3179 - Các lựa chọn hạt nhân tồi tệ của châu Âu
Florence Gaub and Stefan Mair
Ảnh Matt Clough
Trong mắt người châu Âu, ngay cả chiếc ô hạt nhân của Hoa Kỳ, vốn đã bảo vệ châu lục này khỏi các mối đe dọa bên ngoài trong nhiều thập kỷ, dường như không còn hoàn toàn đáng tin cậy nữa. "Tôi muốn tin rằng Hoa Kỳ sẽ luôn ở bên chúng ta", Tổng thống Pháp Emmanuel Macron phát biểu vào tháng 3. "Nhưng chúng ta phải chuẩn bị để điều đó không xảy ra".
Macron lập luận rằng con đường phía trước là bảo vệ châu lục khỏi các cuộc tấn công mà không cần dựa vào sức mạnh răn đe của vũ khí hạt nhân Mỹ. Ông cho rằng đóng góp của Pháp có thể là đưa kho vũ khí hạt nhân của riêng mình vào phục vụ các nước láng giềng châu Âu.
Còn quá sớm để nói trước điều gì sẽ xảy ra với lời đề nghị của tổng thống Pháp. Một đề xuất tương tự mà Macron đưa ra vào năm 2020 đã bị bỏ qua tại các thủ đô châu Âu khác. Nhưng tình hình địa chính trị của châu lục này đã trở nên tồi tệ hơn nhiều trong những năm kể từ đó, và khả năng xảy ra một cuộc tấn công vào các thành viên NATO châu Âu hiện đang ở mức chưa từng thấy kể từ cuối những năm 1970. Với thực tế đó và sự thờ ơ có vẻ như của chính quyền Trump đối với nó, châu lục này cần phải suy nghĩ lại về các chiến lược răn đe của riêng mình. Nếu chiếc ô hạt nhân của Hoa Kỳ không còn mở nữa, châu Âu có thể cần một chiếc ô của riêng mình. Trớ trêu thay, điều này sẽ trái ngược với tham vọng của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, được tuyên bố vào năm 2017, là "phi hạt nhân hóa" thế giới.
Độ tin cậy của bất kỳ biện pháp răn đe hạt nhân nào đều dựa trên hai trụ cột: có đủ năng lực phù hợp và có quyết tâm sử dụng chúng. Xét theo các tiêu chí đó, cả đề xuất của Macron cũng như bất kỳ lựa chọn nào khác cho một biện pháp răn đe hạt nhân độc lập của châu Âu hiện đều không đạt yêu cầu. Nhưng ngay cả khi thời điểm để châu Âu tách biệt an ninh của mình khỏi Hoa Kỳ vẫn chưa đến, các nhà lãnh đạo của lục địa này phải chuẩn bị cho khả năng điều đó có thể xảy ra trong tương lai gần. Và điều đó có nghĩa là bắt đầu đánh giá nghiêm túc các lựa chọn hạt nhân của họ. Trong ngắn hạn, việc làm như vậy sẽ báo hiệu rằng Washington cần phải nghiêm túc xem xét các mối quan ngại về khả năng răn đe của châu Âu. Nhưng điều đó cũng sẽ đặt nền tảng mà châu Âu có thể xây dựng nếu nỗi sợ bị Hoa Kỳ bỏ rơi thực sự trở thành sự thật.
TỪ BIỂU TÌNH ĐẾN PHÁT TRIỂN VŨ KHÍ?
Theo truyền thống, hầu hết các nước châu Âu đều xem vũ khí hạt nhân với thái độ hoài nghi và trong một số trường hợp là thái độ thù địch hoàn toàn. Tình cảm phản đối hạt nhân lên đến đỉnh điểm vào những năm 1980, khi quyết định "đường ray kép" của NATO, bao gồm các kế hoạch triển khai vũ khí hạt nhân tầm trung của Mỹ ở Tây Âu, đã gây ra các cuộc biểu tình lớn ở các thành phố trên khắp khu vực. Sự phản đối của người dân một phần là do niềm tin rằng vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ không phải là biện pháp răn đe chống lại sự xâm lược của Liên Xô, như các nhà lãnh đạo NATO đã lập luận, mà là phương tiện để khiêu khích liều lĩnh và hiếu chiến. Bộ phim The Day After năm 1983 đã cung cấp bản xem trước hư cấu về những gì có thể xảy ra: cuộc đối đầu giữa Hoa Kỳ và Liên Xô tại Berlin leo thang thành một cuộc chiến tranh hạt nhân quy mô nhỏ và cuối cùng là một cuộc xóa sổ hạt nhân toàn cầu. Trong số các tác phẩm khoa học viễn tưởng về chủ đề hạt nhân phản địa đàng kỷ lục ra đời vào những năm 1980, nhiều tác phẩm đã khai thác nỗi sợ hãi như vậy.
Trên thực tế, những gì xảy ra sau đó không phải là Ngày tận thế mà là sự hòa hoãn. Người Mỹ và Liên Xô đã đồng ý hạn chế kho vũ khí của họ và những thỏa thuận đó được duy trì sau khi Liên Xô sụp đổ và Nga thay thế. Khi Chiến tranh Lạnh lùi vào lịch sử, nỗi sợ hãi về chiến tranh hạt nhân đã giảm bớt.
Nhưng trong giới hoạch định chính sách châu Âu, sự phản kháng đối với logic răn đe hạt nhân vẫn tiếp diễn. Bên ngoài hai cường quốc hạt nhân của châu Âu là Pháp và Vương quốc Anh, các quan chức và nhà tư tưởng châu Âu vẫn có xu hướng liên kết mọi thứ liên quan đến hạt nhân với sự hủy diệt nhiều hơn là răn đe.
Mặc dù vậy, cuộc chiến ở Ukraine đã đưa vấn đề hạt nhân trở lại trọng tâm, chủ yếu là do mối đe dọa hạt nhân mới và ngày càng gia tăng từ Nga. Một phần của vấn đề là quy mô và sức mạnh của kho vũ khí hạt nhân của Nga, khoảng 5.580 đầu đạn. Không rõ có bao nhiêu trong số những đầu đạn đó được cho là nhắm vào Trung Âu hoặc Tây Âu. Nhưng hàng chục đầu đạn hạt nhân mà Nga đã bố trí ở Belarus là nguyên nhân gây lo ngại, vì chúng có thể dễ dàng tấn công các nước NATO như Latvia, Lithuania và Ba Lan.
Người châu Âu liên tưởng mọi thứ liên quan đến hạt nhân với sự hủy diệt nhiều hơn là răn đe.
