1686 - Vợ Thầy Hương 20

Lê Xuyên




Khi chiếc tam bản của anh Tư và thím Hương chèo lên tới Thục Nhân thì nghe nói trên Cần Thơ đã có lịnh tản cư triệt để. Đằng nào cũng phải đi lên trên ấy rồi mới thả vô miệt Phong Điền được nên thím Hương hối hai anh bạn ở chèo rút.
Khi chiếc tam bản ló mũi vô vàm, cả thím Hương lẫn anh Tư đều hoảng kinh trước vẻ  ‘‘hoang vu’’ rờn rợn của thành phố: bến sông vắng tanh, đường phố trống trơn, hàng tiệm đóng cửa.
Thím Hương bồn chồn hỏi anh Tư:
- Sao kỳ quá vậy anh?
Anh Tư giơ tay chỉ lên bờ, nhún vai :
- Kỳ khỉ gì! Bộ em hổng nghe nói sao, họ tản cư triệt để mà !
- Vậy mình ghé lại để em lên thăm con Hạnh coi ra sao.
Anh Tư trợn mắt:
- Ý trời, giờ phút nầy em lên trển cũng vô ích, vì còn có ai ở lại đâu !. Mà không khéo mình mới xớ rớ tấp vô bờ, ba cha nội du kích phá hoại còn ở lại dám thộp сổ rồi hô lên là Việt gian thì nguy lắm đa em! Nhằm cái lúc găng như vầy mà lọt vô tay mấy chả thì mấy chả bất kể quân thần, bất chấp luật lệ.
- Mình ghé vô không được, rồi con Hạnh ra sao?
- Ối, anh đã nói: thiên hạ tản cư thì thầy Năm thẩy cũng phải đi theo và chẳng lẽ thẩy bỏ con Hạnh lại sao  em sợ ! Ai anh không dám nói chớ đối với thầy Năm thì mình khỏi lo gì hết. Thôi bây giờ chỉ có nước là mình cùng thả vô miệt trong, vô phía đó thế nào mình cũng gặp cái đám tản cư ở ngoài nầy dồn đùn cục ở trỏng chớ họ chạy đi đâu nữa !
Thím Hương thắc mắc hỏi thêm:
- Cái điệu nầy rồi làm sao anh sang thăm thằng Long được?
- Chuyện nầy thì anh xin chịu thua rồi. Bên nầy mà họ còn như vầy thì bên Vĩnh Long họ đã cuốn gói dông đi từ khuya rồi ! Coi vậy chớ không sao hết em à ! Thế nào thằng Long nó cũng tấp vô đám con của thầy Giáo chủ nhà nó ở đậu để đi tản cư luôn.
Thím Hương nhìn lên hàng dương trơ vơ trên bờ sông chợ rồi chép miệng thở than:
- Cha, hổng biết rồi đây hai đứa nhỏ có sao hông. Phải dè như vậy, em hối anh đi sớm sớm một chút nữa, tại mình cứ lần khân ở dưới hoài.

***
Vô đến Phong Điền, anh Tư thấy ghe thuyền của dân tản cư đậu đặc nghẹt trong ấy, và làn sóng người lánh nạn bắt đầu đổ dồn vô miệt Đa Mít.
Anh Tư cũng cho tam bản thả rề theo để tấp vào mấy cái chợ ‘’tản cư ’’ bán hàng và cứ thế đi lần vô miệt Bà Đầm, Thác Lác.
Ngày tháng trôi qua, tiếng súng mỗi lúc mỗi nghe lan tràn. Mấy ‘‘Ủy ban’’ tỉnh trước còn thấy đóng chỗ nầy chỗ kia, bây giờ rút đi đâu mất. Dân thành tản cư xài hết tiền hết bạc đem theo, bơ vơ nơi chỗ ruộng rẫy lạ, không phương kế làm ăn nên bắt đầu lục tục hồi cư.
