3917 - Việc rút 5.000 lính Mỹ khỏi Đức chỉ là phần nổi của tảng băng thách thức mà châu Âu đang phải đối mặt
Tim Lister
Các binh sĩ quân đội Mỹ đang huấn luyện tại Đức – Ông Trump tuyên bố sẽ rút 5.000 quân và con số này có thể còn tăng thêm. Ảnh: Sean Gallup/Getty Images
Hầu như không tuần nào trôi qua mà không xuất hiện một cuộc tranh cãi mới giữa chính quyền ông Trump và châu Âu.
Tuy nhiên, trong một năm chứng kiến những tranh chấp lớn về thuế quan, việc Tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa sáp nhập Greenland, cùng những bất đồng về viện trợ cho Ukraine, mối đe dọa cấp bách nhất mà châu Âu đang phải đối mặt lại chính là rạn nứt xuyên Đại Tây Dương đang diễn ra liên quan đến NATO.
Ông Trump đã tuyên bố rằng Mỹ sẽ rút 5.000 – và có lẽ là nhiều hơn thế – binh sĩ đang đóng quân tại Đức; động thái này diễn ra sau khi Thủ tướng Đức Friedrich Merz chỉ trích cách Mỹ xử lý cuộc xung đột với Iran, cho rằng Tehran đã làm bẽ mặt Washington.
Ông Trump cũng công kích Tây Ban Nha và Ý vì đã không hỗ trợ chiến dịch của Mỹ chống lại Iran. Khi được hỏi liệu ông có cân nhắc việc rút quân Mỹ khỏi các quốc gia này hay không, ông Trump đáp: “Có lẽ là có… nhìn xem, tại sao tôi lại không làm thế chứ? Ý chẳng giúp ích gì cho chúng ta cả, còn Tây Ban Nha thì thật tồi tệ, thực sự rất tồi tệ.”
Tây Ban Nha đã từ chối cấp phép cho quân đội Mỹ sử dụng các căn cứ hoặc không phận của nước này để thực hiện các nhiệm vụ hay cuộc không kích liên quan đến cuộc xung đột nói trên. Những lời chỉ trích của ông Trump nhắm vào Ý được đưa ra bất chấp thực tế rằng Thủ tướng nước này, bà Giorgia Meloni, vốn là một đồng minh chủ chốt của Mỹ.
Ông Trump từ lâu đã than phiền rằng Mỹ đang phải gánh vác một cách bất công gánh nặng đảm bảo an ninh cho phương Tây; ông thậm chí từng chỉ đích danh Đức – cường quốc kinh tế hàng đầu châu Âu – là quốc gia “trốn tránh trách nhiệm” trong vấn đề này. Việc Mỹ rút quân một phần chính là một diễn biến mới trong chuỗi sự kiện này – nhưng đồng thời cũng là dấu hiệu cho thấy những vấn đề lớn hơn đang tiềm ẩn.
Khi sự sẵn lòng của Mỹ trong việc bảo đảm an ninh cho châu Âu đang dần phai nhạt – và mối đe dọa từ Nga lại ngày càng gia tăng – Đức, Vương quốc Anh và Pháp đang cam kết sẽ mở ra một kỷ nguyên mới về chi tiêu quốc phòng. Tuy nhiên, họ đang phải đối mặt với một ngọn núi thử thách khổng lồ cần phải vượt qua, trong khi thời gian dành cho họ lại không còn nhiều.
Mỹ thay đổi các ưu tiên
“Nếu chúng ta muốn duy trì mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương, chúng ta buộc phải củng cố trụ cột châu Âu ngay trong lòng NATO,” Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius phát biểu vào thứ Bảy, sau khi ông Trump lên tiếng về việc rút quân.
Ông Pistorius cho rằng việc cắt giảm quân số này vốn đã nằm trong dự liệu, và gọi đó là điều “có thể thấy trước được”. Tương tự, ông Merz phát biểu trên kênh truyền hình ARD của Đức vào Chủ nhật rằng "không có mối liên hệ nào" giữa những bất đồng với ông Trump và việc cắt giảm quân số Mỹ, theo bản dịch cuộc phỏng vấn của Reuters.
Hàng ngàn binh sĩ Mỹ vẫn đang đóng quân tại Đức, mặc dù quân số hiện tại chỉ bằng một phần nhỏ so với trước đây.
Tính đến tháng 12 năm 2025, có 36.436 quân nhân Mỹ đang tại ngũ đóng quân tại Đức, theo dữ liệu từ Bộ Quốc phòng Mỹ. Vào thời kỳ đỉnh điểm của Chiến tranh Lạnh, khoảng 250.000 binh sĩ tại ngũ đã đóng quân tại khu vực khi đó là Tây Đức.