Tuy nhiên, đáng lo ngại hơn cả kho vũ khí là khả năng Nga sẵn sàng sử dụng nó, bao gồm cả như một phương tiện cưỡng ép và tống tiền. Những lời đe dọa hạt nhân liên tục của Tổng thống Nga Vladimir Putin đối với Ukraine và những người ủng hộ nước này ở châu Âu báo hiệu rắc rối cho phần còn lại của lục địa, đặc biệt là khi kết hợp với quá trình tái tổ chức và hiện đại hóa đang diễn ra của lực lượng vũ trang Nga. Nga dường như đang định hướng lại năng lực quân sự và chiến lược của mình theo hướng có thể xảy ra xung đột kéo dài với châu Âu. Nước này cũng đặt mục tiêu tăng quân số thường trực từ 1,3 triệu lên 1,5 triệu vào năm 2027, làm tăng khả năng quay trở lại với chiến dịch huy động quần chúng theo kiểu Liên Xô.
Ngay cả khi mối đe dọa địa chính trị từ phương Đông gia tăng, thì sự bảo vệ mà chiếc ô hạt nhân của Mỹ mang lại dường như không còn được đảm bảo nữa, ít nhất là kể từ khi Trump nhậm chức lần thứ hai vào tháng 1. Tất nhiên, Hoa Kỳ vẫn có khả năng cung cấp cho châu Âu một lực lượng răn đe hạt nhân đáng tin cậy. Điều ngày càng không chắc chắn là liệu dưới thời Trump, nước này có còn muốn làm như vậy hay không. Trump và những người xung quanh ông đã nhiều lần ám chỉ rằng Hoa Kỳ có thể sẽ không đến giải cứu các đồng minh của mình nếu họ bị tấn công, suy ngẫm về việc rút quân đội Hoa Kỳ khỏi châu Âu và ngụ ý rằng Washington có thể không bảo vệ các thành viên NATO không chi đủ cho quốc phòng của chính họ.
Chắc chắn, lời lẽ như vậy chỉ là một nỗ lực gây sức ép buộc các đồng minh châu Âu phải chi tiêu quốc phòng nhiều hơn. Thực sự đẩy những đồng minh đó ra khỏi chiếc ô hạt nhân của Hoa Kỳ sẽ làm suy yếu vị thế siêu cường của Hoa Kỳ, xa lánh một số đối tác quan trọng nhất trong cuộc cạnh tranh địa chính trị với Trung Quốc và Nga, làm giảm đòn bẩy của Hoa Kỳ đối với châu Âu và có lẽ mở ra cánh cửa phổ biến vũ khí hạt nhân trên lục địa này. Nhưng các chuyên gia an ninh có thể thấy mình ở trong tình thế tương tự như các nhà kinh tế: mặc dù các chuyên gia gần như hoàn toàn đồng thuận rằng thuế quan sẽ gây ra chiến tranh thương mại và gây tổn hại đến nền kinh tế Hoa Kỳ, Trump vẫn tiếp tục. Trong lĩnh vực kinh tế, những bước đi sai lầm như vậy là có hại. Trong lĩnh vực an ninh quốc gia, hậu quả có thể là sự tồn tại.
Như cựu nhà ngoại giao và nhà khoa học chính trị Hoa Kỳ Ivo Daalder đã viết trên Foreign Affairs vào đầu năm nay, nguyên tắc phòng thủ tập thể được ghi trong hiệp ước thành lập NATO "có được uy tín ít hơn từ hiệp ước chính thức mà từ niềm tin giữa các thành viên rằng họ đều sẵn sàng bảo vệ lẫn nhau". Những kẻ xâm lược tiềm tàng hẳn cũng tin như vậy. Toàn bộ kiến trúc an ninh hậu Chiến tranh Lạnh của châu Âu đều dựa trên niềm tin này. Việc nghi ngờ nó có nguy cơ làm suy yếu toàn bộ hệ thống từ bên trong và bên ngoài.
Cho đến nay, các cuộc tranh luận của châu Âu về cách thiết lập sự răn đe mà không cần sự hỗ trợ của Hoa Kỳ đều tập trung vào năng lực quân sự thông thường, phi hạt nhân và điều đó dễ hiểu. Năng lực quân sự thông thường hạn chế của các thành viên NATO châu Âu có thể khiến Nga thực hiện một cuộc tấn công hạn chế - chẳng hạn như chiếm một phần lãnh thổ nhỏ từ một trong những nước láng giềng Baltic hoặc tấn công một tàu quân sự châu Âu - với kỳ vọng rằng họ sẽ không phải chịu bất kỳ hậu quả nghiêm trọng nào. Nếu một cuộc tấn công như vậy xảy ra và châu Âu không có phương tiện để đáp trả quân sự thích hợp, uy tín của NATO sẽ bị phá vỡ. Nhận ra mối nguy hiểm đó, hầu hết các nước châu Âu đã cam kết tăng đáng kể chi tiêu quốc phòng. Có thể sẽ mất vài năm để các khoản đầu tư đó lấp đầy khoảng trống, nhưng ít nhất các quyết định chính trị cần thiết đã được đưa ra và có sự ủng hộ rộng rãi của công chúng đối với chúng.
Một biện pháp răn đe hạt nhân tiềm năng của châu Âu lại là một vấn đề khác. Các chính trị gia châu Âu đã thỉnh thoảng bày tỏ mối quan ngại về mối đe dọa hạt nhân từ Nga và các chuyên gia quốc phòng đã bắt đầu thảo luận nghiêm túc hơn về các lựa chọn hạt nhân của châu Âu. Tuy nhiên, điều còn thiếu là một cuộc tranh luận công khai có hiểu biết, bất chấp đề xuất gần đây của Macron.
Các điều kiện cho một cuộc tranh luận như vậy tốt hơn so với những năm trước. Trước cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine vào năm 2022, các cuộc thăm dò cho thấy rằng tại bốn quốc gia châu Âu đã lưu trữ vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ - Bỉ, Đức, Ý và Hà Lan - phần lớn người được hỏi phản đối các thỏa thuận lưu trữ như vậy. Ngược lại, trong một cuộc thăm dò vào tháng 3 đối với chín quốc gia châu Âu, 61 phần trăm số người được hỏi cho biết họ sẽ hoan nghênh một chiếc ô hạt nhân của Pháp bao phủ toàn bộ lục địa.