Thừa dịp ‘‘xả cảng’’ không làng không lính, không ủy ban, không du kích, trộm cướp nổi lên như ong không có đêm nào là không có tiếng mõ hồi một, khiến cho dân thành ở mấy đoàn ghe tản cư lên ruột lên gan hối hả cho chèo rút về miệt chợ bất kể nước lớn nước ròng.
Chiếc tam bản của thím Hương và anh Tư cũng ở trong số đó và ngặt hơn nữa, vì muốn bán cho hết hàng, anh Tư còn nấn ná ở miệt Thác Lác nên chiếc tam bản của anh và thím Hương đi lẹt đẹt ở sau cùng. Trước tình thế ấy, thím Hương lo ngại hỏi anh Tư :
- Nè anh, rủi ro ăn cướp bơi xuồng ra chận tam bản mình thì sao? Chẳng lẽ xuôi tay để cho tụi nó vơ vét hết tiền bạc vàng vòng hay sao?
Anh Tư nghiêm nghị đáp :
- Anh cũng tính bàn với em một chuyện đó, chớ lóng rày anh có nghe tin, tụi cướp hay chận đánh các ghe thuyền tản cư lắm. Tốt hơn hết là mình nên phòng xa, em chịu khó may một cái dây lưng lớn có từng ngăn theo kiểu cái ruột tượng của mấy ông già xưa đó, rồi tiền bạc vòng vàng mình thồn vô trỏng may kín lại, buộc luôn vô lưng. Như vậy rủi có Tây bố, hay có trộm cướp gì thì mình cứ liệu mà dông trốn cho tiện.
Thím Hương hỏi lại:
- Như vậy rủi Tây hay cướp nó bắt được mình thì sao?
Anh Tư nhăn mặt:
- Nói như em vậy hết chuyện! Chớ em để tiền bạc trong mấy cái hộp bánh xâm banh, rủi có động tịnh gì, em ôm lình kình làng càng theo được phải hông? Tới chừng đó luýnh quýnh em dám để sót lại hoặc làm văng rớt dọc đường dọc sá nữa, đó là anh chưa nói tới chuyện em mà ôm của cải vàng bạc kè kè như vậy càng mau chết nữa!
Thím Hương thấm ý gật đầu:
-  Ờ phải há.
Anh Tư hăng hái nói tiếp:
- Còn mình dồn nó vô ruột tượng buộc chặt quanh bụng vừa gọn vừa tiện, có việc gì là phóng đi liền, mà nếu rủi ro có bị kẹt cái gì mình cũng dễ quăng dấu ở đâu đó được.
Thím Hương chợt hỏi ngang:
- Nhưng rủi nó bắt được mình rồi đánh đập, tra khảo biểu chỉ chỗ dấu của thì sao?
Anh Tư mỉm cười trả lời như đã có sẵn trớn:
- Em thiệt thà quá đỗi ! Cố nhiên là mình phải phòng xa trường hợp đó bằng cách làm bộ dấu nhét năm sáu trăm một ngàn đâu ở phía kẹt lá trên mui, đồng thời em lựa một vài món bông tai, dây chuyền, chuỗi hổ, cẩm thạch… gì đó đem gói để ở dưới khoang. Mình cũng lựa một kẹt một hốc nào cho có vẻ thiệt kín để mà con mắt tụi cướp nếu rủi ro một trong hai đứa mình bị kẹt lại.
Thím Hương vói tay lấy cái rỗ may để trên kệ xuống:
- Thôi để em may cái ruột tượng ấy liền nghen anh!
- Ờ, nhớ lựa thứ vải nào dày chắc nó nghen em, và nếu đồ đạc của mình nhiều, em nên may luôn hai cái để nữa hai đứa mình phân chia nhau mỗi đứa lãnh một cái.
Thím Hương tươi cười lắc đầu:
- Thôi để em may một cái thiệt bự, có bao nhiêu đồ đạc mình dồn hết vô trong cho gọn rồi anh lãnh phần mang đa nghen ! Em mang theo nặng bụng lắm, em chịu hổng nổi đâu !
