2607 - Cuộc chiến tranh của Châu Âu tại Ukraine

Jack Watling

Nhiệm vụ nguy hiểm của Châu Âu là giữ Kyiv trong cuộc chiến—và tự vệ

Lực lượng Ukraine tại khu vực Zaporizhzhia của Ukraine, tháng 3 năm 2025Stringer / Reuters

Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và các đồng minh châu Âu đã chứng tỏ là rất dữ dội trong hai tháng đầu tiên của chính quyền Trump thứ hai. Ngay từ những ngày đầu tiên trở lại nhiệm sở, Tổng thống Donald Trump đã nhấn mạnh những bất đồng đáng kể với Liên minh châu Âu, mô tả khối này là thù địch với lợi ích của Hoa Kỳ, trong khi Phó Tổng thống JD Vance lập luận tại Hội nghị An ninh Munich vào tháng 2 rằng các giá trị của Hoa Kỳ và Châu Âu đang khác biệt. Giữa tham vọng đã nêu của chính quyền là sáp nhập Greenland và việc áp đặt thuế quan rộng rãi, các nhà lãnh đạo châu Âu đang chuẩn bị cho một mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương đầy thách thức.
Tuy nhiên, giọng điệu của những lo ngại của châu Âu đã thay đổi đáng kể khi chính quyền Trump bắt đầu thực hiện những bước đi mở đầu trong nỗ lực chấm dứt cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine. Sau cuộc đối đầu công khai với Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tại Nhà Trắng vào tháng 2, Trump đã tạm thời ngừng cung cấp hỗ trợ kỹ thuật quân sự và tình báo cho Ukraine, ép buộc Ukraine chấp nhận một chiến lược đàm phán loại trừ Kyiv và các đối tác châu Âu của nước này khỏi phần lớn các cuộc mặc cả trực tiếp với Moscow. Mặc dù Tổng thống Nga Vladimir Putin đã bác bỏ lệnh ngừng bắn do Hoa Kỳ đề xuất, Trump đã mô tả các tương tác của mình với Điện Kremlin theo những điều khoản tích cực nhất trong khi cho đến nay, chỉ áp dụng đòn bẩy của Hoa Kỳ đối với Kyiv. Trong khi đó, chính quyền đã khẳng định rõ ràng rằng sẽ không có cam kết lâu dài của Hoa Kỳ đối với Ukraine và đã đặt câu hỏi liệu các cam kết của Hoa Kỳ ở châu Âu có được tôn trọng hay không.
Khi ngoại giao tiến triển một cách không chắc chắn, tình hình chiến trường ở Ukraine tiếp tục xấu đi. Các lực lượng Nga đã phần lớn đẩy các lực lượng Ukraine ra khỏi vùng Kursk - lãnh thổ thuộc Nga mà Ukraine đã chiếm đóng từ tháng 8 năm 2024 - và hiện đang khởi động lại các hoạt động tấn công lớn hướng tới các thị trấn quan trọng của Ukraine là Kostiantynivka và Pokrovsk. Mặc dù quân đội Ukraine đang đảm bảo rằng Nga mất nhiều binh lính và nhiều thiết bị trong quá trình giành được lãnh thổ, nhưng Ukraine cũng đang phải vật lộn để tuyển dụng và đào tạo đủ nhân sự để tránh nhượng bộ lãnh thổ. Trong khi đó, cả hai nước đang trao đổi các cuộc tấn công tầm xa hàng đêm nhằm vào cơ sở hạ tầng và hậu cần quân sự.
Nguy cơ Hoa Kỳ có thể một lần nữa cắt đứt sự hỗ trợ đã khiến Kyiv phải tìm cách duy trì sức kháng cự của mình - và do đó duy trì đòn bẩy trong các cuộc đàm phán - chỉ thông qua sự hỗ trợ của châu Âu. Trump đã buộc châu Âu phải lên kế hoạch bảo lãnh an ninh của chính mình và Ukraine, trong suốt thời gian chiến tranh và hòa bình sau đó. Câu hỏi trước mắt là liệu điều này có khả thi hay không. Câu trả lời ngắn gọn là có và không. Châu Âu có khả năng tiềm ẩn để sản xuất phần lớn vật chất mà Ukraine cần để chống lại Nga, nhưng họ đã không chuẩn bị hiệu quả để gánh vác gánh nặng này. Họ có thể thay thế Hoa Kỳ trở thành nhà cung cấp an ninh chính của Ukraine, nhưng để làm như vậy sẽ mất thời gian, đòi hỏi sự hợp tác khó khăn và tốn kém. Mặc dù những rào cản đó là có thật, nhưng chúng không phải là không thể vượt qua. Tuy nhiên, việc bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ này có khả năng sẽ thay đổi mối quan hệ của châu Âu với Hoa Kỳ.
MỘT BẤT NGỜ CÓ THỂ DỰ ĐOÁN