Một biện pháp răn đe hạt nhân mở rộng theo kiểu này, do Pháp cung cấp nhưng lý tưởng nhất là được Vương quốc Anh bổ sung, chắc chắn sẽ được xem xét kỹ lưỡng hơn nếu Hoa Kỳ tiếp tục làm loãng hoặc thậm chí phủ nhận các đảm bảo an ninh của mình. Hai lựa chọn khác, có vẻ ít liên quan hơn vì chúng thậm chí còn gây tranh cãi hơn, cũng đáng được chú ý. Một là biện pháp răn đe hạt nhân tập thể: tức là một kho vũ khí sẽ được kiểm soát bởi một tổ chức toàn châu Âu. Lựa chọn còn lại là việc các quốc gia châu Âu khác mua vũ khí hạt nhân. Nếu châu Âu chọn bất kỳ con đường nào trong số này, họ sẽ cần đáp ứng hai tiêu chí để khiến biện pháp răn đe hạt nhân của mình trở nên đáng tin cậy. Đầu tiên, kho vũ khí của họ phải đủ lớn, tinh vi về mặt kỹ thuật và có khả năng sống sót sau đòn tấn công đầu tiên. Thứ hai, bất kỳ ai kiểm soát kho vũ khí sẽ phải chứng minh được sự sẵn sàng sử dụng nó.
CHỦ QUYỀN SO VỚI SỰ ĐOÀN KẾT
Trong ba lựa chọn, chỉ có một lựa chọn được thảo luận nghiêm túc cho đến nay: biện pháp răn đe hạt nhân mở rộng chủ yếu do Pháp cung cấp, với sự hỗ trợ bổ sung từ Vương quốc Anh. Thủ tướng Đức mới, Friedrich Merz, đã bày tỏ sự quan tâm đến một thỏa thuận như vậy, ngay cả khi ông đã nói rằng nó chỉ phục vụ để bổ sung cho các đảm bảo hạt nhân của Mỹ, chứ không phải để thay thế chúng. Và vào tháng 5, Pháp và Ba Lan đã ký một hiệp ước nhằm tăng cường quan hệ an ninh của họ, một bước đi mà Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk mô tả là một bước tiến tới một chiếc ô hạt nhân tiềm năng của Pháp cho đất nước của ông.
Tuy nhiên, tính đến hôm nay, năng lực hạt nhân của Pháp và Anh gây ra những lo ngại nghiêm trọng về uy tín. Khoảng 290 đầu đạn hạt nhân của Pháp đã sẵn sàng triển khai; Vương quốc Anh có thể cung cấp thêm 225 đầu đạn nữa. Tính chung lại, con số đó chỉ bằng mười phần trăm so với những gì Nga có thể triển khai.
Răn đe không phải là trò chơi con số đơn giản, nhưng một khoảng cách rộng như vậy là một gánh nặng rõ ràng, vì những lý do khách quan và nhận thức được sự yếu kém. Trước hết, nó thực sự hạn chế các đồng minh châu Âu vào cái mà các chuyên gia hạt nhân gọi là "răn đe bằng hình phạt". Sự răn đe như vậy dựa trên mối đe dọa trả đũa áp đảo - tấn công chúng tôi, và chúng tôi sẽ đáp trả bằng cách tàn phá các thành phố của bạn. Để mối đe dọa đó có hiệu quả, tài sản hạt nhân của chính mình phải có khả năng sống sót sau cuộc tấn công ban đầu của kẻ thù. Pháp chắc chắn có khả năng đó, vì hầu hết các đầu đạn của họ được triển khai trên tàu ngầm, vốn nổi tiếng là khó phát hiện và phá hủy. Nhưng nếu kẻ xâm lược sử dụng vũ khí chiến thuật có sức công phá thấp và nếu mục tiêu nằm ở rìa xa của ô hạt nhân Pháp-Anh thì sao? Liệu Pháp và Vương quốc Anh, những quốc gia không có đầu đạn hạt nhân chiến thuật của riêng mình, có sẵn sàng sử dụng kho vũ khí chiến lược sức công phá cao của mình để đáp trả hay không—và có nguy cơ bị hủy diệt hoàn toàn nếu kẻ thù đáp trả tương tự?
Bất kỳ ai kiểm soát kho vũ khí của châu Âu đều phải sẵn sàng sử dụng nó.
Câu trả lời có thể là không, và hàm ý rõ ràng là Pháp và Vương quốc Anh hiện không thể cung cấp cho các đồng minh của mình loại răn đe mở rộng mà ô hạt nhân của Hoa Kỳ cung cấp. Để đạt được điều đó sẽ cần đầu tư đáng kể vào kho vũ khí tương ứng của họ để tăng số lượng đầu đạn chiến lược, mua đầu đạn chiến thuật và triển khai chúng theo cách có thể sống sót sau đòn tấn công đầu tiên của đối thủ. Với những hạn chế về ngân sách, Paris và London khó có thể tự mình gánh vác gánh nặng của những khoản đầu tư này. Thay vào đó, phần lớn hóa đơn sẽ phải do những người hưởng lợi trong tương lai của ô dù hạt nhân chi trả—tức là các đồng minh châu Âu khác.
Pháp và Vương quốc Anh luôn khẳng định rằng bất kỳ quyết định nào sử dụng vũ khí hạt nhân đều là vấn đề chủ quyền quốc gia. Do đó, họ cần đưa ra những đảm bảo đáng tin cậy về sự bảo vệ cho bất kỳ nhà đầu tư bên thứ ba nào. Quy mô địa lý hạn chế và sự hội nhập kinh tế sâu rộng của châu Âu khiến những đảm bảo như vậy có vẻ hợp lý hơn so với những cam kết bảo vệ xuyên Đại Tây Dương của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, một biện pháp răn đe đáng tin cậy sẽ đòi hỏi những sự sắp xếp xa hơn. Các thỏa thuận chia sẻ hạt nhân giữa Hoa Kỳ và các đồng minh đưa ra một khuôn mẫu hữu ích: theo các hiệp ước này, quân đội Hoa Kỳ triển khai vũ khí hạt nhân cho một số quốc gia đồng minh và sau đó các quốc gia chủ nhà sẽ cung cấp một số thành phần của hệ thống phân phối cần thiết, chẳng hạn như máy bay vận tải và phi công. Nhưng Washington vẫn giữ thẩm quyền duy nhất để ra lệnh phóng vũ khí hạt nhân. Độ tin cậy của những đảm bảo của Paris và London cũng có thể được tăng cường bằng cách tạo ra một cơ chế tham vấn tương tự như Nhóm lập kế hoạch hạt nhân của NATO, nơi thảo luận về các vấn đề hạt nhân và xem xét các chính sách của các quốc gia thành viên nhưng Pháp không phải là thành viên.
Tuy nhiên, vẫn còn một điểm yếu lớn khác. Đánh giá theo kết quả của các cuộc bầu cử gần đây ở Pháp và Vương quốc Anh, người ta không thể loại trừ khả năng các chính phủ dân túy cánh hữu trỗi dậy ở cả hai quốc gia này, những chính phủ có bản năng địa chính trị sẽ khiến họ theo đuổi chính sách hạt nhân chỉ dành cho Pháp hoặc chỉ dành cho Vương quốc Anh. Nói cách khác, một chiếc ô hạt nhân Pháp-Anh một ngày nào đó có thể sụp đổ vì những lý do tương tự như chiếc ô của Mỹ.