Anh Tư cười xòa:
- Có vậy mà cũng sợ nặng. Được rồi để anh lãnh phần mang nó cho ! Cái điệu nầy phải cho em mang bầu một chuyến để coi em kêu nhẹ nữa hông!
Thím Hương nhăn mặt kêu lên:
- Ý thôi thôi đi ! Lúc nầy mà em khệ nệ một cái bụng lớn bằng cái trống chầu nữa thì mệt đúng đa !
Nói đến đây, thím Hương đưa tay véo nhẹ vào bấp vế non anh Tư, và liếc xéo anh ta:
- Mà em biệt có sợ, nếu có thì đã có từ đời nào rồi! Anh Tư ơi, em chịu cái nết đó của anh lắm nghe!
Anh Tư có vẻ mắc cở:
- Nói bậy nà. Em hổng lo may vá rút đi chứ ở đó nói cà rỡn hoài ! Mà nhớ giữ gìn kín đáo đừng cho hai thằng bạn ở thấy nghen. Thời buổi này hổng nên tin ai hết ; hai thằng đó dám tối mắt tối mũi vì vàng bạc lắm, và biết đâu tụi nó hổng đợi tới khúc nào vắng, hè nhau đập đầu mình bằng cột chèo rồi chuồi xác luôn xuống sông...
Thím Hương chắc lưỡi chận ngang:
- Anh nầy nói sao nghe ghê thấy mồ! Anh làm em lo sợ quýnh đây nè !
Anh Tư cười đáp:
- Sợ cái lỗ miệng á ! Thiệt nói ra đây xấu hổ ông bà, chớ nhiều đêm, nghe tiếng mõ hồi một đuổi cướp mình teo ruột teo gan hết trơn hết trọi mà em vẫn coi như không, vẫn chèo kéo như thường... Thiệt phục em sát đất !
Thím Hương vênh mặt lên, trân tráo đáp:
- Xí, có vậy mà cũng than ! Đàn ông gì dở ẹt! Em hỏi anh: mõ đánh cách xa năm bảy cây số còn mình thì gần. Vậy chớ hồi còn ở trong Tân Thới, hồi còn thầy Hương Quản, lúc nào thẩy cũng có thể tông cửa vào bất tử được hết, mà sao em hổng thấy anh run chút xíu nào vậy!
Anh Tư xẽn lẽn gãi đầu:
- Em sao hay hỏi cắc cớ quá ! Thì mỗi thời, mỗi lúc mỗi khác, chớ em biểu lúc nào cũng vậy hết sao!
Thím Hương cười mũi rồi ngoe nguẫy quay mặt đi, đoạn vùng vằng kéo rột cái rỗ may lại để lục tìm kim chỉ.
***
Thấy mặt trời đã khuất dần sau đám bần rậm rạp mọc liền một dãy ở mé kinh và lại gặp cơn nước ngược nữa, anh Tư liền miệng hối hai người bạn ở :
- Ráng lên một chút mấy cha ơi! Mình phải ráng vọt qua cái khoảng vắng vẻ này để kiếm chỗ nào có nhà cửa tấp vô nghĩ, hãy ít ra cũng theo kịp mấy chiếc ghe đi trước chớ hông thôi mệt đa.
Hai anh kia nghe nói vậy và nhìn thấy tứ bề vắng tanh nên cũng đâm ra ngán, cong lưng chèo miết. Chẳng mấy lúc mà trời đã tối mò. Bầy đom đóm đã bắt đầu lập lòe trên đám bần, đám tràm mọc nối liền nhau ở hai bên bờ kinh.
Trên tam bản, mọi người đều lặng thinh và người ta chỉ nghe có tiếng chèo kẽo kẹt cùng tiếng nước chảy ồ ồ trước mũi. Thấy xa xa về phía trước có ánh đèn, thím Hương mừng rỡ khều anh Tư:
- Coi bộ êm rồi anh Tư, có ánh đèn ở phía trước mũi đó !