"Chiếc ô bảo vệ" này đã bị thu lại mặc dù Nga vẫn là một mối đe dọa – và động thái mới nhất của Mỹ "càng nhấn mạnh sự cần thiết để châu Âu đầu tư nhiều hơn vào quốc phòng", người phát ngôn của NATO, bà Allison Hart, cho biết vào thứ Bảy.
Washington muốn tập trung vào những thách thức "nơi chỉ có sức mạnh của Mỹ mới có thể đóng vai trò quyết định" tại khu vực châu Á và ngay trong chính bán cầu của mình, theo lời một quan chức cấp cao Lầu Năm Góc, ông Elbridge Colby. Ông Colby nói thêm rằng Mỹ đang yêu cầu "những nỗ lực to lớn hơn nhiều từ phía các đồng minh để họ chủ động đứng ra và đảm nhận trách nhiệm chính trong việc phòng thủ thông thường cho châu Âu".
Theo quan điểm của Mỹ, ông phát biểu: "Không có điều gì mang tính chống lại châu Âu trong tầm nhìn này cả. Ngược lại, nó phản ánh niềm hy vọng – và thực sự là niềm tin – vào năng lực hành động một cách thực chất và mạnh mẽ của châu Âu".
Tuy nhiên, một số người châu Âu lại nhìn nhận vấn đề theo cách khác – coi đó là sự đánh mất tinh thần đoàn kết và mục tiêu chung, đồng thời là một ví dụ rõ nét về chủ nghĩa đơn phương của Mỹ.
"Mối đe dọa lớn nhất đối với cộng đồng xuyên Đại Tây Dương không phải là những kẻ thù bên ngoài, mà chính là sự rạn nứt đang diễn ra trong liên minh của chúng ta", Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk phát biểu vào thứ Bảy. "Tất cả chúng ta đều phải làm mọi điều cần thiết để đảo ngược xu hướng tai hại này".
Để đảo ngược xu hướng này, cần phải tăng cường chi tiêu quốc phòng ở hầu hết các quốc gia thành viên NATO, thúc đẩy sự hồi sinh của ngành sản xuất vũ khí, đầu tư vào các công nghệ mới và tăng cường hợp tác sâu rộng hơn.
Theo các kế hoạch hiện tại, chi tiêu quốc phòng hàng năm của châu Âu dự kiến sẽ tăng gần gấp đôi vào năm 2030, đạt mức xấp xỉ 750 tỷ USD.
Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn ngân sách đó một cách khôn ngoan cũng đòi hỏi một tư duy khác biệt. Trong lĩnh vực quốc phòng, các chính phủ thường rất khư khư bảo vệ những ưu tiên mang tính quốc gia; chính vì vậy, trong suốt chiều dài lịch sử, việc thiếu sự phối hợp trong khâu sản xuất và mua sắm quốc phòng đã trở thành một thực trạng phổ biến. Một chiếc xe tăng Leopard 2A6 khai hỏa trong buổi trình diễn dành cho Thủ tướng Đức khi ông đến thăm các binh sĩ thuộc Lục quân Đức (Bundeswehr) tại doanh trại của lực lượng vũ trang Đức ở Munster, miền Bắc nước Đức, vào ngày 30 tháng 4 năm 2026. Daniel Reinhardt/AFP/Getty Images
Theo các nhà phân tích, việc sản xuất với số lượng nhỏ hơn đồng nghĩa với việc các loại khí tài như xe tăng chiến đấu chủ lực Leopard của Đức có chi phí đắt đỏ hơn nhiều so với đối trọng tương ứng của Mỹ. Mỹ chỉ sản xuất một mẫu xe tăng chiến đấu chủ lực duy nhất; trong khi đó, châu Âu lại sản xuất tới hàng tá mẫu khác nhau.
Sự đổ vỡ của dự án hợp tác Pháp-Đức nhằm chế tạo thế hệ máy bay chiến đấu phản lực mới là một minh chứng điển hình cho sự bất đồng không thể dung hòa về lợi ích quốc gia. Giữa những tranh cãi dai dẳng xoay quanh quyền lãnh đạo dự án, ông Eric Trappier – Giám đốc điều hành hãng sản xuất máy bay Dassault của Pháp – đã phát biểu về quốc gia láng giềng của mình rằng: “Nếu họ muốn tự mình thực hiện, cứ để họ tự làm lấy.”
Châu Âu còn phải đối mặt với một thách thức khác trong nỗ lực từng bước giảm dần sự phụ thuộc vào các khí tài quân sự của Mỹ. Liên minh Châu Âu (EU) đặt mục tiêu đến năm 2030, ít nhất một nửa ngân sách quốc phòng của các quốc gia thành viên sẽ được chi tiêu ngay trong nội bộ khối này.