Để giảm thiểu những bất ổn có thể làm phức tạp thêm lựa chọn của Pháp-Anh, các nhà lãnh đạo châu Âu có thể hướng tới một lựa chọn tham vọng hơn: một lực lượng răn đe hạt nhân tập thể trên toàn châu Âu. Trong Chiến tranh Lạnh, các quan chức trong chính quyền Kennedy đã cân nhắc một phiên bản của thỏa thuận này: một hạm đội tàu chiến và tàu ngầm đa quốc gia được trang bị vũ khí hạt nhân của Mỹ nhưng hoàn toàn do các đồng minh NATO châu Âu vận hành, sở hữu và kiểm soát. Hạm đội này sẽ mang đủ đầu đạn để phá hủy bất kỳ nơi nào từ 25 đến 100 thành phố của Liên Xô. Nhưng sự phản đối của Anh đối với kế hoạch này, cũng như những bất đồng giữa các đồng minh khác về cách thực hiện và tài trợ cho kế hoạch, đã khiến kế hoạch này thất bại.
Một phiên bản hiện đại của đề xuất này có thể đặt vũ khí hạt nhân của Pháp và Anh dưới sự kiểm soát của Liên minh châu Âu hoặc một cơ quan mới. Kế hoạch này sẽ giải quyết vấn đề chính trị do phương án Pháp-Anh đặt ra, vì nó ít bị tổn thương hơn trước sự thay đổi ý định từ phía Pháp hoặc Vương quốc Anh. Trong ngắn hạn, những thiếu sót về mặt kỹ thuật của phương án Pháp-Anh sẽ vẫn còn, vì khả năng răn đe tập thể sẽ dựa vào kho vũ khí của hai nước. Nhưng các cường quốc phi hạt nhân của châu Âu sẽ có động lực mạnh mẽ hơn nhiều để chia sẻ gánh nặng tài chính trong việc hiện đại hóa và mở rộng kho vũ khí hạt nhân của Pháp và Anh so với phương án đầu tiên, vì họ sẽ đầu tư vào một kho vũ khí được kiểm soát chung thay vì vào các vũ khí do những bên khác kiểm soát hoàn toàn.
Kiểm soát chung sẽ đại diện cho sức mạnh lớn nhất của thỏa thuận đối với hầu hết các nước trong lục địa, nhưng sẽ không khả thi đối với Paris và London. Không chính phủ nào muốn giao kho vũ khí quốc gia của mình cho một cơ quan châu Âu và từ bỏ quyền quyết định cuối cùng về việc sử dụng vũ khí. Ngay cả khi một lực lượng hạt nhân đa phương cung cấp năng lực nâng cao và do đó có mức độ răn đe cao hơn - mà lợi ích cũng sẽ mang lại cho Pháp và Anh - thì câu hỏi về việc ai nắm giữ thẩm quyền phóng cuối cùng có thể sẽ quan trọng hơn bất kỳ cân nhắc nào khác.
Kiểm soát chung cũng đặt ra những vấn đề hóc búa khác. Nếu chỉ một quốc gia thành viên duy nhất của lực lượng đa phương phải chịu một cuộc tấn công hạt nhân, liệu những quốc gia khác có thực sự sẵn sàng phản ứng không? Nếu họ không, điều đó có trao cho quốc gia bị tấn công quyền tiến hành một cuộc tấn công trả đũa đơn phương, sử dụng vũ khí hạt nhân được bố trí trên lãnh thổ của mình như một phần của lực lượng đa phương không? Một cuộc tấn công hạt nhân có đòi hỏi sự nhất trí giữa các quốc gia thành viên hay đa số là đủ? Trong cả hai trường hợp, việc ra quyết định sẽ cần nhiều thời gian hơn so với thời gian có sẵn trong một cuộc xung đột hạt nhân tiềm tàng. Để tránh sự chậm trễ, thẩm quyền phóng có thể được chuyển giao cho một cơ quan siêu quốc gia. Nhưng cơ quan đó sẽ không có đủ tính hợp pháp dân chủ để đưa ra quyết định sống còn cho hàng trăm triệu người. Cho đến khi các quốc gia châu Âu đạt đến mức độ hội nhập cho phép một chính phủ châu Âu được bầu trực tiếp đưa ra quyết định như vậy, thì phương án thứ hai sẽ không vượt qua được bài kiểm tra về độ tin cậy.
AI SẼ LÀ NGƯỜI TIẾP THEO?
Lựa chọn còn lại chắc chắn là gây tranh cãi và có ảnh hưởng sâu rộng nhất: thay vì dựa vào hoặc đầu tư vào kho vũ khí hiện có của Pháp và Anh, các quốc gia châu Âu khác có thể tự chế tạo vũ khí hạt nhân. Nếu các quốc gia này tích lũy được kho vũ khí có quy mô tương đương với Pháp và Vương quốc Anh, thì năng lực chung của châu Âu sẽ vượt ra ngoài sự răn đe bằng hình phạt. Thay vì chỉ đe dọa trả đũa sau một cuộc tấn công, các quốc gia châu Âu sẽ có thể tham gia vào “răn đe bằng cách phủ nhận”—tức là khiến đối phương khó hoặc thậm chí không thể thực hiện một cuộc tấn công tàn khốc ngay từ đầu.
Một số cường quốc châu Âu, đứng đầu là Đức và Ba Lan, về mặt lý thuyết có thể có được năng lực công nghệ và phân bổ nguồn lực tài chính cần thiết để tích lũy đủ urani làm giàu và cuối cùng là phát triển vũ khí hạt nhân. Nhưng để làm như vậy vẫn cần thời gian - chắc chắn là đủ thời gian để một kẻ xâm lược có vũ khí hạt nhân tiềm tàng như Nga thực hiện một cuộc tấn công thông thường phủ đầu vào các địa điểm làm giàu và các cơ sở phát triển khác. Trước khi Nga xâm lược toàn diện Ukraine, một cuộc tấn công như vậy là điều không thể tưởng tượng được. Ngày nay, hầu như không có điều gì có thể bị loại trừ.