Anh Tư nghển người lên nhìn:
- Êm khỉ gì, chắc là đèn của chiếc xuồng câu tôm câu cá gì đó.
Thím Hương cười gượng:
- Nhưng dầu sao em thấy có người, có ánh đèn em cũng vững dạ đôi chút, chớ tự nãy giờ vắng hoe, nhìn đom đóm chiếu và nghe mấy con vạc sành kêu hoài, mình mẩy em mọc ốc mọc gai hết.
Thím Hương chưa dứt lời thì bỗng ở phía bờ bên trái có tiếng người quát to:
- Tam bản của ai đó ghé lại !
Thím Hương nín thở, anh Tư thì bò ra phía trước mũi đứng ngóng lên trên bờ, trong lúc hai anh bạn ở rà xuôi mái chèo.
Anh Tư vội hạ giọng bảo họ :
- Cứ chèo bươn tới đi chớ sao ngừng lại vậy!
Đoạn anh ta lên tiếng hỏi vọng lên bờ:
- Dạ, ai ở trên kêu tam bản tôi ghé lại đó?
Trên bờ có tiếng cười gằn, rồi tiếng cò súng lên lách cách:
- Biểu ghé lại thì ghé chớ ở đó hỏi lôi thôi hả?
- Dạ mấy ông kêu tam bản tôi chi? Ghe đi tản cư mà mấy ông.
- Tản gì tản cũng phải tấp vô cho người ta kiểm soát! Bộ mấy cha là Việt gian hay sao mà cứ chèo rướn tới hoài vậy cà? Đếm một hai ba, hổng chịu ghé thì tụi tao ria xuống bỏ mạng hết đó nghen!
Thím Hương thò đầu ra khỏi cửa mui:
- Anh Tư, anh liệu ghé vô cho mấy ổng xét.
Anh Tư không trả lời thím Hương mà xì xào căn dặn hai anh bạn ở:
- Mấy anh cứ lái bê sang phía bờ bên kia rồi chèo rút đi thẳng cho tôi. Tụi này là ăn cướp chớ hổng phải du kích du kiết gì đâu!
Thấy chiếc tam bản chèo dang ra chớ không chịu ghé lại, mấy người lạ mặt trên bờ chưởi thề vang rân và liền theo đó, một phát súng nổ chát chúa, lằn đạn bay véo trong không khí.
Thím Hương cuống quít réo anh Tư
- Anh Tư ơi, làm sao bây giờ anh Tư I
Anh Tư vừa đưa tay sờ nắn lại chiếc ruột tượng đã buộc sẵn nơi thắt lưng vừa dỏng dạc hối hai anh bạn ở chèo riết đi. Một phát súng nữa nổ vang lên, có lẽ lần nầy bọn người trên bờ bắn bằng súng săn, thứ một hai lòng gì đó, nên có một ít đạn ria ra chạm vào mui ghe nghe rào rào.
Thím Hương la lên bài hãi:
- Mấy ông ơi, để tôi ghé, để tôi ghé !
Anh Tư bực tức quát hối hai người bạn ở:
- Tôi biểu mấy anh cứ chèo thẳng cho tôi ! Tầm nầy, với thứ súng bắn chim đó tụi nó bắn trúng khỉ gì được mà sợ hổng biết !
Anh vừa nói dứt lời thì nghe có tiếng xuồng bơi ồ ồ phát ra từ ở phía bên bờ này. Anh ta định thần nhìn kỹ thì thấy lờ mờ hai ba chiếc xuồng gì đó xông ra, dưới xuồng lố nhố bóng người.
Anh bạn ở chèo trước mũi tam bản lo lắng lên tiếng:
- Xuồng gì kỳ vậy cà !
Liền theo đó có tiếng đáp vọng lại:
- Xuồng đón tụi bây chớ xuồng gì mà hỏi hả em bậu !
Anh kia hoảng kinh kêu lên
- Chú Tư ơi, tụi nó bơi xuồng ra để chận lại đó anh !