Châu Âu lẽ ra phải thấy trước điều này. Quay trở lại chính quyền Obama, Hoa Kỳ đã nhất quán thừa nhận rằng họ coi đối thủ cạnh tranh an ninh chính của mình là Trung Quốc. Mối quan tâm ngày càng tăng của Washington đối với Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương có nghĩa là các chính quyền Hoa Kỳ liên tiếp muốn giảm ưu tiên cho cam kết của Hoa Kỳ đối với Châu Âu. Để điều đó xảy ra, người Mỹ đã thúc giục các nước Châu Âu xây dựng lực lượng vũ trang của họ để đảm bảo răn đe thông thường chống lại Nga—và do đó giải phóng năng lực của Hoa Kỳ để xoay trục sang Châu Á.
Cho đến chính quyền Trump thứ hai, những yêu cầu đó của Hoa Kỳ đã bị bỏ qua về mặt chức năng. Mặc dù đã có một số khoản đầu tư mang tính biểu tượng vào quốc phòng sau khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014 và tăng khoảng 30 phần trăm chi tiêu quốc phòng của Châu Âu trong giai đoạn 2021 - 2024, nhưng cho đến nay Châu Âu vẫn chưa cung cấp đủ nguồn lực cho quân đội của mình để họ có thể thực hiện các chức năng của mình liên quan đến các kế hoạch của NATO. Ngay cả cuộc xâm lược toàn diện vào Ukraine vào năm 2022, mặc dù gây ra nhiều lời lẽ cứng rắn ở châu Âu, cũng không thúc đẩy các chính phủ thực hiện các khoản đầu tư cần thiết để tái tạo lực lượng rỗng tuếch của họ. Các nhà lãnh đạo châu Âu không muốn chịu chi phí cho quá trình này và lo ngại rằng việc tăng mạnh chi tiêu quốc phòng của châu Âu sẽ đẩy nhanh quá trình rút quân của Hoa Kỳ khỏi lục địa này, khiến gánh nặng cho người châu Âu trở nên vĩnh viễn.
Châu Âu phải chịu trách nhiệm đáng kể vì không làm nhiều hơn để giải quyết các mối quan ngại của Hoa Kỳ trước khi Trump tái đắc cử. Nhưng cách Trump thúc đẩy vấn đề này đã thúc đẩy phản ứng đặc biệt dữ dội ở các thủ đô châu Âu. Trump có thể đã nói với các thành viên NATO rằng ông sẽ không tôn trọng Điều 5 - điều khoản trong hiến chương của liên minh, trong đó nhấn mạnh rằng một cuộc tấn công vào một quốc gia NATO là một cuộc tấn công vào tất cả - đối với các quốc gia không thực hiện các cam kết của NATO, điều này sẽ yêu cầu khoảng ba phần trăm GDP cho chi tiêu quốc phòng từ hầu hết các thành viên. Một tối hậu thư như vậy có thể sẽ khiến các thủ đô châu Âu tức giận, nhưng nhiều quốc gia sẽ tuân thủ. Rốt cuộc, Hoa Kỳ chỉ đơn giản là yêu cầu các quốc gia này trả trước tiền cho những gì họ đã hứa sẽ làm. Thay vào đó, việc chính quyền rút lại sự hỗ trợ cho Ukraine đã cắt giảm sâu hơn nhiều. Nó có nguy cơ làm suy yếu nhanh chóng an ninh châu Âu bằng cách tạo cho Nga một con đường để đạt được một loạt các thiết kế thù địch của mình đối với Ukraine, và điều này khiến cả các nhà lãnh đạo và công chúng châu Âu đều cảm thấy bị phản bội. Các quốc gia châu Âu không còn tin tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ bảo vệ lợi ích của họ, ngay cả trong các lĩnh vực cơ bản nhất về an ninh và quốc phòng.
Hoa Kỳ hiện đang phải đối mặt với một lựa chọn quan trọng. Nếu Hoa Kỳ ủng hộ và cho phép tái thiết cơ sở công nghiệp quốc phòng của châu Âu và không cản trở sự ủng hộ của châu Âu đối với Ukraine, thì Hoa Kỳ có thể đạt được mục tiêu giúp châu Âu quản lý quốc phòng và an ninh của chính mình, cho phép Washington thực hiện mục tiêu lâu dài của mình là phân bổ lại lực lượng cho Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Nhưng trong nhiều thập kỷ, chính sách công nghiệp quốc phòng của Hoa Kỳ đối với châu Âu thay vào đó lại nhằm mục đích chia rẽ và làm suy yếu ngành công nghiệp quốc phòng của chính châu Âu để khuyến khích Hoa Kỳ bán vũ khí cho nước ngoài tại lục địa này. Hoa Kỳ cũng mong đợi sẽ dẫn đầu liên minh vì sự tham gia của họ là cần thiết cho hầu hết mọi hoạt động quân sự nghiêm túc.