Để giảm thiểu rủi ro đó, Pháp và Vương quốc Anh có thể "cho mượn" một số vũ khí hạt nhân của họ trên cơ sở tạm thời. Động lực để Paris và London thực hiện kế hoạch này và hỗ trợ tham vọng hạt nhân của các đồng minh của họ sẽ là đạt được sức mạnh về số lượng: ngay cả khi không có sự kiểm soát chung, nhiều cường quốc hạt nhân châu Âu vẫn có thể thiết lập được mức độ răn đe lớn hơn so với Pháp và Vương quốc Anh có thể tự thiết lập ngày nay. Về phần mình, Hoa Kỳ cuối cùng cũng sẽ được giải thoát khỏi gánh nặng bảo vệ châu Âu, giải phóng các nguồn lực cho các mục đích sử dụng thay thế. Nhưng nếu lợi ích có quy mô lịch sử, thì chi phí tiềm ẩn cũng vậy, đặc biệt là nguy cơ gia tăng gây ra xung đột với Nga.
Trên thực tế, không có ứng cử viên rõ ràng nào cho vị trí cường quốc hạt nhân thứ ba của châu Âu. Cho đến nay, chỉ có Ba Lan dường như đang cân nhắc lựa chọn này một cách nghiêm túc. "Ba Lan phải theo đuổi các năng lực tiên tiến nhất, bao gồm vũ khí hạt nhân và vũ khí phi truyền thống hiện đại", Tusk, thủ tướng nước này, đã nói với các nghị sĩ Ba Lan vào tháng 3. "Đây là một cuộc đua nghiêm túc - một cuộc đua vì an ninh, không phải vì chiến tranh".
Trong khi đó, cuộc tranh luận ở Đức trở nên phức tạp do những cân nhắc về lịch sử, chính trị, văn hóa và chiến lược. Bất chấp nhiều thập kỷ hòa giải, hội nhập và ổn định dân chủ, nửa đầu thế kỷ XX - và vai trò của Đức trong đó - vẫn đè nặng lên tâm trí người châu Âu. Một nước Đức sở hữu vũ khí hạt nhân sẽ kéo theo sự tái cân bằng quyền lực đáng kể ở châu Âu và gây ra mối lo ngại sâu sắc ở các thủ đô lân cận. Đó là chưa kể đến sự cảnh giác của chính xã hội Đức. Khuynh hướng hòa bình và phản hạt nhân của nước này rất sâu sắc, cũng như thái độ ác cảm với rủi ro và sự dè dặt khi đảm nhận các trách nhiệm quân sự quốc tế. Ngay cả việc sử dụng năng lượng hạt nhân cho mục đích dân sự cũng đã bị loại bỏ dần, với các lò phản ứng cuối cùng sẽ đóng cửa vào tháng 4 năm 2023. Những bản năng xã hội và chính trị này hầu như không tương thích với vai trò của một cường quốc hạt nhân.
Những ràng buộc pháp lý đối với Đức cũng rất đáng kể. Là một bên tham gia Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân, nước này đã từ bỏ việc sản xuất và sở hữu vũ khí hạt nhân. Cam kết tương tự được ghi nhận trong Điều 3(1) của Hiệp ước Hai cộng bốn, thỏa thuận năm 1990 cung cấp nền tảng pháp lý cho việc thống nhất Đông và Tây Đức sau Chiến tranh Lạnh. Hiệp ước Hai cộng bốn, nói riêng, là một trở ngại pháp lý đáng sợ, vì việc vi phạm một trong những yếu tố cốt lõi của nó có thể khiến tính hợp lệ của toàn bộ văn bản bị nghi ngờ. Điều đó, đến lượt nó, sẽ gây ra những lo ngại lớn giữa những bên ký kết và những nước láng giềng gần nhất của Đức.
Chắc chắn, những sự kiện gần đây đã làm suy yếu nền tảng chính trị của hiệp ước. Cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine và khả năng Hoa Kỳ rút quân khỏi châu Âu đều đe dọa đến chính thành tựu mà hiệp định này nhằm bảo đảm, cụ thể là chủ quyền hoàn toàn của một nước Đức thống nhất. Những thay đổi đáng lo ngại này có thể là lý do đủ để Đức, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ cùng đưa ra quyết định phủ quyết Điều 3(1). Tuy nhiên, bất kỳ động thái nào của Đức hướng tới việc sở hữu vũ khí hạt nhân đều chỉ có thể hình dung được khi có sự tham vấn chặt chẽ và sự phối hợp với các quốc gia châu Âu khác, trước hết là Ba Lan, nơi mà một nước Đức có vũ khí hạt nhân sẽ gây ra nhiều lo ngại nhất.
Hiện tại, không có lựa chọn nào trong ba lựa chọn trên dễ dàng vượt qua được bài kiểm tra về độ tin cậy. Một chiếc ô hạt nhân của Pháp và Anh sẽ thiếu các năng lực cần thiết và những người hưởng lợi của nó có thể sẽ nghi ngờ về độ tin cậy của nó trong thời kỳ khủng hoảng. Một lực lượng răn đe hạt nhân toàn châu Âu dường như thậm chí còn kém khả thi hơn. Nó sẽ chuyển một quyết định chính trị hiện sinh cho một thực thể chỉ có tính hợp pháp dân chủ gián tiếp. Làm như vậy sẽ tương đương với một thách thức nghiêm trọng đối với các chuẩn mực dân chủ châu Âu vào thời điểm chúng đang bị các thế lực phi tự do tấn công.
Sự phổ biến vũ khí hạt nhân ở châu Âu có thể mang lại sự răn đe hiệu quả và đáng tin cậy. Nhưng nó sẽ mang lại những rủi ro về mặt pháp lý và chính trị mà hiện tại, các nhà lãnh đạo châu Âu không thể chấp nhận. Nó cũng có thể gây ra một làn sóng phổ biến vũ khí hạt nhân bên ngoài châu Âu, bao gồm cả ở các quốc gia mà các chính phủ phương Tây coi là thù địch.
Mặt khác, ngay cả khi châu Âu vẫn giữ nguyên, thì không biết liệu sự không phổ biến vũ khí hạt nhân có tồn tại ở các khu vực khác trên thế giới hay không. Nếu có bất cứ điều gì, xu hướng hiện tại cho thấy rằng nơi đầu tiên mà nó sẽ sụp đổ là Đông Á. Ví dụ, nếu chính quyền Trump tiếp tục tạo ra cảm giác không chắc chắn về sự đảm bảo an ninh của Hoa Kỳ đối với Hàn Quốc, các nhà lãnh đạo ở Seoul có thể đạt đến điểm bùng phát. Theo tình hình hiện tại, Hàn Quốc phải đối mặt với ba cường quốc hạt nhân thù địch về mặt chính trị—Triều Tiên, Trung Quốc và Nga—ở khu vực lân cận. Các nhà chiến lược quốc phòng Hàn Quốc đã chỉ ra rằng tình hình này sẽ trở nên không thể duy trì được nếu đồng minh hạt nhân duy nhất của họ, Hoa Kỳ, rút lui. Đổi lại, một Hàn Quốc có vũ khí hạt nhân sẽ khuyến khích Nhật Bản theo đuổi cùng một hướng đi.