Anh Tư chưa kịp nói gì hết thì ba chiếc xuồng ấy đã trờ tới đụng mạnh vào hông chiếc tam bản rồi cặp xuôi theo be liền theo đó. Không kịp nghĩ suy gì nữa, anh Tư xốc lại chiếc ruột tượng nặng trề xuống bụng rồi nhanh nhẹn nhảy ùm xuống kinh lặn trốn.
Người dưới mấy chiếc xuồng tranh nhau nhảy ùa lên tam bản, kẻ thì nhào tới câu cổ hai anh bạn ở, kẻ thì đứng chận ở cửa trước cửa sau và số còn lại đứng hờm sẵn dưới xuồng.
Có tiếng quát to lên
- Mấy người trên tam bản, ai ở đâu ngồi yên đó ! Rục rịch bắn nát óc đa!
Rồi có tiếng truyền lịnh tiếp theo đó:
- Đốt vài cày đuốc lên coi bây ! Tụi nào dưới xuồng đó làm ơn đi rà hết cái khoảng gần gần đây coi thằng mắc toi nào nhảy xuống kinh hồi nãy đó!
Khi mấy ngọn đuốc dầu chai được thắp sáng lên, anh bạn ở chèo mũi, tuy bị thúc ké và sợ hết hồn cũng phải khẽ đưa mắt tò mò nhìn tên đã ra lịnh này nọ tự nãy giờ.
Đó là tên đầu đảng, hắn ta người khá cao lớn dình dàng mặc một bộ bà ba đen, áo để phạch ngực và đội sùm sụp trên đầu một chiếc nón rơm rộng vành, thứ kiểu nón của Thanh Niên Tiền Phong trước đây.
Mấy tên bô hạ, đứa nào đứa nấy ở trần trùi trụi, hầu hết đều quấn khăn tắm rằn trên đầu. Tên đầu đảng bước lại gần anh chèo mũi. Hắn ta lo le trên tay một khẩu súng lục Chiêu Hòa và dùng mũi súng điểm vào mặt anh nầy:
- Ê tụi, tại sao hồi nãy bọn ta gác ở phía bờ bên kia kêu tụi bây, tụi bây hổng chịu ghé lại hả? Bộ tụi bây tính đi bét qua bờ bên này là có thể dông luôn được hả?
Anh kia lập cập đáp:
- Dạ... tại chủ tui biểu vậy.
- À, thằng chủ mầy biểu vậy hả? Đâu, thằng chó chết đó đâu rồi?
Anh kia liếc nhanh về phía mặt nước kinh, nơi anh Tư lặn trốn:
- Dạ... chủ tui nhảy xuống sông hồi nãy đó.
Tên đầu đảng gầm lên, tiện tay dùng ngay nòng súng lục đánh tạt xéo vô cầm anh kia một cái ‘‘bốp’’ làm cho anh này muốn ngã ngửa nếu không sẵn bị tên cướp câu cổ ghịt chặt từ trước.
Tên đầu đảng liền lớn tiếng gọi mấy tên bộ hạ đang vừa bơi xuồng vừa soi đuốc lần quần ngoài phía giữa dòng kinh:
- Tụi bây ở ngoải phải kiếm cho được cái thằng nhảy xuống nước hồi nãy đó nghen! Thằng chủ ghe đó ! Chắc nó lặn trốn vô mấy đám lục bình, mấy bụi ô rô cóc kèn gì đó chớ chưa đi xa được đâu. Tụi bây cứ lấy dầm lấy sào đập tưới vô mấy đám cây cối rậm rạp đó thì thế nào nó cũng trồi lên !
Đoạn hắn ta day qua ôn tồn hỏi anh chèo mũi:
- Vậy chớ còn mấy mạng đang ở trong mui đó?
Anh này đang le lưỡi liếm vết máu nơi góc môi bị đánh vập, vội trả lời:
- Dạ, có một mình bà chủ thôi hè.
- Con mẹ chủ ở trỏng? Nếu vậy thì tốt lắm. Có con mẻ ở lại thì tụi này hỏi càng mau ra, chớ chẳng can gì phải kiếm thằng chủ của chú mầy làm chi cho mất công nữa!