Nếu Hoa Kỳ cố gắng thúc đẩy quá trình tái vũ trang của châu Âu bằng cách buộc các nước châu Âu mua nhiều vũ khí do Hoa Kỳ sản xuất hơn, thì họ sẽ không thành công. Tất nhiên, châu Âu không thể sản xuất một số loại hệ thống vũ khí quan trọng, chẳng hạn như hệ thống phòng không Patriot, và sẽ tiếp tục dựa vào các giao dịch mua từ Hoa Kỳ. Nhưng với công chúng của họ đã mất lòng tin vào Washington, các chính phủ châu Âu sẽ phản đối áp lực mua vũ khí của Mỹ. Và sự phụ thuộc của châu Âu vào cơ sở công nghiệp quốc phòng của Hoa Kỳ sẽ không tạo ra nền tảng vững chắc cho sự hỗ trợ trung hạn và dài hạn cho Ukraine hoặc để ngăn chặn Nga, vì khả năng Hoa Kỳ cuối cùng sẽ cần chuyển hướng năng lực công nghiệp để giải quyết cán cân lực lượng ở Thái Bình Dương. Nếu Hoa Kỳ sử dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu để cố gắng ngăn chặn sản xuất trong nước của châu Âu (nhiều chuỗi cung ứng cho vi điện tử và các thành phần trong vũ khí phức tạp trải dài khắp Đại Tây Dương), thì châu Âu có thể sẽ nhanh chóng tách khỏi Hoa Kỳ hơn, ngay cả khi phải trả giá bằng việc được trang bị vũ khí kém hiệu quả hơn.
MỘT SỰ CHUYỂN ĐỔI CÓ TRỰC TIẾP?
Cách Hoa Kỳ chọn chuyển gánh nặng của cuộc chiến sang châu Âu sẽ định hình những gì người châu Âu có thể đạt được. Phần lớn phụ thuộc vào việc Hoa Kỳ có muốn Ukraine có thể tiếp tục tự vệ khi đàm phán hay liệu Washington có sẵn sàng buộc Kyiv phải giải quyết theo bất kỳ điều khoản nào hay không.
Có lý do chính đáng, nhiều chính phủ châu Âu lo ngại rằng chính quyền Trump về cơ bản là mơ hồ về tiến trình của cuộc chiến. Thất bại của Ukraine hoặc lệnh ngừng bắn theo các điều khoản có lợi cho Nga sẽ buộc châu Âu phải tái vũ trang, xét cho cùng, đó là mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có thể đàm phán một thỏa thuận với Nga và sau đó liên tục gia tăng áp lực lên Ukraine cho đến khi nước này đồng ý với các hạn chế của thỏa thuận. Thật vậy, Hoa Kỳ có thể cố gắng buộc Ukraine - và theo nghĩa mở rộng là châu Âu - phải tuân thủ.
Châu Âu có thể thay thế Hoa Kỳ trở thành nhà cung cấp an ninh chính của Ukraine.
Ví dụ, Washington có thể tắt các thiết bị đầu cuối Starlink của Kyiv, công nghệ truyền thông vệ tinh. Starlink đã chứng minh được tầm quan trọng đối với nỗ lực chiến tranh của Ukraine. Việc ngừng hoạt động của nó sẽ gây ra sự cố ngay lập tức về chỉ huy và kiểm soát trên khắp các mặt trận của Ukraine, điều này sẽ gây ra thảm họa về mặt quân sự. Với quy mô phụ thuộc của Ukraine vào Starlink, các nước châu Âu sẽ không thể nhanh chóng bù đắp cho việc ngừng dịch vụ đột ngột trong thời gian ngắn. Starlink không phải là không thể thay thế và có thể xây dựng một cơ sở hạ tầng chỉ huy và kiểm soát thay thế. Nhưng sự phụ thuộc hiện tại của Ukraine vào hệ thống này khiến họ rất dễ bị tổn thương.
Hoa Kỳ có đòn bẩy to lớn đối với Ukraine và các đồng minh châu Âu của nước này khi nói đến việc bảo dưỡng các kho vũ khí và thiết bị hiện có. Ngoài các thiết bị quân sự mà Hoa Kỳ đã cung cấp cho Ukraine, phần lớn các thiết bị và vũ khí do các đối tác khác của Ukraine gửi đến cũng được mua từ các công ty quốc phòng của Hoa Kỳ. Chúng bao gồm lựu pháo M777 và M109, xe tăng chiến đấu chủ lực Abrams, xe chiến đấu bộ binh Bradley, hệ thống tên lửa pháo binh cơ động cao (HIMARS) và hệ thống tên lửa phóng nhiều nòng M270, máy bay chiến đấu F-16 và nhiều loại xe bọc thép chở quân. Một chuyện là Hoa Kỳ khăng khăng rằng họ sẽ không chi tiền mua thiết bị mới cho Ukraine, nhưng một chuyện khác là họ ngừng bảo dưỡng hoặc cung cấp phụ tùng thay thế cho các thiết bị đã sử dụng. Hoa Kỳ cũng có thể cấm các quốc gia châu Âu mua các phụ tùng thay thế có liên quan rồi gửi chúng đến Ukraine. Lực lượng vũ trang của Ukraine có khoảng 4.000 thiết bị quân sự đang chờ sửa chữa và ngày càng có nhiều thiết bị bị hư hỏng trong chiến đấu. Theo thời gian, châu Âu có thể chuyển đổi quân đội Ukraine sang các hệ thống mà họ có thể hỗ trợ mà không cần sự trợ giúp của Hoa Kỳ. Nhưng nếu Hoa Kỳ hành động quyết liệt để ngăn chặn việc bảo dưỡng các thiết bị đã được cung cấp, thì Châu Âu sẽ không có khả năng ngăn chặn quá trình phi cơ giới hóa liên tục của quân đội Ukraine.