Sự phổ biến vũ khí hạt nhân ở Đông Á cũng sẽ làm thay đổi các điều khoản của cuộc tranh luận ở châu Âu, nơi nó có thể được coi là một sự thay đổi thực tế và dứt khoát hơn so với các mối đe dọa của riêng Trump. Đây là một kịch bản đáng lo ngại: các nhà lãnh đạo châu Âu, khi phải đối mặt với không gì ngoài những lựa chọn tồi tệ, có thể chứng minh rằng họ không có khả năng phá vỡ thế bế tắc hạt nhân của mình trừ khi có người khác lao vào trước. Cho đến lúc đó, lựa chọn an toàn nhất của châu Âu là ít nhất phải chuẩn bị cho mọi tình huống bất trắc
FLORENCE GAUB là Giám đốc Bộ phận nghiên cứu tại Cao đẳng Quốc phòng NATO. Quan điểm được nêu ở đây là của riêng bà.
STEFAN MAIR là Giám đốc Viện các vấn đề quốc tế và an ninh Đức.
https://www.foreignaffairs.com/europe/europes-bad-nuclear-options-gaub-mair
***
Europe’s Bad Nuclear Options
And Why They May Be the Only Path to Security
📷Matt Clough
The early months of the second Trump administration have left Europe adrift. The continent was already reeling from the war in Ukraine and increasingly worried about the specter of Russian aggression. Now, new leadership in Washington is casting doubt on its commitment to the defense of European allies.
In the eyes of Europeans, even the U.S. nuclear umbrella, which for decades has shielded the continent from outside threats, no longer seems fully dependable. “I want to believe that the
United States will stay by our side,” French President Emmanuel Macron said in March. “But we have to be prepared for that not to be the case.”
The way forward, Macron has argued, is to protect the continent from attack without relying on the deterrent power of American nuclear weapons. France’s contribution, he has suggested, might be to put its own nuclear arsenal in the service of its European neighbors.
It is too early to tell what will come of the French president’s offer. A similar proposal Macron made in 2020 was ignored in other European capitals. But the continent’s geopolitical predicament has grown much direr in the years since, and the probability of an attack on European NATO members is now at a level not seen since the late 1970s. Given that reality and the seeming indifference of the Trump administration to it, the continent needs to rethink its own deterrence strategies. If the American nuclear umbrella is no longer open, Europe might need one of its own. Ironically, this would run counter to U.S. President Donald Trump’s ambition, stated in 2017, to “de-nuke” the world.
The credibility of any nuclear deterrent rests on two pillars: having the right capabilities and having the resolve to use them. Judged by those criteria, neither Macron’s proposal nor any other option for an independent European nuclear deterrent currently passes muster. But even if the moment for Europe to decouple its security from that of the United States has not yet arrived, the continent’s leaders must prepare for the possibility that it may before long. And that means beginning to take serious stock of their nuclear options. In the short term, doing so will signal that Washington needs to take Europe’s deterrence concerns seriously. But it would also lay a foundation on which Europe could build should its fears of abandonment by the United States really come true.
FROM PROTEST TO PROLIFERATION?
Historically, most European countries have viewed nuclear weapons with skepticism and, in some cases, outright hostility. Antinuclear sentiment peaked in the 1980s, when NATO’s “dual track” decision, which included plans to station American intermediate-range nuclear weapons in Western Europe, set off massive protests in cities across the region. Popular opposition was fueled in part by the belief that U.S. nuclear weapons were not a deterrent against Soviet aggression, as NATO leaders argued, but a vehicle for reckless provocation and warmongering. The 1983 film The Day After offered a fictionalized preview of what might lie in store: a U.S.-Soviet confrontation in Berlin spiraling into a small-scale nuclear war and, eventually, a global nuclear wipeout. Among the record number of dystopian nuclear-themed works of science fiction to have come out of the 1980s, many played on such fears.
In reality, what followed was not Armageddon but détente. The Americans and the Soviets agreed to limit their arsenals, and those agreements held after the Soviet Union fell and Russia took its place. As the Cold War receded into history, fears of nuclear war abated.
But in European policymaking circles, resistance to the logic of nuclear deterrence persisted. Outside Europe’s two nuclear powers, France and the United Kingdom, European officials and thinkers still tend to associate all things nuclear with destruction more than with deterrence.
Even so, the war in Ukraine has brought the nuclear issue back into focus, mainly in light of a renewed and growing nuclear threat from Russia. Part of the problem is the sheer size and potency of Russia’s arsenal of around 5,580 nuclear warheads. It is unclear how many of those warheads are meant to target central or western Europe. But the dozens of nuclear warheads Russia has stationed in Belarus are cause for concern, as they could easily strike NATO countries such as Latvia, Lithuania, and Poland.
Europeans associate all things nuclear with destruction more than with deterrence.
More worrying than the arsenal itself, however, is Russia’s potential willingness to use it, including as a means of coercion and blackmail. Russian President Vladimir Putin’s repeated nuclear threats against Ukraine and its European supporters portend trouble for the rest of the continent, particularly in conjunction with the ongoing reorganization and modernization of Russia’s armed forces. Russia appears to be reorienting its military capabilities and strategy toward the possibility of protracted conflict with Europe. It also aims to increase active military personnel from 1.3 million to 1.5 million by 2027, raising the possibility of a return to Soviet-style mass mobilization.
Even as the geopolitical danger from the East has increased, the protection afforded by the American nuclear umbrella no longer seems guaranteed, at least not since Trump took office for the second time in January. Of course, the United States still has the ability to provide Europe with a credible nuclear deterrent. What is increasingly uncertain is whether, under Trump, it still wants to do so. Trump and those around him have repeatedly suggested that the United States might not come to its allies’ rescue if they were attacked, musing about pulling U.S. troops out of Europe and implying that Washington might not defend NATO members that do not spend sufficiently on their own defense.
To be sure, such rhetoric may just be an attempt to pressure European allies into higher defense spending. To actually push those allies out from underneath the American nuclear umbrella would undermine the United States’ status as a superpower, alienate some of the most important partners in its geopolitical competition with China and Russia, reduce its leverage over Europe, and perhaps open the door to nuclear proliferation on the continent. But security experts could find themselves in a similar position to that of economists: despite near-total expert consensus that tariffs will spark a trade war and hurt the U.S. economy, Trump plowed ahead. In the economic realm, such missteps are harmful. In the domain of national security, the ramifications could be existential.