Tên đầu đảng định bước vô mui nhưng không biết nghĩ sao hắn quay lại hỏi anh chèo mũi thêm:
- Nè bạn, vậy chớ bạn có biết hai vợ chồng ông chủ bà chủ cất tiền bạc, vòng vàng ở đâu không?
Anh kia lắc đầu lia lịa:
- Dạ, cái đó làm sao tui biết được!
Tên đầu đảng, chắc lưỡi:
- Bạn hổng biết được thì hơi mệt cho bạn đa ! Bạn có muốn nếm mùi… váy lỗ tai bằng đinh mười phân, không?
Anh kia mếu máo đáp:
- Dạ tôi hổng biết thiệt mà ! Nếu tôi nói gian xin cho súng đạn ăn tôi đi!
Một đứa trong bọn cướp bèn cười bảo tên đầu đảng :
- Chắc nó nói thiệt mà đại ca. Nếu thằng này nó biết chắc chỗ dấu thì nó ‘‘mần’’ trước anh em mình rồi ! Đại ca nên hỏi ngay con mẹ chủ ghe coi bộ chắc ăn hơn, nhứt là đại ca biết nhiều mánh lới trị đàn bà lắm!
Tên đầu đảng cười lên hô hố :
- Phải đa, tụi bây có thằng nào nặng bóng vía thì cầm theo cho tao một cây đuốc dầu chai để lát nữa tao nhểu dầu sôi vô rún con mẻ cho tụi bây coi chơi cho sướng con mắt!
Cả bọn cười ồ lên.
Nói xong tên đầu đảng hạ lịnh trói ké hai anh chèo ghe lại, cho kè chiếc tam bản vào đậu trong bờ, rồi khoan thai bước lại thò đầu vô mui, dõng dạc lên tiếng gọi:
- Đâu, mời bà chủ tam bản ra ngoài này nói chuyện cho được rộng rãi. Sao đèn đuốc đâu mà để tối thui vầy nè !
Thím Hương mếu máo đáp:
- Trăm ngàn lạy mấy ông, tội nghiệp tôi thân phận đàn bà.
Tên đầu đảng la át đi:
- Ra đây mau hay còn đợi tụi này vô thỉnh nữa hả?
Thím Hương run lên lập cập bò ra phía cửa. Thím vừa tới nơi thì tên đầu đảng đã đưa tay thộp lấy đầu tóc lôi mạnh lên để bắt đứng dậy. Hắn ta ghịt đầu thím ngửa ra phía sau để xem mặt và chưa chi hắn phải buông vội ra, lùi lại một bước, miệng lấp bấp kêu lên :
- Ý trời... thím Hương đây mà ! Sao thím lại lên đây?
Thím Hương chưng hửng ngó sững tên cướp. Hắn ta vội đưa tay hất cái vành nón rơm trật lên phía chỏm đầu:
- Bộ thím quên tôi rồi sao?
Ánh đuốc chập chờn soi gương mặt của tên đầu đảng và đến lượt thím Hương kinh ngạc kêu lên:
- Ủa, anh Chín đây mà! Trời ơi, tôi cứ tưởng ai...
Rồi thím sượng lại đó vì chẳng biết nói như thế nào nữa !
Chín Thuộc (tên đầu đảng chính là hắn ta) cũng đâm ra lúng túng lây. Mấy tên đồng đảng của hắn không biết ất giáp gì nên cũng đứng trân ở đó, ngạc nhiên đưa mắt nhìn hai người.
Một tên trẻ tuổi có vẻ là thủ hạ thân tín nhứt của  Chín Thuộc khều hắn ta hỏi nhỏ:
-  Bộ quen hả đại ca?
Chín Thuộc khẽ gật đầu.
Anh trẻ tuổi nhăn mặt chắc lưỡi:
- Cha, mần ăn cái nghề này mà gặp khách hàng quen thì... phiền quá trời !
