themselves. And going forward, American leaders should try to keep Washington’s own domestic and international record as clean as possible. At the end of the day, doing so is the only sure way to avoid whataboutism.

CALL-OUT CULTURE

Since the nineteenth century, states have responded to external admonishments by pointing the finger back at the accuser. After the British government denounced Russia’s state-sponsored pogroms against Jews in 1881–82, for example, a Russian newspaper closely affiliated with the tsarist regime upbraided London for its own crimes against humanity: “The concern of England, which has beggared the population of India and Egypt, which has poisoned the people of China with opium, which destroyed, like indigenous insects, the natives of Australia . . . the concern of a people who do such things is certainly astonishing.”
In the twentieth century, whataboutism became even more common. During World War I, the Allied powers accused Germany of engaging in war crimes; in response, the German government had 93 prominent German academics write an open letter condemning the allies for using expanding bullets and for killing civilian women and children. During the Cold War, the Soviet Union frequently deployed whataboutism in its struggle against Washington, regardless of the specific U.S. charge. Moscow harangued the United States, in particular, for its mistreatment of Black people. To this day, the phrase “and you lynch Black people” is commonly used in Russia and many eastern European countries to denote the use of whataboutism.
Today, whataboutism is an even more powerful tool of public diplomacy, thanks to the amplification allowed by the Internet. It is used by countries to condemn their adversaries, such as when Russia rebukes the United States for its human rights failings. It is used between states with mixed relationships. It is even used by states to denounce their allies. In May 2023, for instance, French Interior Minister Gérald Darmanin criticized Italy’s prime minister, Giorgia Meloni, for being “incapable of solving the migration problems on which she was elected.” In response, Italian officials and media highlighted France’s failure to send more than a handful of police officers to help frontline states stop the influx.
Whataboutism by U.S. adversaries is just as effective as whataboutist retorts by close allies.
Governments have long been concerned about whataboutist criticisms. In 1985, for example, the Reagan administration organized and funded a special conference in Washington, D.C., dedicated to refuting comparisons of the 1983 U.S. invasion of Grenada to the 1979 Soviet invasion of Afghanistan. But analysts had yet to systematically study whether whataboutism works as a tool of international statecraft. To fill that gap, we conducted two surveys with more than 2,500 respondents apiece, both of which drew from representative samples of the American public. In each, we gave respondents hypothetical examples of the United States criticizing other countries for electoral interventions and the mistreatment of refugees. We asked to what extent they approved of Washington’s statements, and whether they supported imposing sanctions. We randomly divided respondents into two groups. Some randomly selected respondents received these questions without first posing a whataboutist retort. Other participants answered them again after reading hypothetical whataboutist replies from outside states.
Our finding was clear: whataboutism is highly effective in undercutting U.S. public support for foreign policy initiatives. It significantly reduced support for criticizing foreign countries. Before hearing a whataboutist critique, for example, 56 percent of respondents approved of Washington’s criticism of the foreign country’s actions. But after hearing it, approval fell to 38 percent. Whataboutism also drove down support for imposing sanctions. Before hearing a whataboutist retort, 59 percent of respondents supported sanctions in response to the foreign country’s actions. After, support fell to 49 percent. And whataboutism led Americans to treat the decisions Washington condemned as more morally acceptable. The percentage of respondents viewing that state’s actions as equally justifiable to the United States’ choices rose from 32 percent to 41 percent.
In subsequent research (with the political scientist Atsushi Tago), we tested whether whataboutism had the same effect on countries allied with the United States. To do so, we recruited a representative sample of residents in the United Kingdom and Japan and asked them to answer a similar survey. Once again, we found that whataboutism worked. After hearing whataboutist retorts aimed at the United States, British and Japanese respondents became significantly less likely to support joining in Washington’s critiques. Before hearing a whataboutist critique, for example, 59 percent of British respondents and 46 percent of Japanese respondents approved of joining U.S. criticisms. After hearing it, support fell to 37 percent and 29 percent, respectively. Respondents were also less supportive of their government joining any U.S. sanctions: support fell from 58 percent to 41 percent in the United Kingdom and from 34 percent to 27 percent in Japan. Finally, whataboutism increased respondents’ tendency to see the United States and the whataboutist actor as morally equivalent. The percent of British respondents viewing the actions as equally justifiable rose from 30 percent to 42 percent. Among Japanese respondents, it went from 27 percent to 34 percent.
Interestingly, the identity of the whataboutist actor did not matter to the American, British, or Japanese publics. Whataboutism by U.S. adversaries, such as Russia, proved just as effective as whataboutist retorts by close allies. Likewise, the U.S. government could not counter whataboutism by arguing that its misdeed had supposedly benevolent intentions, such as promoting democracy. As a result, American efforts to fight back against whataboutism, as at the 1985 conference, have probably failed. So has apologizing for past misdeeds. (According to our research, U.S. government apologies, at best, very modestly counteract whataboutism’s negative effects.) There is simply no rhetorical strategy that can eliminate the technique’s power.