As the former U.S. diplomat and political scientist Ivo Daalder wrote in Foreign Affairs earlier this year, the principle of collective defense enshrined in NATO’s founding treaty “derives its credibility less from the formal treaty than from a belief among the members that they are all prepared to come to one another’s defense.” Potential aggressors must believe the same thing. Europe’s entire post–Cold War security architecture rests on this belief. To throw it into doubt risks undermining the entire system from within and without.
So far, European debates on how to establish deterrence without U.S. assistance have centered on conventional, nonnuclear military capabilities, and understandably so. The limited conventional military capabilities of European NATO members could tempt Russia into carrying out a limited attack—seizing a small piece of territory from one of its Baltic neighbors, say, or engaging a European military vessel—with the expectation that it would not suffer any serious consequences. If such an attack took place and Europe lacked the means for an appropriate military response, NATO’s credibility would be shattered. Recognizing that danger, most European countries have pledged significant increases in defense spending. It will likely take several years for those investments to fill the gaps, but at least the necessary political decisions have been made and there is broad public support for them.
A potential European nuclear deterrent is a different matter. European politicians have sporadically expressed concern about the nuclear threat from Russia, and defense experts have begun discussing Europe’s nuclear options more seriously. What is lacking, however, is an informed public debate, despite Macron’s recent proposal.
The conditions for such a debate are better than they have been in years. Before Russia’s full-scale invasion of Ukraine in 2022, polling indicated that in four European countries that hosted U.S. nuclear weapons—Belgium, Germany, Italy, and the Netherlands—a plurality of respondents opposed such hosting arrangements. By contrast, in a March poll of nine European countries, 61 percent of respondents said they would welcome a French nuclear umbrella covering the entire continent.
An extended nuclear deterrent of this type, provided by France but ideally also supplemented by the United Kingdom, would certainly merit closer scrutiny if the United States further diluted or even disavowed its security guarantees. Two other options, which seem less pertinent because they are even more controversial, also deserve attention. One is a collective nuclear deterrent: that is, an arsenal that would be controlled by a pan-European institution. The other is the acquisition of nuclear weapons by additional European states. If Europe chose any of these paths, it would need to meet two criteria to make its nuclear deterrent credible. First, its arsenal would have to be sufficiently large, technically sophisticated, and capable of surviving a first strike. Second, whoever controlled the arsenal would have to demonstrate a willingness to use it.
SOVEREIGNTY VS. SOLIDARITY
Of the three options, only one has been seriously discussed so far: an extended nuclear deterrent provided primarily by France, with complementary support from the United Kingdom. The new German chancellor, Friedrich Merz, has indicated interest in such an arrangement, even if he has said it would serve only to supplement American nuclear guarantees, not to replace them. And in May, France and Poland signed a treaty to deepen their security ties, a step that Polish Prime Minister Donald Tusk described as a step toward a potential French nuclear umbrella for his country.
As of today, however, French and British nuclear capabilities raise serious credibility concerns. Some 290 French nuclear warheads are ready for deployment; the United Kingdom can provide another 225. Taken together, that is a mere ten percent of what Russia can field.
Deterrence is no simple numbers game, but a gap this wide is a clear liability, for reasons of both objective and perceived weakness. For one thing, it effectively restricts European allies to what nuclear experts call “deterrence by punishment.” Such deterrence rests on the threat of overwhelming retaliation—attack us, and we will respond by laying waste to your cities. For that threat to work, one’s own nuclear assets must be able to survive the enemy’s initial attack. France certainly has that capability, since most of its warheads are deployed on submarines, which are notoriously hard to detect and destroy. But what if the aggressor used low-yield tactical weapons, and what if the target lay on the far edges of the Franco-British nuclear umbrella? Would France and the United Kingdom, which lack tactical nuclear warheads of their own, be willing to use their high-yield strategic arsenal in response—and risk total annihilation if the enemy responded in kind?
Whoever controlled Europe’s arsenal would have to be willing to use it.
The answer might be no, and the obvious implication is that France and the United Kingdom cannot currently offer their allies the kind of extended deterrent afforded by the U.S. nuclear umbrella. Getting there would require substantial investments in their respective arsenals to increase the number of strategic warheads, acquire tactical ones, and deploy them in a way that they could survive a first strike by an opponent. Given their budgetary constraints, it is unlikely that Paris and London could shoulder the burden of these investments on their own. Instead, most of the bill would have to be footed by the nuclear umbrella’s future beneficiaries—that is, other European allies.
France and the United Kingdom have consistently maintained that any decision to use nuclear weapons is a matter of national sovereignty. They would thus need to issue credible assurances of protection to any third-party investors. Europe’s limited geographic scale and deep economic integration make such assurances more plausible than transatlantic pledges of protection by the United States. Nonetheless, a credible deterrent would require further arrangements. Nuclear-sharing agreements between the United States and its allies offer a useful template: under these pacts, the U.S. military deploys nuclear weapons to a number of allied states, and the host countries then provide some components of the necessary delivery systems, such as carrier aircraft and pilots. But Washington retains the sole authority to order a nuclear launch. The credibility of Paris’s and London’s assurances could also be enhanced by the creation of a consultation mechanism similar to NATO’s Nuclear Planning Group, which discusses nuclear issues and reviews member states’ policies but of which France is not a member.
Still, another major weak spot would remain. Judging by the outcomes of recent elections in France and the United Kingdom, one cannot rule out the rise, in both countries, of right-wing populist governments whose geopolitical instincts would lead them to pursue a France-only or United Kingdom–only nuclear policy. In other words, a Franco-British nuclear umbrella might one day snap shut for the same reasons the American one did.
DETERRENCE BY COMMITTEE
To mitigate the uncertainties that would complicate the Franco-British option, European leaders could set their sights on a more ambitious one: a collective, pan-European nuclear deterrent. During the Cold War, officials in the Kennedy administration considered a version of this arrangement: a multinational fleet of ships and submarines armed with American nuclear weapons but operated, owned, and controlled entirely by European NATO allies. The fleet would have carried enough warheads to destroy anywhere from 25 to 100 Soviet cities. But British opposition to the plan, as well as disagreements among other allies on how to implement and fund it, caused it to founder.
A modern version of this proposal could place French and British nuclear weapons under the control of the European Union or a new body. This plan would solve the political problem posed by the Franco-British option, since it would be less vulnerable to a change of heart on the part of France or the United Kingdom. In the short term, the technical shortcomings of the Franco-British option would remain, since the collective deterrent would rely on the two countries’ arsenals. But Europe’s nonnuclear powers would have a much stronger incentive to share the financial burden of modernizing and expanding the French and British nuclear stockpile than they would have under the first option, since they would be investing in a jointly controlled arsenal rather than in weapons wholly controlled by others.