Là thành viên hàng đầu của liên minh, Hoa Kỳ đã cung cấp phần lớn hỗ trợ hậu cần, khả năng vận chuyển và nhân sự để điều hành hỗ trợ kỹ thuật quân sự cho Ukraine. Giống như trong các lĩnh vực khác, Châu Âu không thể thay thế nhanh chóng sự hỗ trợ này. EU có thể quản lý hậu cần ở quy mô lớn trong biên giới của mình và các nước Châu Âu có tài sản và năng lực đáng kể để lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động. Nhưng hầu hết các cấu trúc lập kế hoạch và thực hiện hậu cần quân sự ở Châu Âu đều nằm trong NATO và có sự tham gia đáng kể của Hoa Kỳ. Washington có thể để nhân viên của mình tại Bộ Tư lệnh Châu Âu của Hoa Kỳ dần chuyển giao quyền kiểm soát hậu cần cho các đối tác Châu Âu. Nhưng nếu Washington ngăn cản nhân viên của mình hỗ trợ việc chuyển giao như vậy, thì Châu Âu sẽ cần phải sao chép các cấu trúc hiện có thay vì thay thế nhân sự Hoa Kỳ tại các vị trí của NATO. Điều này sẽ làm phức tạp đáng kể quá trình này.
SỰ THỐNG NHẤT CỦA LỤC ĐỊA
Một trở ngại lớn khác đối với việc Châu Âu nắm quyền kiểm soát từ Hoa Kỳ là sự thiếu thống nhất của lục địa này. Lấy ngành công nghiệp quốc phòng châu Âu làm ví dụ. Mặc dù các công ty quốc phòng châu Âu có chuyên môn phù hợp để sản xuất hầu hết các loại thiết bị cần thiết để duy trì nỗ lực chiến tranh của Ukraine, nhưng hầu như tất cả các quốc gia châu Âu đều mua quá ít các nền tảng này để đảm bảo lợi tức đầu tư có ý nghĩa cho các công ty đó mà không phải bán với giá cao. Không kỳ vọng nhận được các đơn đặt hàng lớn, các nhà sản xuất châu Âu có xu hướng có các cơ sở nhỏ và phải đối mặt với các quy định thù địch khi mở rộng. Để giải quyết thách thức này, cần có sự hợp tác của lục địa để mở rộng quy mô đơn đặt hàng ở mỗi bước trong chuỗi cung ứng và đảm bảo với các công ty rằng họ sẽ có được lợi tức đầu tư tốt nếu họ mở rộng cơ sở và năng lực của mình.
Mặc dù sức mạnh tài chính và sự hỗ trợ về mặt quy định của Liên minh châu Âu sẽ rất cần thiết để mở rộng cơ sở công nghiệp quốc phòng của châu Âu, các quốc gia thành viên EU sẽ cần phải hợp tác với Vương quốc Anh, Na Uy và chính Ukraine, mà không để các cuộc thảo luận bị chệch hướng bởi các vấn đề không liên quan đến quốc phòng. Các nhà ngoại giao sẽ phải phân chia các tranh chấp còn tồn tại. Ví dụ, không nên để những cuộc cãi vã cục bộ giữa Pháp và Vương quốc Anh về nghề cá hoặc giữa Ba Lan và Ukraine về nông nghiệp làm hỏng quá trình này.
NATO cũng là một nguồn gây căng thẳng. Đầu tư vào cơ sở công nghiệp quốc phòng của châu Âu sẽ tăng cường đáng kể khả năng phục hồi và duy trì các hoạt động chiến đấu quy mô lớn của NATO, nhưng việc tiếp tục cung cấp thêm thiết bị và kho dự trữ cho Ukraine sẽ phải trả giá bằng sự sẵn sàng của châu Âu trong việc thực hiện các kế hoạch của NATO nhằm bảo vệ khu vực Euro-Atlantic. Đối với các quốc gia giáp biên giới với Nga, đây là một tình huống rất khó chịu. Hơn nữa, Hungary và các nước khác có thể đóng vai trò là kẻ phá đám và ngăn cản các giải pháp thực dụng trong EU. Do đó, để duy trì sự gắn kết của châu Âu, các chính phủ châu Âu sẽ cần phải cùng nhau thừa nhận rằng một số quốc gia sẽ phải đối mặt với những rủi ro trước mắt mà họ có nhu cầu quốc phòng lớn hơn những quốc gia khác, và do đó, nhiệm vụ hỗ trợ Ukraine nên thuộc về các quốc gia Tây Âu một cách không cân xứng.
