3352 - Đối với chế độ Iran, thà chịu đòn còn hơn là đầu hàng

Tanya Goudsouzian and Ibrahim al-Marashi

                                                            Ảnh: khamenei.ir qua Wikimedia Commons

Có vẻ như người ta thường cho rằng áp lực không ngừng sẽ buộc các nhà lãnh đạo độc tài phải nhượng bộ, nhưng thực tế thường ngược lại. Khi sự sống còn bị đe dọa, lùi bước có thể nguy hiểm hơn là đứng vững. Logic trái ngược này đã lặp đi lặp lại ở vùng Vịnh Ba Tư. Tổng thống Iraq Saddam Hussein đã từ chối rời Kuwait năm 1991 để tránh bị sỉ nhục, đào tẩu và nguy cơ đảo chính. Ngày nay, Lãnh đạo tối cao của Iran, Ayatollah Ali Khamenei, đang đối mặt với một cái bẫy tương tự, vì việc nhượng bộ trước áp lực của Mỹ có thể làm suy yếu quyền lực của ông trong nước. Lịch sử cho thấy rằng áp lực cực đoan có thể làm tăng thêm sự thách thức và việc chịu đòn có thể an toàn hơn về mặt chính trị so với việc đầu hàng.

Trong bài phát biểu Thông điệp Liên bang ngày 24 tháng 2, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã khoe khoang rằng Chiến dịch Midnight Hammer tháng 6 năm 2025 đã “xóa sổ” chương trình hạt nhân của Iran. Tuy nhiên, chỉ cuối tuần trước đó, Steve Witkoff – đặc phái viên của ông tại Trung Đông – đã vô tình tiết lộ trên Fox News rằng chương trình này chưa bị phá hủy hoàn toàn, và bày tỏ sự thất vọng khi đặt câu hỏi tại sao các nhà lãnh đạo Iran “chưa đầu hàng… với sức mạnh hải quân hùng hậu như vậy” và tại sao họ không tuyên bố đơn giản rằng họ không tìm kiếm vũ khí hạt nhân. Các vị tiền nhiệm của Trump, các Tổng thống George H.W. và George W. Bush, cũng đã đặt câu hỏi tương tự. Saddam có thể nắm giữ câu trả lời.

Năm 1991 và 2003, lực lượng quân sự khổng lồ của Mỹ đã được triển khai ở Vịnh Ba Tư để buộc Saddam từ bỏ kho vũ khí hủy diệt hàng loạt bị cáo buộc của mình và, trong trường hợp trước đó, rút ​​quân khỏi Kuwait. Tuy nhiên, Saddam vẫn ở lại Kuwait sau khi thời hạn của Liên Hợp Quốc trôi qua vào ngày 15 tháng 1 năm 1991, bất chấp việc phải đối mặt với liên minh hơn 40 quốc gia do Mỹ dẫn đầu với lực lượng vượt trội hơn hẳn. Việc rút lui theo tối hậu thư sẽ báo hiệu sự yếu kém trong nước và có nguy cơ dẫn đến một cuộc đảo chính từ vòng thân cận của ông ta.

Iran ngày nay cũng đối mặt với tình thế khó xử tương tự. Nếu Khamenei bị coi là nhượng bộ, điều đó có thể làm suy yếu quyền lực của ông ta không chỉ trong số những người biểu tình trên đường phố mà còn cả trong Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran. Như một tiêu đề của tờ New York Times ngày 23 tháng 2 đã lưu ý, “Đối với những người cầm quyền ở Iran, từ chối yêu cầu của Mỹ là một rủi ro đáng để chấp nhận”, với giới lãnh đạo giáo sĩ coi việc nhượng bộ là mối đe dọa lớn hơn đối với sự tồn vong của chế độ so với viễn cảnh chiến tranh. Trong cả hai trường hợp, logic sinh tồn khiến việc trừng phạt an toàn hơn về mặt chính trị so với việc đầu hàng. Saddam đã chọn chiến đấu thay vì rút lui, hy vọng gây thương vong cho Mỹ, kéo dài xung đột và làm tăng chi phí chính trị cho Washington.

Các tài liệu bị thu giữ từ Iraq cho thấy rằng trước Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, Saddam đã thừa nhận rằng quân đội Iraq không thể chống lại sức mạnh quân sự vượt trội của liên minh do Mỹ dẫn đầu, đặc biệt là các máy bay chiến đấu tàng hình và tàu sân bay. Giới tinh hoa chính trị ở Iran chắc chắn cũng đã nhận ra điều tương tự sau khi phải hứng chịu những đòn tấn công quân sự của Mỹ trong Chiến tranh 12 ngày tháng 6 năm 2025.

Trở lại năm 1991, Saddam tính toán rằng thà chiến đấu, dù có khả năng gây thương vong cho lực lượng Mỹ, còn hơn là rút lui trước sự đe dọa của Mỹ. Chiến lược cuối cùng của ông ta dựa trên sự mệt mỏi chiến tranh. Bằng cách tăng tổn thất về sinh mạng người Mỹ, dư luận có thể quay lưng lại với cuộc xung đột, như đã từng xảy ra nhiều thập kỷ trước ở Việt Nam.