GLASS HOUSES

For Washington, these findings are, at a minimum, very inconvenient. U.S. officials see criticizing unfriendly foreign governments as a highly appealing, relatively low-cost way to damage such actors’ international standing and to appease various domestic constituencies. As a result, they liberally engage in public condemnations. But when foreign powers can easily deflect these critiques by referencing some U.S. action, such declarations are unlikely to land. In fact, they may ultimately do more harm than good; whataboutist reactions, after all, draw attention away from other governments’ actions and toward Washington’s own bad behavior.
Yet the effectiveness of whataboutism can vary. According to our research, it is heavily dependent on the nature and timing of the American act in question. Whataboutism that referred to recent, similar U.S. deeds had strong effects. But U.S. deeds of much older provenance—such as from the interwar period or the early Cold War era—had less influence. And whataboutism that referred to American acts that were not substantively related to the initial charge had very weak effects and sometimes none at all. This was the case even when foreign powers raised very infamous and recent U.S. misdeeds, such as the torture of suspected terrorists at Guantánamo Bay and elsewhere.
U.S. policymakers, therefore, should rethink their approach to whataboutist accusations. Rather than shooting from the hip, they must first carefully check their country’s own record and calibrate their messages to avoid accusations of hypocrisy. To do so, U.S. government departments could direct staffers to carefully work with colleagues that have institutional memory and relevant expertise before issuing statements. Officials could also request whataboutism impact assessments before making major speeches or unveiling new initiatives, just as they conduct economic and humanitarian ones.
To see why American policymakers should adopt such measures, consider the speech that the U.S. ambassador to the United Nations, Linda Thomas-Greenfield, delivered in March 2022 excoriating Russia for its invasion of Ukraine. During her remarks, Thomas-Greenfield rebuked Moscow for using cluster munitions. But this was a serious rhetorical mistake: the United States, like Russia, never signed the international convention banning these weapons, and according to a 2017 Defense Department memorandum, U.S. war plans still allow for their use under certain conditions. As a result, Washington had to issue a statement walking back the cluster-munitions criticism. It did so swiftly enough to avoid a Russian response.
U.S. officials must calibrate their messages to avoid accusations of hypocrisy.
Russia’s invasion of Ukraine is broad enough and bad enough that it is possible for the United States to denounce it in ways that do not invite whataboutist charges. In some cases, however, it may not be possible for Washington to issue nonhypocritical reprimands. In these instances, it may be best for U.S. officials to say nothing at all. Doing so may prove difficult for American actors accustomed to speaking freely. But they should remember that, by staying silent, they avoid pronouncements that can potentially harm their wider foreign policy agendas.
Finally, going forward, the United States should try to avoid policy choices that do not align with stated American values and principles. Washington, for example, should work to avoid mistreating detainees. It should reject economic sanctions that cause significant and gratuitous harm to civilians. And in most cases, it should not launch invasions or otherwise try to topple foreign governments without UN Security Council approval.
Avoiding such decisions is far easier said than done. The United States cannot simply shake off deeply entrenched injustices. Reasonable people can disagree about whether certain decisions are morally acceptable. And breaking normative rules can help Washington achieve goals that might otherwise prove elusive, which makes doing so attractive to officials. But the shortsighted use of U.S. power can backfire for years. The CIA, for example, aided coups in Iran in 1953 and Guatemala in 1954 that swiftly eliminated perceived communist threats and secured Western interests in these countries. The 2003 invasion of Iraq quickly deposed an autocrat who hated the United States. But each of these actions severely violated the bedrock international norm of state sovereignty, and they have become potent examples of Washington’s double standards. To this day, these cases are trotted out by foreign powers when the United States decides to inveigh against them.
Foreign governments can and do utilize the United States’ record against Washington. Their critiques erode domestic and international support for U.S. actions. Consequently, the United States would be wise to avoid making unethical decisions in pursuit of narrow, short-term objectives. Doing so is the only way to spare future U.S. officials from having many uncomfortable meetings with the ghosts of America’s past.
  • WILFRED M. CHOW is an Assistant Professor in the School of International Studies at the University of Nottingham Ningbo China.
  • DOV H. LEVIN is Associate Professor of International Relations in the Department of Politics and Public Administration at the University of Hong Kong.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?