3714 - Khi nói đến việc bảo vệ Ukraine, Hoa Kỳ không thể đứng ngoài cuộc.
Ngăn chặn một cuộc chiến là chưa đủ; sau đó nó phải được kết thúc.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất nhưng ít được phát triển nhất của một thỏa thuận tiềm năng nhằm chấm dứt cuộc xâm lược Ukraine của Tổng thống Nga Vladimir Putin là sự đảm bảo an ninh mà Kiev sẽ cần để ngăn chặn một cuộc tấn công khác từ Moscow. Điều đó sẽ đòi hỏi một lực lượng răn đe với sự hiện diện đáng kể ở Ukraine, bao gồm cả lực lượng từ Hoa Kỳ. Việc ngăn chặn sự xâm lược quân sự trong tương lai của Nga là một nhiệm vụ khả thi nhưng vẫn đầy thách thức và nghiêm trọng đối với cộng đồng xuyên Đại Tây Dương - một nhiệm vụ đang được các quan chức xuyên Đại Tây Dương thảo luận liên tục sau hội nghị thượng đỉnh gần đây của các nhà lãnh đạo Nhà Trắng.
Trước khi đi sâu vào chi tiết về việc một lực lượng răn đe do Hoa Kỳ hậu thuẫn nên như thế nào, cần xem xét bốn khó khăn nổi bật nhất mà một lực lượng răn đe cần phải giải quyết.
1 - Một đối thủ quyết tâm
Một lực lượng răn đe phải đối phó với một đối thủ là Nga, ngay cả sau khi ký kết một thỏa thuận hòa bình, vẫn sẽ quyết tâm mua chuộc Ukraine và làm suy yếu, nếu không muốn nói là xóa bỏ, NATO. Sẽ thật ngây thơ nếu cho rằng Putin sẽ gác lại những mục tiêu đó. Ông ta đã nhiều lần vi phạm các thỏa thuận quốc tế trước đây, bao gồm cả thỏa thuận Minsk được ký kết với mục tiêu chấm dứt chiến tranh mà Putin lần đầu tiên phát động chống lại Ukraine vào năm 2014. Ông ta sẽ không ngần ngại bỏ qua một hiệp định đình chiến khác và tấn công Ukraine một lần nữa nếu kết luận rằng đã có cơ hội để thúc đẩy tham vọng bá quyền của mình.
2 - Một lực lượng hùng hậu của Nga
Lực lượng răn đe phương Tây và quân đội Ukraine sẽ được giao nhiệm vụ ngăn chặn một cuộc tấn công từ một đối thủ đáng gờm của Nga. Nền kinh tế Nga (2,1 nghìn tỷ đô la vào năm 2024) gấp mười lần Ukraine (190 tỷ đô la), dân số (143 triệu người) lớn hơn gần bốn lần, và nhà lãnh đạo của nước này sẵn sàng hy sinh thêm hàng trăm nghìn người Nga để đạt được mục tiêu chiến tranh của mình. Khoảng 600.000 đến 700.000 quân Nga đang chiếm đóng lãnh thổ Ukraine. Họ đang được tăng cường thêm quân số và một nền kinh tế chiến tranh đang gia tăng sản xuất mọi thứ, từ đạn dược và xe tăng đến máy bay không người lái và tên lửa siêu thanh. Và Nga hiện đang chiếm ưu thế khi đang nghiền nát lực lượng vũ trang của Ukraine, phá hủy cơ sở hạ tầng quốc gia và dần dần chiếm thêm lãnh thổ Ukraine.
3 - Địa lý khó khăn
Quy mô địa lý quyết định cuộc xung đột này đặt ra thách thức thứ ba. Lực lượng răn đe sẽ cần giúp Ukraine bảo vệ biên giới quân sự, bao gồm gần như toàn bộ chiều dài đường biên giới dài 1.000 km của Ukraine với đồng minh thân cận nhất của Nga, Belarus. Lực lượng này cũng phải giúp Ukraine bảo vệ tuyến đối đầu nội bộ dài 1.200 km, trải dài qua các khu vực Kharkiv, Luhansk, Donetsk và Kherson. Trên hết, Ukraine và các đối tác sẽ cần phải răn đe và phòng thủ trước các cuộc tấn công từ Biển Đen và thông qua các cuộc tấn công tầm xa bằng đường không, máy bay không người lái và tên lửa.
4 - Cần có sự quyết tâm xuyên Đại Tây Dương
Sự răn đe chỉ hiệu quả nếu đối phương tin rằng họ có năng lực, ý định và quyết tâm cần thiết - nói cách khác, là ý chí chiến đấu. Khi Putin xem xét mối tương quan giữa các lực lượng trước mặt mình ở Ukraine, không gì định hình nhận thức của ông hơn là thế trận của Hoa Kỳ.