Chỉ khi châu Âu có thể hợp lý hóa chuỗi cung ứng trên khắp lục địa và đạt được quy mô kinh tế trong sản xuất quốc phòng thì châu Âu mới có khả năng đáp ứng nhu cầu của Ukraine. Theo hệ thống hiện tại, trong đó các quốc gia cạnh tranh với nhau để giành phụ tùng và vật tư - do đó đẩy giá vật liệu quốc phòng lên cao - thì châu Âu sẽ thất bại. Hãy xem xét đạn pháo. Năm 2023, Ukraine đã nhận được khoảng 1,6 triệu viên đạn pháo 155 mm từ các đối tác quốc tế, bao gồm cả Hoa Kỳ. Năm 2024, Ukraine đã nhận được khoảng 1,5 triệu viên đạn. Các nhà phân tích tin rằng Ukraine cần 2,4 triệu viên đạn mỗi năm để ngăn chặn những bước tiến xa hơn của Nga. Sự chênh lệch đó dường như cho thấy rằng nếu không có nguồn cung cấp của Hoa Kỳ, châu Âu không thể hỗ trợ Ukraine đủ.
Nhưng châu Âu không sử dụng năng lực của mình tốt như họ có thể. Ví dụ, tại Vương quốc Anh, năng lực rèn và nạp đạn thực tế cho đạn pháo 155 mm lớn hơn 16 lần so với thời điểm bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện của Nga. Mặc dù năng lực tăng lên, nhưng không có sự gia tăng đồng thời về sản lượng vì Vương quốc Anh chưa đặt hàng. Một phần là do châu Âu không sản xuất đủ thuốc nổ, vì vậy mặc dù các nhà sản xuất có thể sản xuất đạn pháo, họ vẫn phải vật lộn để tìm nguồn thuốc phóng cho chúng. Tuy nhiên, một công ty quốc phòng khác của Anh đã cố gắng mở rộng đáng kể nhà máy sản xuất thuốc nổ của mình kể từ năm 2022, nhưng các đề xuất của họ đã bị hội đồng địa phương từ chối nhiều lần. Chính quyền trung ương không làm gì để gây sức ép buộc hội đồng từ bỏ chủ nghĩa địa phương của mình. Nếu được cấp phép, sản lượng thuốc phóng có thể tăng trong vài tháng. Bức tranh khá giống nhau trên khắp lục địa. Châu Âu có thể không đạt được 2,4 triệu viên đạn vào năm 2025, nhưng với sự phối hợp và quyết tâm lớn hơn, họ có thể thay thế các đóng góp của Hoa Kỳ vào cuối năm nay.
Châu Âu sẽ phải vật lộn nghiêm túc để đáp ứng nhu cầu của Ukraine trong một số lĩnh vực. Họ có thể làm rất ít để thay thế các tên lửa đánh chặn do Hoa Kỳ sản xuất được sử dụng trong các khẩu đội phòng không Patriot của Ukraine, hệ thống duy nhất có thể đánh chặn tên lửa đạn đạo trên không và tên lửa đạn đạo bán tự động của Nga. Tuy nhiên, phần lớn thiệt hại mà Nga gây ra cho Ukraine là do tên lửa hành trình có thể bị đánh chặn bằng vũ khí châu Âu, chẳng hạn như tên lửa SAMP/T và IRIS-T, và hầu hết các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo của Nga đều nhằm vào các mục tiêu không được Patriot bảo vệ. Với sự hậu thuẫn của châu Âu, Ukraine có thể tìm ra cách giảm thiểu tác động của các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo tương đối ít của Nga và ngược lại, nhắm vào các chuỗi cung ứng hỗ trợ cho việc sản xuất tên lửa đạn đạo của Nga. Tóm lại, ngay cả khi châu Âu không thể bù đắp cho Hoa Kỳ, hậu quả cũng không nhất thiết phải thảm khốc.
KHÔNG CÓ LÝ DO
Câu hỏi cơ bản làm nền tảng cho khả năng của châu Âu trong việc gánh vác gánh nặng an ninh của mình—vượt ra ngoài phạm vi mà nỗ lực này bị chính sách của Hoa Kỳ cản trở—là ý chí. Việc tài trợ cho các cam kết hiện tại của châu Âu đối với NATO sẽ khiến chi tiêu vượt quá ba phần trăm GDP đối với hầu hết các thành viên. Việc đạt được sự mở rộng nhanh chóng năng lực công nghiệp quốc phòng để duy trì Ukraine bên cạnh việc tái tạo lực lượng quân sự sẽ khiến chi phí tăng cao hơn nữa. Cho đến nay, các quốc gia châu Âu vẫn chưa muốn cam kết nguồn lực. Đức vừa công bố tăng chi tiêu quốc phòng, trong khi EU nói chung đã thay đổi các quy tắc nợ của mình để cho phép vay nhiều hơn để đầu tư vào quốc phòng. Nhưng giống như các thông báo của Đức vào năm 2022, vẫn chưa rõ liệu những tuyên bố này có thúc đẩy quá trình tái vũ trang hiệu quả hay không. Người châu Âu phải tự quyết định xem họ có thể chịu được chi phí hay không, nhưng họ không nên ẩn sau tuyên bố rằng họ không thể bảo vệ Ukraine nếu không có Hoa Kỳ. Tuy nhiên, phần lớn phụ thuộc vào việc Hoa Kỳ có muốn