Thấy Chín Thuộc vẫn còn làm thinh, anh ta thắc mắc hỏi thêm :
- Bây giờ đại ca tính sao đây? (anh ta liếc nhìn thím Hương)... Mà người quen đây là người quen nhiều hay là sơ sơ, nếu quen nhiều thì mình thả cho người ta đi cho rồi để anh em mình dìa ngủ cho khỏe chớ em coi bộ đêm nay bọn mình lỗ sở hụi bộn đa !
Chín Thuộc cau mày đáp:
- Thì tao có dè đâu gặp người quen như vầy ! Thím Hương đây là chỗ ơn nghĩa cũ tao hồi tao còn làm ăn trong miệt Tân Thới.
Anh trẻ tuổi vộị nói đỡ:
- À, như vậy là quen nhiều, quen gắt cũ kiệu rồi!
Chín Thuộc gãi đầu:
- Thiệt tao khó nghĩ quá Sơn Nhỏ à.
Sơn Nhỏ (tên cướp trẻ tuổi và là thủ hạ ‘‘ruột’’ của Chín Thuộc) cười đáp:
- Có gì đâu mà đại ca xốn xang thắc mắc! Nếu quen gắt như vậy thì mình cũng nên để thím Hương đây đi, chớ giữ lại coi sao được. Tụi mình đang kẹt vô cái nghề này - chớ bộ ai cũng ham hết sao - nhưng anh em mình, vẫn trọng cái chuyện ‘‘ơn đền oán trả’’ phải hông đại ca?
Chín Thuộc gật đầu thở dài:
- Phải đó em.
Thím Hương mừng rỡ nói chen vô:
- Thiệt đội ơn anh Chín và anh đây hết sức (thím hướng về phía Sơn Nhỏ).
Chợt nhớ trực đến điều gì, Chín Thuộc vội quay  sang hỏi thím Hương :
- Ý tôi quên phứt nữa, anh Tư đâu mà tôi không thấy ở đây?
Thím Hương vừa liếc về phía mặt nước kinh vừa đáp:
- Dạ, anh Tư... hồi nãy ảnh tưởng ai, nên ảnh mhảy xuống kinh lặn trốn đó anh Chín.
Chín Thuộc cười xòa nhìn ra mặt nước :
-  À quên nữa há. Thiệt thằng cha nhát như thỏ đế ! Thằng chả tánh nào tật nấy, hồi nào tới giờ vẫn у nguyên vậy ! Lúc lâm chuyện thì dông một mình bỏ đàn bà lại chịu trận?
Cả bọn cùng cười ồ theo.
Thím Hương bực mình nên lên tiếng trả lời Chín Thuộc, giọng hơi xẳng:
- Mấy anh hổng biết, chẳng phải anh Tư ảnh lo trốn một mình để rơi tôi lại đâu, tôi giao cho ảnh...
Nói đến đây, chợt nhận thấy mình lỡ lời, Thím Hương nín bặt. Chín Thuộc tằng hắng bước nhích lại gần Thím Hương, nheo mắt hỏi:
- Thím giao thằng chả cái gì vậy?
Thím Hương ấp úng nói trở đi:
- Dạ... hổng phải tôi giao mà anh Tư ảnh có nói trước, hễ có chuyện gì lộn xộn thì ảnh lãnh phần đi kêu cứu.
Chín Thuộc cười lạt:
- Thằng chả đi kêu cứu cái mốc xì gì ! Thằng chả ngu dại gì mà không biết rằng lúc này có ủy ban, bộ đội nào ở đây đâu mà đi kêu cứu ! Nè thím Hương, có lẽ thím hổng rành về thằng chả bằng tôi đâu. Hứ, thằng chả khôn cải trời mà !
Thím Hương trả lời một cách xụi lơ :
- Tôi nói thiệt mà anh Chín.
Chín Thuộc nghiêm mặt hỏi ngang:
- Có phải thím giao cho thằng chả đeo tiền đeo bạc trong mình hông?

(còn tiếp)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?