Putin biết rằng Washington và các đồng minh có thừa khả năng đảo ngược những thành quả của ông ở Ukraine, nhưng gần như chắc chắn rằng ông nghi ngờ Hoa Kỳ có đủ ý chí để làm như vậy. Ba chính quyền Hoa Kỳ trong mười một năm qua - kể từ khi Nga phát động chiến tranh chống lại Ukraine vào năm 2014 - đã nhiều lần khẳng định rằng sẽ "không có bộ binh Hoa Kỳ trên bộ" để bảo vệ Ukraine. Các chính quyền Obama, Biden và Trump đầu tiên đều khẳng định rằng sự can thiệp như vậy không đáng để mạo hiểm một cuộc xung đột hạt nhân. Đây là một trong những lý do chính khiến Washington chậm trễ trong việc vận chuyển xe tăng và máy bay đến Kyiv và hạn chế phạm vi khả năng tấn công tầm xa mà họ gửi đến Ukraine.
Hơn nữa, chính quyền Trump thứ hai đã nhiều lần phát tín hiệu rằng Hoa Kỳ không có lợi ích sống còn nào bị đe dọa trong cuộc chiến này. Theo quan điểm của họ, cuộc chiến này là mối quan tâm của châu Âu, không phải của Hoa Kỳ. Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói về cuộc xâm lược Ukraine của Nga rằng "đây không phải là cuộc chiến của tôi", phần lớn giới hạn mối quan tâm của ông trong cuộc xung đột này ở mục tiêu nhân đạo là "ngăn chặn việc giết hại" người Nga và người Ukraine. Và trong ba tháng qua, Trump đã hai lần từ chối lời đe dọa áp đặt các lệnh trừng phạt kinh tế "khổng lồ" lên Nga vì nước này từ chối ngừng bắn - những lệnh trừng phạt tất nhiên có nguy cơ gây ra phản ứng dữ dội đối với nền kinh tế Mỹ.
Lực lượng răn đe ở Ukraine cần những gì?
Trong những điều kiện này, một lực lượng răn đe sẽ cần phải mạnh mẽ, với các thành phần quan trọng được triển khai tại Ukraine. Kết hợp với lực lượng của Ukraine, lực lượng này sẽ cần thể hiện năng lực tấn công cần thiết để gây nguy hiểm cho những lợi ích lãnh thổ phi pháp mà Putin đã đạt được trong cuộc chiến này. Điều đó sẽ đòi hỏi không chỉ hệ thống phòng không và tên lửa, mà còn cả hỏa lực cần thiết để chọc thủng phòng tuyến của Nga và cho phép Ukraine giành lại lãnh thổ đã mất nếu Nga tái diễn các hành động thù địch. Nói một cách đơn giản, Putin sẽ chỉ bị răn đe nếu ông tin rằng hành động gây hấn tiếp theo sẽ gây nguy hiểm cho những lợi ích của mình.
Lực lượng răn đe phải bao gồm sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Ukraine—mặc dù điều này không nhất thiết có nghĩa là "lực lượng bộ binh ở tiền tuyến". Sự hiện diện của người Mỹ là cách duy nhất để thuyết phục Putin rằng các quốc gia tạo nên lực lượng răn đe sẽ phản ứng mạnh mẽ và dứt khoát nếu ông vi phạm lệnh ngừng bắn. Châu Âu phải cung cấp phần lớn lực lượng mặt đất và có lẽ là tất cả những lực lượng được triển khai ở tiền tuyến. Nhưng sự đóng góp của Hoa Kỳ, tối thiểu, nên bao gồm phòng không trong nước, hỏa lực tầm xa, lực lượng đặc nhiệm, năng lực chỉ huy và kiểm soát, và tình báo. Hoa Kỳ cũng nên triển khai lực lượng không quân, với nhiệm vụ bao gồm hỗ trợ không quân tầm gần, để tấn công lực lượng Nga nếu cần thiết.
Sự kết hợp giữa năng lực tấn công tổng hợp của Hoa Kỳ và sự hiện diện trong nước là rất cần thiết. Nếu không có năng lực này, Nga sẽ bị cám dỗ tìm cách phá vỡ sự thống nhất xuyên Đại Tây Dương và quyết tâm tấn công các phần tử châu Âu. Một cuộc tấn công như vậy sẽ thử thách ý chí của Hoa Kỳ trong việc hỗ trợ các đồng minh và đối tác châu Âu. Nếu không có sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Ukraine, các lực lượng châu Âu sẽ trở thành nam châm tên lửa trong cuộc chiến của Điện Kremlin chống lại Ukraine và cuộc tấn công vào sự thống nhất của NATO, bởi Putin có thể kết luận rằng Hoa Kỳ sẽ một lần nữa không thực hiện được các mối đe dọa đối với Moscow. Không gì làm Putin hài lòng hơn việc liên minh xuyên Đại Tây Dương bị phá vỡ, điều này sẽ khiến toàn bộ Trung và Đông Âu dễ bị tổn thương trước tham vọng bá quyền của ông ta.