JACK WATLING là Nghiên cứu viên cao cấp về Chiến tranh trên bộ tại Viện Dịch vụ Thống nhất Hoàng gia ở London.


https://www.foreignaffairs.com/ukraine/europes-war-ukraine

***

Europe’s War in Ukraine
The Continent’s Risky Task of Keeping Kyiv in the Fight—and Defending Itself

Ukrainian forces in the Zaporizhzhia region of Ukraine, March 2025Stringer / Reuters

Relations between the United States and its European allies have proved tempestuous during the first two months of the second Trump administration. From his first days back in office, President Donald Trump has emphasized significant disagreements with the European Union, characterizing the bloc as inimical to U.S. interests, while Vice President JD Vance argued at the Munich Security Conference in February that the values of the United States and Europe are diverging. Between the stated ambition of the administration to annex Greenland and the imposition of wide-ranging tariffs, European leaders are bracing for a challenging transatlantic relationship.
The tenor of European concerns, however, changed markedly as the Trump administration began to make its opening forays into an attempt to end Russia’s full-scale invasion of Ukraine. Following a public confrontation with Ukrainian President Volodymyr Zelensky in the White House in February, Trump temporarily stopped providing Ukraine with military-technical assistance and intelligence, coercing Ukraine into accepting a negotiating strategy that excluded Kyiv and its European partners from much of the direct bargaining with Moscow. Despite Russian President Vladimir Putin’s rebuffing a U.S. proposed cease-fire, Trump has described his interactions with the Kremlin in the most positive of terms while, so far, applying U.S. leverage against only Kyiv. The administration, meanwhile, has been unequivocal that there will be no long-term U.S. commitment to Ukraine and has called into question whether U.S. commitments in Europe will be honored.
As the diplomacy lurches forward uncertainly, the battlefield situation in Ukraine continues to deteriorate. Russian forces have largely pushed Ukrainian forces out of Kursk oblast—territory in Russia that Ukraine had occupied since August 2024—and are now restarting major offensive operations toward the key Ukrainian towns of Kostiantynivka and Pokrovsk. Although the Ukrainian military is ensuring that Russia loses many soldiers and much equipment in making these territorial gains, the Ukrainians are also struggling to recruit and train enough personnel to avoid ceding territory. Both countries, meanwhile, are exchanging nightly long-range strikes targeting infrastructure and military logistics.
The risk that the United States may once again sever support has led Kyiv to explore how it can sustain its resistance—and thereby maintain leverage in negotiations—through European assistance alone. Trump has forced Europe to plan on underwriting its own and Ukraine’s security, both for the duration of the war and the peace that follows. The immediate question is whether this is possible. The short answer is both yes and no. Europe has the latent capacity to produce much of the materiel that Ukraine requires to fend off Russia, but it has not prepared effectively to shoulder this burden. It can replace the United States as Ukraine’s primary security provider, but doing so will take time, require difficult collaboration, and be costly. Although those hurdles are real, they are not insurmountable. Embarking on this undertaking, however, is likely to transform Europe’s relations with the United States.

A PREDICTABLE SURPRISE

Europe should have seen this coming. Going back to the Obama administration, the United States has been consistent in acknowledging that it views its primary security competitor as China. Washington’s growing interest in the Indo-Pacific has meant that successive U.S. administrations have wanted to deprioritize the U.S. commitment to Europe. For that to happen, the Americans have urged European countries to build up their armed forces to ensure conventional deterrence against Russia—and thereby free up American capacity to pivot to Asia.
Up until the second Trump administration, those American demands had been functionally ignored. Although there was some symbolic investment in defense after Russia’s annexation of Crimea in 2014 and an increase of around 30 percent in European defense spending between 2021 and 2024, Europe has not so far resourced its militaries to a level where they can perform their functions in relation to NATO plans. Even the full-scale invasion of Ukraine in 2022, while prompting a great deal of tough rhetoric in Europe, did not push governments to make the necessary investments to regenerate their hollow forces. European leaders were reluctant to bear the cost of this process and feared that a large increase in European defense spending would accelerate the United States’ withdrawal from the continent, making the burden for Europeans permanent.