Tương tự như vậy, Iran có thể thấy việc chịu đựng thêm một vòng tấn công nữa là tốt hơn là khuất phục trước các yêu cầu của Trump. Mặc dù các mối đe dọa của Mỹ ngày nay có quy mô và phạm vi lớn hơn, chúng cũng tiềm ẩn khả năng Iran gây thương vong, trong khi việc kéo dài xung đột sẽ đẩy giá dầu lên cao và làm phức tạp thêm vị thế chính trị của Trump trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.

Việc kéo dài xung đột có thể mang lại lợi thế về chiến thuật hoặc biểu tượng, nhưng nó cũng cho thấy ngay cả những nỗ lực ngoại giao vào phút chót cũng bị ràng buộc bởi cùng một logic sinh tồn khiến việc nhượng bộ trở nên nguy hiểm về mặt chính trị. Vào tháng 1 năm 1991, các cuộc đàm phán tại Geneva giữa Phó Thủ tướng Iraq Tariq Aziz và Ngoại trưởng Mỹ James Baker đã tìm cách ngăn chặn chiến tranh, nhưng Hoa Kỳ đã từ chối đưa ra bất kỳ nhượng bộ nào — bao gồm cả việc dỡ bỏ các lệnh trừng phạt — có thể cho phép Saddam giữ thể diện.

Ngày nay, những động lực tương tự đang diễn ra giữa Mỹ và Iran, với các cuộc đàm phán tại cùng thành phố đó không mang lại sự giảm nhẹ thực sự nào đối với các lệnh trừng phạt hiện có đã gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế Iran. Cũng giống như việc cả hai bên đều không thể nhượng bộ vào năm 1991 mà không gây nguy cơ sụp đổ trong nước hoặc về chiến lược, dường như vào năm 2026, cả Tehran hay Washington đều khó có thể chủ động gây áp lực, điều này càng củng cố thêm lý do tại sao việc chịu đựng áp lực có thể an toàn hơn về mặt chính trị so với việc nhượng bộ.

Lịch sử nên là lời cảnh tỉnh cho Washington. Sau Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, Saddam tuyên bố "chiến thắng vẻ vang" bất chấp thất bại quân sự. Ông ta đã sống sót, trong khi Bush phải đối mặt với suy thoái kinh tế trong nước, không thể tái đắc cử trước Bill Clinton, người đã giành chiến thắng vang dội với câu nói, "Chính là vấn đề kinh tế, đồ ngốc ạ." Ngay cả khi lực lượng vũ trang Iraq bị tàn phá, Saddam vẫn coi thất bại quân sự này là thành công bởi vì một liên minh hơn 40 quốc gia không thể lật đổ ông ta.

Một lần nữa, Khamenei phải đối mặt với một tình huống tương tự. Mức độ thiệt hại đối với chương trình quân sự hoặc hạt nhân của Iran ít quan trọng hơn về mặt chính trị so với chính sự sống còn. Các lệnh trừng phạt của Mỹ gây áp lực lên nền kinh tế, nhưng cũng như ở Iraq, giới tinh hoa có thể quản lý hoặc thậm chí hưởng lợi, trong khi người dân phải gánh chịu chi phí. Trong khi Cộng hòa Hồi giáo đang phải đối mặt với một phong trào biểu tình trên toàn quốc kết hợp với mối đe dọa tấn công quân sự, Saddam đã chịu đựng sáu tuần không kích, một cuộc xâm lược trên bộ, và sau đó là một cuộc nổi dậy lan rộng khắp 15 trong số 18 tỉnh của Iraq năm 1991 và vẫn thắng thế. Sức mạnh quân sự đơn thuần không đảm bảo thay đổi chế độ. Các cuộc can thiệp vào vùng Vịnh Ba Tư, dù là năm 1991 hay hiện nay, đều tiềm ẩn nguy cơ xung đột kéo dài, bất ổn khu vực và gián đoạn kinh tế. Washington có thể sở hữu hỏa lực vô song, nhưng lịch sử cho thấy kết quả vẫn như nhau. Bạo lực hiếm khi mang lại kết quả chính trị nhanh chóng và dứt khoát ở vùng Vịnh Ba Tư.

Tanya Goudsouzian là một nhà báo người Canada, đã đưa tin về Afghanistan và Trung Đông trong hơn hai thập kỷ. Bà từng giữ các vị trí biên tập cấp cao tại các hãng truyền thông quốc tế lớn, bao gồm cả vị trí biên tập viên chuyên mục ý kiến ​​tại Al Jazeera English.

Ibrahim al-Marashi là phó giáo sư lịch sử Trung Đông tại Đại học bang California, và là giảng viên thỉnh giảng tại Học viện Địa Trung Hải Hoa Kỳ và Khoa Quan hệ Quốc tế tại Đại học Trung Âu. Các ấn phẩm của ông bao gồm: Lực lượng vũ trang Iraq: Lịch sử phân tích (2008), Lịch sử hiện đại của Iraq (2017), và Lịch sử tóm lược Trung Đông (2024).

(Bản dịch qua Google)

Nguồn: For Iran’s Regime, Better to Take a Beating than Capitulate

https://warontherocks.com/2026/02/for-irans-regime-better-to-take-a-beating-than-capitulate/

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?