Để ngăn chặn hiệu quả các cuộc tấn công tiếp theo của Nga vào Ukraine, các đồng minh và đối tác của Kiev cũng phải cung cấp trang thiết bị và huấn luyện cho lực lượng vũ trang Ukraine, hỗ trợ tái thiết và phục hồi kinh tế của Ukraine, và từ chối công nhận chủ quyền của Nga đối với lãnh thổ Ukraine bị chiếm đóng bất hợp pháp. Sự công nhận như vậy sẽ chỉ khuyến khích sự xâm lược và khuyến khích sự trở lại của nó.
Trong bối cảnh Putin tiếp tục trì hoãn lệnh ngừng bắn, rõ ràng là muốn kéo dài nỗ lực giết hại thêm người Ukraine, phá hủy thêm cơ sở hạ tầng và chiếm thêm lãnh thổ, thì giờ là lúc áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế thực sự nghiêm khắc đối với Nga. Điều này không chỉ gia tăng áp lực buộc Điện Kremlin phải chấp nhận lệnh ngừng bắn, vốn đã quá hạn từ lâu, mà còn giúp chứng minh rằng Hoa Kỳ quyết tâm chống lại sự xâm lược của Nga. Các biện pháp kinh tế như vậy cũng sẽ củng cố thêm uy tín cần thiết cho thế trận răn đe xuyên Đại Tây Dương tại Ukraine.
Ngăn chặn sự xâm lược của Nga là một nhiệm vụ đầy thách thức đối với cộng đồng xuyên Đại Tây Dương, nhưng là một nhiệm vụ có thể hoàn thành một cách chắc chắn. Các thành viên NATO có tổng sản phẩm quốc nội (GDP) gấp hơn 25 lần Nga. Liên minh này chi tiêu quốc phòng gấp gần 10 lần, và NATO đang trên đà nới rộng khoảng cách đó khi ngày càng nhiều đồng minh thực hiện cam kết tăng ngân sách quốc phòng lên 5% GDP. NATO không thiếu nguồn lực và sức mạnh quân sự. Điều còn thiếu là ý chí chính trị và lòng dũng cảm để tận dụng sự áp đảo về quyền lực này nhằm ngăn chặn sự xâm lược của Nga đối với Ukraine.
Ian Brzezinski là thành viên cao cấp thường trú tại Trung tâm Chiến lược và An ninh Scowcroft và là cựu Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ phụ trách chính sách châu Âu và NATO.
***
When it comes to securing Ukraine, the US cannot stay on the sidelines
It’s not enough to stop a war; it must then stay finished.
Among the most critical but least developed elements of a potential arrangement to end Russian President Vladimir Putin’s invasion of Ukraine is the security guarantee that Kyiv will need to deter another attack from Moscow. That will require a deterrent force with substantial presence in Ukraine, including forces from the United States. Deterring future Russian military aggression is an achievable but nonetheless challenging and grave undertaking for the transatlantic community—one that is the subject of ongoing discussions among transatlantic officials following the recent White House leaders’ summit.
Before digging into the specifics of what a US-backed deterrent should look like, it’s worth exploring the four most prominent difficulties a deterrent force will need to address.
- A determined adversary. A deterrent force must address a Russian adversary that, even after signing a peace agreement, will remain determined to suborn Ukraine and to weaken, if not eliminate, NATO. It would be naïve to assume that Putin will ever shelve those objectives. He has repeatedly violated international agreements before, including the Minsk agreements signed with the aim of ending the war Putin first launched against Ukraine in 2014. He will not hesitate to disregard another armistice and attack Ukraine again if he concludes that an opportunity has emerged to advance his hegemonic ambitions.
- A massive Russian force. The Western deterrent force and Ukrainian troops will be tasked with staving off an attack from a substantial Russian adversary. Russia’s economy ($2.1 trillion in 2024) is ten times the size of Ukraine’s ($190 billion), its population (143 million) is nearly four times larger, and its leader is willing to sacrifice hundreds of thousands more Russians to achieve his war aims. Some 600,000 to 700,000 Russian troops are occupying Ukrainian territory. They are being reinforced with additional personnel and by a war economy that is increasing the production of everything from ammunition and tanks to drones and hypersonic missiles. And Russia currently has the upper hand as it grinds down Ukraine’s armed forces, destroys its national infrastructure, and slowly but steadily seizes more Ukrainian territory.