Hiding from a Russian combat drone in Pokrovsk, Ukraine, March 2025 Hiding from a Russian combat drone in Pokrovsk, Ukraine, March 2025  Iryna Rybakova / Press Service of the 93rd Kholodnyi Yar Separate Mechanized Brigade of the Ukrainian Armed Forces / Reuters
Europe bears significant blame for not doing more to address U.S. concerns before Trump regained office. But the manner in which Trump has forced the issue has prompted a particularly visceral response in European capitals. Trump could have told NATO members that he would not honor Article 5—the article in the alliance’s charter that insists that an attack on one NATO country is an attack on all—for states that failed to meet their NATO commitments, which would have required around three percent of GDP in defense spending from most members. Such an ultimatum would likely have rankled European capitals, but many would have complied. The United States, after all, would have simply been demanding that these states front the funds for what they had promised to do. Instead, the administration’s withdrawal of support for Ukraine cut much deeper. It risked a rapid deterioration in European security by giving Russia a path to achieving a range of its hostile designs on Ukraine, and it left both European leaders and publics feeling betrayed. European countries no longer trust that the United States will protect their interests, even in the most fundamental areas of security and defense.
The United States now faces an important choice. If it supports and enables the regeneration of Europe’s defense industrial base and does not obstruct Europe’s support for Ukraine, then the United States could achieve its objective of helping Europe manage its own defense and security, allowing Washington to fulfil its long-standing goal of redistributing forces to the Indo-Pacific. But for decades, U.S. defense industrial policy toward Europe has instead aimed at balkanizing and undermining Europe’s own defense industry to encourage U.S. foreign military sales on the continent. The United States has also expected to lead the alliance because its involvement has been necessary for almost any serious military undertaking.
If the United States tries to force a process of European rearmament by compelling European countries to buy more U.S.-made weapons, it will not be successful. Of course, Europe is unable to produce some kinds of critical weapons systems, such as the Patriot air defense system, and will continue to rely on purchases from the United States. But with their publics already distrustful of Washington, European governments will balk at the pressure to buy American. And Europe’s dependence on the U.S. defense industrial base will not provide a strong foundation for medium- and long-term support to Ukraine or to deter Russia, given the likelihood that the United States will eventually need to divert industrial capacity to address the balance of forces in the Pacific. If the United States uses export controls to try to prevent European manufacturing domestically (many supply chains for microelectronics and components in complex weapons span the Atlantic), then Europe will likely diverge faster from the United States, even at the cost of being armed with less capable weaponry.

AN ORDERLY TRANSITION?

How the United States chooses to shift the burdens of the war onto Europe will shape what the Europeans can accomplish. Much depends on whether the United States wants Ukraine to be able to continue to defend itself as it negotiates or whether Washington is prepared to force Kyiv to settle on any terms.
With good reason, many European governments fear that the Trump administration is fundamentally ambivalent about the course of the war. A Ukrainian defeat or a cease-fire on terms heavily favorable to Russia would force Europe to rearm, which is, after all, a U.S. strategic objective. The United States could negotiate a deal with Russia and then steadily ratchet up pressure on Ukraine until it agrees to the deal’s strictures. Indeed, the United States could try to force Ukraine—and by extension Europe—to comply.
Europe can replace America as Ukraine’s primary security provider.
Washington could, for instance, turn off Kyiv’s Starlink terminals, the satellite communications technology. Starlink has proved essential to the Ukrainian war effort. Its cessation would cause an immediate breakdown in command and control across Ukrainian frontlines, which would be militarily disastrous. Given the scale of Ukraine’s reliance on Starlink, European countries would not be able to quickly compensate for a sudden withdrawal of service in the short term. Starlink is not irreplaceable, and an alternative command-and-control infrastructure can be built. But Ukraine’s current dependence on this system leaves it very exposed.
The United States has tremendous leverage over Ukraine and its European allies when it comes to servicing existing stocks of weapons and equipment. In addition to the military equipment the United States has provided Ukraine, much of the equipment and weapons sent by other Ukrainian partners was also purchased from U.S. defense companies. These include M777 and M109 howitzers, Abrams Main Battle Tanks, Bradley Infantry Fighting Vehicles, High Mobility Artillery Rocket Systems (HIMARS) and M270 multiple-launch rocket systems, F-16 fighter aircraft, and various kinds of armored personnel carriers. It is one thing for the United States to insist that it will not spend on new equipment for Ukraine, but quite another for it to stop maintaining or providing spare parts for equipment already in use. The United States could also forbid European states from purchasing the relevant spare parts and then sending them to Ukraine. Ukraine’s armed forces have approximately 4,000 pieces of military equipment awaiting repair, and more are damaged every day in combat. Europe, over time, can transition Ukraine’s military to systems it can support without U.S. help. But if the United States moves aggressively to prevent the maintenance of equipment already given, then Europe will be powerless to arrest the steady demechanization of the Ukrainian military.
As the leading member of the alliance, the United States has provided the bulk of the logistical support, transportation capabilities, and personnel for running military-technical assistance to Ukraine. As in other areas, Europe could not replace this assistance swiftly. The EU can manage logistics at scale within its borders, and European countries have significant assets and capacity to plan and execute operations. But most of the structures for planning and executing military logistics in Europe sit within NATO and have substantial U.S. involvement. Washington could have its staff in the United States European Command gradually transfer control of logistics to European counterparts. But if Washington blocked its staff from assisting such a handover, then Europe would need to replicate the existing structures rather than replace U.S. personnel in NATO posts. This would significantly complicate the process.

