5102 - Chín vào trong đất

Tác giả Nguyễn Ngọc Tư.


Vẫn còn dáng vóc của những bờ rào, dù không rõ chúng ở đó để ngăn cản sự xâm nhập từ bên ngoài hay đừng để hoang phế trong vườn đổ tháo ra làng xóm. Bệ rạc han gỉ, với chì gai chùng nhão, đến con chó nhảy qua cũng đứt bung, cổng sệ cánh vẫn không buông bỏ sợi lòi tói sắt. Bìm bìm, tơ hồng, cỏ dại phụ họa vào, dày và cao và bện chặt, cả vào mùa hạn gắt nhất. Đắp dày thêm rào là lời đồn thổi rằng trong vườn đầy rắn độc, những ổ ong vò vẽ no nọc, ao đìa toàn ma da, khu mộ lút trong lùm bụi đêm đêm bao bóng vờn tóc xõa.

Nhưng rào có bao nhiêu lớp thì cũng không thể nào ngăn nổi mùi trái chín trong những khu vườn hoang tan chảy vào không khí. Mùi của sự nẫu trên cây, rục tận cuống, rệu tận lõi. Cả thứ bình bát bình thường khiêm nhường mọc bờ ao, trái cũng bừng tỏa hương trước khi thả mình vào mặt nước. Cả trái nhãn lồng cũng thơm nức nở không chút dè chừng sự háu ăn của chim đêm. Mùi mít là hung bạo nhất, những trái gần gốc đánh hơi được hơi đất, hột đã vội tua tủa rễ trong khi vẫn còn xớ múi bọc bên ngoài. Như thể phận trái vườn hoang, chúng vừa chín vừa chuẩn bị cho việc rời cành, tự mình nảy mầm, tự mình tan chảy, cho đến một ngày không còn phân biệt được đâu là trái đâu là đất. Đến lúc ấy cả tụi ruồi giấm, kiến cũng khó mà biết sự lên men kia thuộc về đâu, chúng cứ xây xẩm đảo khắp vườn.

Những ngày tháng sau chiến tranh, người tản cư lục tục trở về, nhưng xóm vẫn còn nhiều mảnh vườn vô chủ. Nghe như những tiếng thở dài giữa bao hân hoan. Mấy bà già cứ chép miệng nói không biết sao người vẫn chưa về, đất đai bỏ mê mê thấy mà xót. Ngang qua có cảm giác trĩu xuống, không hiểu vì lùm bụi um tùm quá, hay vì rào dâm bụt rối bời, tiếng chim đập cánh thảng thốt, mùi hoang phế cứ gai gai trong cổ họng, hay bởi sức nặng của sự chín rục trong vườn.

Bất kể đất có chủ không, chủ ở phía nào trong cuộc chiến vừa mới nguội, cây vẫn ra trái và cỏ dại vẫn dệt đan miên mải. Nhưng chúng vẫn chừa ra vài khoảng trống: chỗ mớ đá chẻ lót trên đất trải dọc ngang quanh nền nhà cũ, dẫn ra cầu ao, liếp dừa, dưới những cây ăn trái lớn tàng. Bóng của cây đậm đặc tới mức mặt đất ấy không thứ gì mọc nổi. Không có tay người chăm sóc, cây bồi đắp bằng chính mình. Vun vào mình bằng lá và trái của mình, vòng tuần hoàn ấy, cùng với sự tận hiến của nắng mưa, mà trái trĩu.

Mùi trái chín mời gọi chim trời, tụi côn trùng có cánh hoặc không. Kiến và trẻ con không có chút cánh nào, nhưng bao nhiêu lớp rào cũng không sao ngăn nổi tụi nó. Khi ngồi vắt vẻo trên nhánh xoài, cắn ngập răng vào một trái chín cây vẫn còn treo trên cuống, tụi nhỏ nhớ ra nhà mình cũng có xoài, cùng giống loại cùng hương vị. Mùi xoài chín ở nhà thậm chí còn nồng đặc hơn, vì được dú dưới gầm giường, trong bồ lúa, trước khi má đem ra chợ bán. Nhưng trái vườn hoang vẫn ngon hơn một bậc, khi tụi nhỏ ăn chúng lúc chín đẫm trên cành, chưa lìa cuống, cộng vào sự khoái cảm của hành động vượt rào đi vào lãnh địa hoang vu, nơi mà phải xảy ra vài cuộc chiến nho nhỏ tụi nó mới giành lấy được. Những câu chuyện rùng rợn sớm được mấy đứa táo tợn giải trừ, rắn vườn hoang cũng giống rắn nhà mình, đâu mà bự bằng cả cột đình, ong vò vẽ nào cũng sợ khói hun, và những cái ao nhìn có vẻ lênh láng nước thì cạn đến nỗi nếu có ma da chắc cũng lội phơi lưng. Lá mục rụng vào ao bồi thành lớp trầm tích dày lên dưới đáy theo tháng ngày, kiểu gì mà không cạn.

Nhưng thứ khiến tụi nhỏ không còn cảm giác rợn gáy vì tiếng quạ, tiếng sột soạt trong cỏ, bóng của những tàu lá chuối lay, chính là từ những dấu vết người lớn để lại. Chúng hãy còn ấm, mới. Những cần câu, những tay lưới, giỏ đựng cá, hoặc bị bàng đứt quai. Chai rượu gạo cạn gần đến đáy. Gói thuốc gò trong hốc cây. Cái võng may bằng lưới chài vắt trên tàu lá. Nhìn mớ vật chất đó đoán được chủ nhân: mấy gia đình dạt xứ tới đây, không đất cắm dùi, ở đậu tạm bợ ở bến sông, bờ lá. Ban ngày họ làm hồ, đào đất, sên đìa, cấy mướn, đêm lang thang trong xóm kiếm thức ăn. Và những khu vườn hoang thì thơm thảo chia sẻ hết những gì nó có. Tàng lá khuất che những mặc cảm của phận người.

Ông từ câm sống ở đình Tây Thạnh thì không hái lượm gì, chỉ vô vườn ngủ, khi say. Nay vườn này mai vườn khác. Sự hiện diện của ông trong mấy cái vườn hoang cũng gây nhiều đồn đoán như chuyện ông từ đâu tới, sao lại chui vào đình nhang khói sớm hôm, sao ông chẳng làm gì mà vẫn có tiền mua rượu. Chỉ đám con nít thì chẳng quan tâm mấy những thêu dệt ấy, nhưng đôi khi ngồi cạnh ông nghe u ơ nói mớ, tụi nó tự hỏi trong mơ thì vía ông có nói thành lời. Tấm thân gầy còm của ông lúc nào cũng bốc mùi trái lên men, có phải ông đang chín rục?

Vậy là niềm vui của những trưa trốn ngủ được cộng thêm vào một con người trông thì có vẻ phơi ra, cả giẻ xương sườn và d*i, nhưng lại bọc trong một lớp vỏ kín bưng. Chiều nào phải bỏ ông già xỉn mèm lại khu vườn bắt đầu ngập đầy bóng tối, tụi nhỏ cũng lo. Linh cảm như ông già sẽ hoại rã ở đó, trong đêm. Và ngày mai khi chúng quay lại, ông già biến mất không tăm tích. Chỉ thấy một đám ruồi giấm lúc sà lúc đậu vào đất, lũ kiến vàng thì nghiêm trang viền nên một hình người.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?