- Difficult geography. The magnitude of the geography defining this conflict presents a third challenge. The deterrent force will need to help Ukraine defend a military frontier that includes nearly the entire length of Ukraine’s one-thousand-kilometer-long border with Russia’s closest ally, Belarus. This force must also help Ukraine defend an internal line of confrontation spanning 1,200 kilometers, stretching across the regions of Kharkiv, Luhansk, Donetsk, and Kherson. On top of this, Ukraine and its partners will need to deter and defend against attacks from the Black Sea and via long-range air, drone, and missile strikes.
- The need for transatlantic determination. Deterrence only works if an adversary believes one has the necessary capability, intent, and determination—in other words, the will to fight. When Putin considers the correlation of forces before him in Ukraine, nothing shapes his perception more than the posture of the United States.
Putin knows that Washington and its allies have more than enough capacity to reverse his gains in Ukraine, but it is nearly certain that he doubts the United States has the will to do so. Three US administrations over the past eleven years—from when Russia launched it war against Ukraine in 2014—have repeatedly asserted that there would be “no US boots on the ground” to defend Ukraine. The Obama, Biden, and first Trump administrations all asserted that such intervention was not worth risking a nuclear conflict. This was among the key reasons that Washington slow-rolled shipments of tanks and aircraft to Kyiv and limited the ranges of long-range strike capabilities it sent to Ukraine.
Moreover, the second Trump administration has repeatedly signaled that the United States has no vital interests at stake in this war. In its view, this war is a European concern, not a US one. US President Donald Trump has said of Russia’s invasion of Ukraine that “this is not my war,” largely limiting his interest in the conflict to the humanitarian goal of “stopping the killing” of Russians and Ukrainians. And twice in the past three months, Trump has balked on his threats to impose “massive” economic sanctions on Russia for refusing to initiate a cease-fire—sanctions that would, of course, risk triggering blowback on the US economy.
What a deterrent force in Ukraine will need
Under these conditions, a deterrent force will need to be robust, with significant elements deployed in Ukraine. Combined with Ukraine’s forces, it will need to present the necessary offensive capacity to jeopardize the illegitimate territorial gains that Putin has achieved in this war. That will require not just air and missile defenses, but also the firepower necessary to punch a hole through Russian lines and enable Ukraine to retake lost territory if Russia were to renew hostilities. Simply put, Putin will only be deterred if he believes that further aggression will jeopardize his gains.
The deterrent force must include a US military presence in Ukraine—though this doesn’t necessarily have to mean “boots on the front lines.” The presence of Americans is the only way to convince Putin that the nations comprising the deterrent force will respond forcefully and decisively if he violates an armistice. Europe must provide the bulk of the ground forces and perhaps all of those that are most forward deployed. But the US contribution should, at a minimum, include in-country air defense, long-range fires, special forces, command-and-control capabilities, and intelligence. The United States should also commit air forces whose missions would include close air support to strike Russian forces if necessary.
That combination of an integrated US strike capability and in-country presence is essential. Without it, Russia will be tempted to try to break transatlantic unity and resolve by striking European elements. Such an attack would test the United States’ will to back up its European allies and partners. Without a US presence in Ukraine, European forces will be missile magnets in the Kremlin’s war against Ukraine and its attack on NATO unity, as Putin could conclude that the United States will once again fail to deliver on its threats against Moscow. Nothing would be more pleasing for Putin than a shattering of the transatlantic alliance, which would leave all of Central and Eastern Europe vulnerable to his hegemonic ambitions.
To effectively deter further Russian attacks on Ukraine, Kyiv’s allies and partners must also provide equipment and training to Ukraine’s armed forces, assist Ukraine’s economic reconstruction and recovery, and refuse to recognize Russian sovereignty over illegally seized Ukrainian territory. Such recognition would only reward aggression and encourage its return.
As Putin continues to balk on a cease-fire, clearly intending to prolong his efforts to kill more Ukrainians, destroy more Ukrainian infrastructure, and seize more territory, now is the time to impose truly punishing economic sanctions on Russia. That will not only provide a long-overdue increase in pressure on the Kremlin to accept a cease-fire, but it will also help demonstrate that the United States has the determination to oppose Russia’s aggression. Such economic measures will also add needed credibility to the transatlantic deterrent posture in Ukraine.
Deterring Russian aggression is a challenging mission for the transatlantic community, but one that can be decisively accomplished. NATO members have a combined gross domestic product (GDP) more that twenty-five times that of Russia. The Alliance outspends Russia on defense by a factor of nearly ten, and NATO is on track to widen that gap as more allies fulfill their pledge to increase their defense budgets to 5 percent of GDP. NATO does not lack for resources and military might. What has been lacking is the political will and courage to leverage this overmatch in power to stop Russia’s aggression against Ukraine.
Ian Brzezinski is a resident senior fellow with the Scowcroft Center for Strategy and Security and former US deputy secretary of defense for Europe and NATO policy.

Nhận xét
Đăng nhận xét