Joint control would represent the arrangement’s greatest strength for most of the continent, but it would be a nonstarter for Paris and London. Neither government would want to hand over its national arsenal to a European body and give up the final say on the weapons’ use. Even if a multilateral nuclear force provided enhanced capabilities and thus a higher level of deterrence—whose benefits would also redound to the French and the British—the question of who held the ultimate launch authority would likely outweigh any other considerations.
Joint control raises other thorny issues, too. If only a single member state of the multilateral force suffered a nuclear attack, would the others really prove willing to respond? If they didn’t, would that give the attacked country the right to conduct a unilateral retaliatory strike, using nuclear weapons stationed on its territory as part of the multilateral force? Would a nuclear strike require unanimity among member states, or would a majority suffice? In either case, decision-making would require more time than is available during a potential nuclear conflict. To avoid delays, launch authority could be delegated to a supranational body. But that body would not have enough democratic legitimacy to make life-or-death decisions for hundreds of millions of people. Until European nations have reached a level of integration that would allow a directly elected European government to make such a decision, option two would fail the credibility test.
WHO’S NEXT?
What remains is undoubtedly the most controversial and far-reaching option: instead of relying on or investing in the existing French and British arsenals, other European countries could build nuclear weapons of their own. If these states accumulated arsenals comparable in size to those of France and the United Kingdom, Europe’s collective capabilities would extend beyond deterrence by punishment. Rather than merely threatening retaliation in the wake of an attack, European states would be able to engage in “deterrence by denial”—that is, to make it difficult or even impossible for an adversary to carry out a devastating strike in the first place.
Several major European powers, chief among them Germany and Poland, could theoretically acquire the technological capabilities and allocate the financial resources necessary to amass enough enriched uranium and ultimately develop nuclear weapons. But doing so would still take time—certainly enough time for a potential nuclear-armed aggressor such as Russia to carry out a preemptive conventional strike on enrichment sites and other development facilities. Before Russia’s full-scale invasion of Ukraine, such a strike would have been unthinkable. Nowadays, hardly anything can be excluded.
To mitigate that risk, France and the United Kingdom could “lend out” some of their nuclear weapons on a temporary basis. The incentive for Paris and London to go along with this plan and support the nuclear ambitions of their allies would be to achieve strength in numbers: even without joint control, multiple European nuclear powers could establish a greater level of deterrence than France and the United Kingdom can establish for themselves today. The United States, for its part, would at long last be relieved of the burden of protecting Europe, freeing resources for alternative uses. But if the benefits are of historic proportions, so, too, are the potential costs—especially the raised risk of provoking a conflict with Russia.
Turkish and Spanish soldiers during NATO training in Barbate, Spain, March 2025Turkish and Spanish soldiers during NATO training in Barbate, Spain, March 2025Jon Nazca / Reuters
In practice, there is no obvious contender for the position of Europe’s third nuclear power. So far, only Poland seems to be weighing the option in earnest. “Poland must pursue the most advanced capabilities, including nuclear and modern unconventional weapons,” Tusk, the country’s prime minister, told Polish parliamentarians in March. “This is a serious race—a race for security, not for war.”
The debate in Germany, meanwhile, is complicated by historical, political, cultural, and strategic considerations. Despite decades of reconciliation, integration, and democratic stability, the first half of the twentieth century—and Germany’s role in it—still weighs heavily on European minds. A nuclear-armed Germany would entail a significant rebalancing of power in Europe and trigger deep concern in neighboring capitals. That is to say nothing of German society’s own wariness. Its pacifist and antinuclear leanings run deep, as do its aversion to risk and its reservations about taking on international military responsibilities. Even the civilian use of nuclear energy has been phased out, with the last reactors shut down in April 2023. These societal and political instincts are hardly compatible with the role of a nuclear power.
The legal constraints on Germany are significant, too. As a party to the Nuclear Nonproliferation Treaty, the country has renounced the production and possession of nuclear weapons. The same commitment is enshrined in Article 3(1) of the Two Plus Four Treaty, the 1990 agreement that provided the legal foundation for the post–Cold War reunification of East and West Germany. The Two Plus Four Treaty, in particular, is a daunting legal obstacle, as a violation of one of its central elements could put the validity of the whole document into question. That, in turn, would cause major concerns among its signatories and among Germany’s immediate neighbors.
To be sure, recent events have already undercut the treaty’s political basis. Russia’s full-scale invasion of Ukraine and the possibility of a U.S. withdrawal from Europe each threaten the very achievement that the accord was meant to secure, namely the full sovereignty of a reunified Germany. These unsettling changes could be reason enough for a joint decision by Germany, the United Kingdom, and the United States to override Article 3(1). Nevertheless, any move by Germany toward the acquisition of nuclear weapons would be imaginable only in close consultation and concert with other European states, first and foremost Poland, where a nuclear-armed Germany would cause the most apprehension.
ALL OF THE ABOVE
For the time being, none of the three options easily pass the credibility test. A French and British nuclear umbrella would lack the necessary capabilities, and its beneficiaries would likely doubt its reliability in times of crisis. A pan-European nuclear deterrent appears even less feasible. It would transfer an existential political decision to an entity with only indirect democratic legitimacy. Doing so would amount to a serious challenge to European democratic norms at a time when they are already under assault by illiberal forces.
Nuclear proliferation in Europe might provide effective and credible deterrence. But it would carry legal and political risks that, for the time being, are too great for European leaders to countenance. It could also set off a wave of nuclear proliferation outside Europe, including in states that Western governments consider hostile.
Then again, even if Europe stays put, there is no knowing if nonproliferation will hold in other parts of the world. If anything, current trends suggest that the first place it will buckle is East Asia. If the Trump administration continues to create a sense of uncertainty about the U.S. security guarantee to South Korea, for example, leaders in Seoul could reach a breaking point. As things stand, South Korea faces three politically hostile nuclear powers—North Korea, China, and Russia—in its immediate neighborhood. South Korean defense strategists have pointed out that this situation would become untenable if their country’s only nuclear ally, the United States, were to withdraw. A nuclear-armed South Korea would, in turn, encourage Japan to pursue the same course.
Nuclear proliferation in East Asia would also alter the terms of the debate in Europe, where it might be viewed as a shift more real and definitive than Trump’s threats alone. It is a sobering scenario: European leaders, faced with nothing but bad options, may prove incapable of breaking their nuclear impasse unless someone else takes the plunge first. Europe’s safest bet, until then, is to at least prepare for all contingencies
FLORENCE GAUB is Director of the Research Division at the NATO Defense College. The views expressed here are her own.
STEFAN MAIR is Director of the German Institute for International and Security Affairs.

Nhận xét
Đăng nhận xét