Lý lẽ đằng sau mục tiêu này rất đơn giản: bạn không thể tự xây dựng năng lực quốc phòng nội tại nếu cứ mãi mua sắm các loại khí tài "có sẵn trên kệ" từ bên ngoài. Theo số liệu lịch sử, gần 80% các thương vụ mua sắm quốc phòng của châu Âu đều chảy ra bên ngoài khối, mà chủ yếu là về phía Mỹ.
Việc quản lý quá trình chuyển đổi này sao cho không tạo ra những lỗ hổng hay điểm yếu mới sẽ là một thách thức vô cùng to lớn – một thách thức hiện đã và đang gây ra không ít "cơn đau đầu" cho châu Âu, nhất là trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ vũ khí và đạn dược của Mỹ đang tăng vọt phục vụ cho cuộc chiến chống lại Iran, thông qua cả lực lượng quân sự trực tiếp của Mỹ lẫn các đồng minh tại vùng Vịnh.
Khoảng trống về tên lửa
Tình trạng thiếu hụt các hệ thống phòng thủ tên lửa đang trở nên đặc biệt trầm trọng – một lĩnh vực mà châu Âu vốn dĩ đã có năng lực khá yếu kém. Các nhà phân tích mô tả tốc độ tiêu hao các tên lửa đánh chặn thuộc hệ thống phòng thủ như Patriot và THAAD trong cuộc xung đột tại vùng Vịnh là "đáng kinh ngạc"; theo đó, Mỹ dự kiến sẽ gửi thêm cho các đồng minh tại vùng Vịnh những loại vũ khí này với tổng trị giá lên tới nhiều tỷ đô la.
Đáng chú ý là, bên cạnh việc cắt giảm quân số đồn trú tại Đức, Lầu Năm Góc cũng thông báo sẽ không triển khai theo kế hoạch một tiểu đoàn hỏa lực tầm xa – đơn vị được trang bị các tên lửa hành trình Tomahawk và tên lửa siêu thanh.
Các nhà sản xuất châu Âu có sản xuất nhiều loại tên lửa đánh chặn khác nhau, nhưng quy mô sản xuất lại không đủ lớn, và đặc biệt là họ chưa thể sản xuất được những loại tên lửa có khả năng đánh chặn hiệu quả các tên lửa đạn đạo cũng như các loại tên lửa hành trình thế hệ mới, tiên tiến. Theo một nghiên cứu mới đây của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), các sản phẩm của châu Âu hiện chưa thể cung cấp "một giải pháp thay thế đơn nhất và toàn diện cho các hệ thống của Mỹ".
Việc đẩy mạnh hợp tác sản xuất sẽ giúp giảm bớt tình trạng khan hiếm; tuy nhiên, như báo cáo của CSIS đã chỉ ra, điều này “đòi hỏi một mức độ tin cậy và sự ưu tiên trong mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương—những yếu tố có lẽ đã không còn tồn tại nữa.”
Đó chính là thế tiến thoái lưỡng nan mà châu Âu đang phải đối mặt. Con đường nhanh nhất dẫn tới việc tái vũ trang phải đi qua Hoa Kỳ, nhưng lại đòi hỏi sự tin cậy lẫn nhau và tính nhất quán.
Con đường chậm hơn đòi hỏi châu Âu phải gia tăng chi tiêu, khắc phục cấu trúc công nghiệp vốn đang bị phân mảnh, đồng thời phải cân nhắc xem liệu những ưu tiên hiện tại của Washington chỉ là một giai đoạn nhất thời hay là sự khởi đầu của một trật tự mới.
Đã xuất hiện những dấu hiệu khởi sắc: Vương quốc Anh vẫn tích cực tham gia vào quá trình xây dựng bản sắc quốc phòng châu Âu bất chấp sự kiện Brexit, và ngày càng có nhiều dự án hợp tác chung được triển khai giữa các công ty quốc phòng với Ukraine.
Thụy Điển và Phần Lan—hai quốc gia vừa gia nhập NATO—đã nhanh chóng hòa nhập vào khối liên minh này.
Tuy nhiên, việc cùng chia sẻ chủ quyền để đẩy nhanh năng lực tự vệ của châu Âu vẫn đang là một mục tiêu tối thượng đầy thách thức.
Nguồn:
The loss of 5,000 US troops in Germany is just the tip of the challenge facing Europe
https://www.cnn.com/2026/05/03/europe/germany-trump-troops-europe-intl

Nhận xét
Đăng nhận xét