CONTINENTAL COHERENCE

Another major impediment to Europe’s taking the reins from the United States is the continent’s lack of cohesion. Take, for instance, the European defense industry. Although European defense companies have the relevant expertise to produce most classes of equipment necessary to sustain Ukraine’s war effort, almost all European countries procure too few of these platforms to ensure a meaningful return on investment for those companies without selling at an inflated cost. With no expectation of receiving big orders, European manufacturers tend to have small facilities and face hostile regulation when it comes to expansion. Addressing this challenge requires continental collaboration to expand the size of orders at each step in the supply chain and reassure firms that they’ll get a good return on investment if they enlarge their facilities and capacities.
Although the European Union’s financial clout and regulatory support will be essential to expanding Europe’s defense industrial base, EU member states will need to work with the United Kingdom, Norway, and Ukraine itself, without letting discussions get derailed by non-defense-related issues. Diplomats will have to compartmentalize lingering disputes. Parochial spats between France and the United Kingdom about fisheries, for instance, or between Poland and Ukraine about agriculture should not be allowed to scupper the process.
NATO is also a source of tension. Investment in Europe’s defense industrial base would significantly strengthen NATO’s resilience and ability to sustain large-scale combat operations, but continuing to give more equipment and stores to Ukraine will come at the expense of European readiness to execute NATO’s plans for the defense of the Euro-Atlantic area. For countries bordering Russia, this is a very uncomfortable situation. Moreover, Hungary and others could act as spoilers and block pragmatic solutions within the EU. To maintain European cohesion, therefore, European governments will need to collectively recognize that some countries will face immediate risks for which they have greater defense needs than others, and so the task of supporting Ukraine should fall disproportionately on western European states.


Ukrainian soldiers near Chasiv Yar, Ukraine, February 2025 Ukrainian soldiers near Chasiv Yar, Ukraine, February 2025  Oleg Petrasiuk / Press Service of the 24th King Danylo / Reuters
Only if Europe can rationalize supply chains across the continent and achieve economies of scale in defense production will it have the capacity to meet Ukraine’s needs. Under the current system, in which countries compete with one another for parts and supplies—thereby driving up the prices of defense materiel—Europe will fail. Consider artillery ammunition. In 2023, Ukraine received approximately 1.6 million 155-millimeter artillery rounds from its international partners, including the United States. In 2024, Ukraine received approximately 1.5 million rounds. Analysts believe Ukraine needs 2.4 million rounds per year to prevent further Russian advances. That disparity seems to suggest that without U.S. supply, Europe cannot sufficiently back Ukraine.
But Europe is not using its capacity as well as it could. In the United Kingdom, for instance, the actual forging and filling capacity for 155-millimeter shells is 16 times greater than at the start of Russia’s full-scale invasion. Despite this increase in capacity, there has been no concurrent increase in production as the United Kingdom has not placed the orders. That is in part because Europe does not produce enough explosives, so that although manufacturers can make the shells, they struggle to source propellant charges for them. Another British defense firm, however, has been trying to significantly expand its explosive-powder plant since 2022, only to have its proposals turned down multiple times by a local council. Central government has done nothing to pressure the council to abandon its parochialism. If permission were granted, propellent production could grow in a matter of months. The picture is quite similar across the continent. Europe may not be able to get to 2.4 million rounds in 2025, but with greater coordination and determination, it could replace U.S. contributions by the end of the year.
Europe will seriously struggle to meet Ukraine’s needs in several areas. It can do very little to replace the U.S.-made interceptors used in Ukraine’s Patriot air defense batteries, the only system able to intercept Russian aeroballistic and quasi-ballistic missiles. Most of the damage Russia inflicts on Ukraine, however, is caused by cruise missiles that can be intercepted with European arms, such as SAMP/T and IRIS-T missiles, and most Russian ballistic missile strikes are against targets that are not defended by Patriots. With European backing, Ukraine could find ways to minimize the impact of Russia’s relatively few ballistic missile strikes and, in turn, target the supply chains that undergird the production of Russian ballistic missiles. In short, even where Europe cannot compensate for the United States, the consequences need not be catastrophic.

NO EXCUSES

The fundamental question underpinning Europe’s ability to shoulder the burden of its security—beyond the extent to which this effort is actively obstructed by U.S. policy—is will. Funding existing European commitments to NATO would have brought spending above three percent of GDP for most members. Achieving a rapid expansion of defense industrial capability to sustain Ukraine in addition to regenerating military forces would see the cost grow even higher. So far, European states have been reluctant to commit resources. Germany has just announced an increase in defense spending, while the EU more broadly has shifted its debt rules to allow more borrowing for investment in defense. But as with German announcements in 2022, it is not yet clear that these statements will drive an effective process of rearmament. It is up to the Europeans to determine whether they can stomach the cost, but they should not hide behind the claim that they cannot defend Ukraine without the United States. Much depends, however, on whether the United States wants

JACK WATLING is Senior Research Fellow for Land Warfare at the Royal United Services Institute in London.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?