4345 - Trung Quốc có thể giành được Đài Loan mà không cần giao tranh

Richard N. Haass and David Sacks 

Cái giá của sự thiếu dứt khoát từ ông Trump

Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh, tháng 5 năm 2026. Ảnh: Evan Vucci / Reuters

Chính phủ Mỹ và Trung Quốc đều khẳng định rằng mối quan hệ song phương giữa hai nước là quan trọng nhất trên thế giới. Họ cũng đồng thuận rằng Đài Loan là tác nhân có khả năng cao nhất châm ngòi cho một cuộc xung đột vũ trang giữa hai bên. Về lý thuyết, lẽ ra việc Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình thảo luận kỹ lưỡng về vấn đề Đài Loan tại Bắc Kinh vào tháng trước – cũng như việc hai nhà lãnh đạo hiểu rõ hơn lập trường của nhau – phải là một tín hiệu đáng mừng.

Tuy nhiên, hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Trung lại chẳng hề mang lại cảm giác an tâm. Thay vào đó, sự kiện này đánh dấu nước đi mở màn của ông Tập trong một nỗ lực dài hơi nhằm thuyết phục chính quyền Trump nới lỏng quan hệ với Đài Loan. Chuyến thăm của ông Trump vừa mới bắt đầu thì Trung Quốc đã đưa ra tuyên bố về lời cảnh báo mà ông Tập gửi tới ông Trump: nếu vấn đề Đài Loan "được xử lý thỏa đáng, quan hệ song phương sẽ duy trì được sự ổn định tổng thể", nhưng nếu không, "hai nước sẽ xảy ra va chạm và thậm chí là xung đột, đặt toàn bộ mối quan hệ vào tình thế cực kỳ nguy hiểm".

Ông Tập muốn thay đổi định nghĩa về việc Mỹ "xử lý thỏa đáng" vấn đề Đài Loan. Giống như những người tiền nhiệm, ông Tập tin rằng việc ngăn chặn sự tách biệt vĩnh viễn của Đài Loan là lợi ích quốc gia cốt lõi, đồng thời coi quyền tự chủ hiện tại của hòn đảo này là bằng chứng cho thấy cuộc nội chiến Trung Quốc vẫn chưa kết thúc. Tuy nhiên, khác với các vị tiền nhiệm, ông Tập dường như coi việc đạt được tiến triển cụ thể trong việc đưa Đài Loan về dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc là yếu tố then chốt cho di sản chính trị của mình. Ngay từ đầu nhiệm kỳ vào năm 2013, ông Tập đã nhấn mạnh rằng vấn đề Đài Loan không thể cứ mãi bị chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác. Kể từ đó, ông luôn khẳng định việc giành quyền kiểm soát Đài Loan đóng vai trò trung tâm trong công cuộc chấn hưng đất nước – một nhiệm vụ bắt buộc phải hoàn tất vào năm 2049, tròn một thế kỷ sau ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Mặc dù đã chỉ đạo quân đội sẵn sàng chiếm Đài Loan vào năm 2027, nhưng ông Tập vẫn ưu tiên phương án giành quyền kiểm soát hòn đảo này mà không cần nổ súng. Việc phát động chiến tranh – ngay cả khi đối đầu với một đối thủ yếu hơn – luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, như thực tế đã được chứng minh qua cuộc xâm lược Ukraine của Nga và chiến dịch quân sự của Mỹ nhắm vào Iran. Nếu ông Tập Cận Bình phát động tấn công Đài Loan và sa lầy vào một cuộc xung đột kéo dài, ông sẽ đặt quyền lực và tính chính danh của mình vào thế rủi ro. Ông Tập cũng hiểu rõ rằng việc sử dụng vũ lực đối với Đài Loan sẽ gây tổn hại cho sự phát triển kinh tế; bởi lẽ, ít nhất thì Hoa Kỳ cùng các đồng minh cũng sẽ đáp trả bằng cách cắt đứt khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến của Trung Quốc và áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế, tài chính gây hậu quả nghiêm trọng.

Ông Tập dường như đã nhận định rằng con đường chắc chắn nhất để giành quyền kiểm soát Đài Loan mà không cần chiến tranh chính là thông qua ông Trump – người thường xuyên chỉ trích Đài Loan và đặt câu hỏi về tính đúng đắn của việc bảo vệ hòn đảo này. Ảnh hưởng của ông Tập đã thể hiện rõ nét trong những ngày sau hội nghị thượng đỉnh tháng Năm, khi ông Trump sử dụng lại các luận điệu của Bắc Kinh trong những tuyên bố về chính trị nội bộ Đài Loan và tạm hoãn thương vụ bán vũ khí đã được lên kế hoạch cho Đài Bắc. Sau đó, ông Trump nhắc lại cáo buộc rằng Đài Loan đã "đánh cắp" ngành công nghiệp chip của Hoa Kỳ, đồng thời tuyên bố không muốn Hoa Kỳ tham chiến vì Đài Loan – một nơi cách xa nước Mỹ tới 9.500 dặm. Chính quyền của ông đã nắm bắt được thông điệp này. Hệ quả là Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth đã không hề nhắc đến Đài Loan trong bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore; đây là lần đầu tiên sau một thập kỷ, một Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ bỏ qua vấn đề Đài Loan trong bài phát biểu tại sự kiện này.

Hiện chưa rõ điều gì đã thúc đẩy những bình luận của ông Trump cũng như việc ông gạt bỏ chính sách bán vũ khí cho Đài Loan vốn đã được duy trì suốt nhiều thập kỷ qua. Có thể ông tin rằng đây là cách tốt nhất để hạ nhiệt căng thẳng tại eo biển Đài Loan và tránh xảy ra xung đột vũ trang. Cũng có khả năng ông cho rằng việc giảm bớt sự ủng hộ đối với Đài Loan là cái giá xứng đáng để đổi lấy khả năng tiếp cận thị trường Trung Quốc thuận lợi hơn hoặc để đạt được sự hòa hoãn sâu rộng hơn với Bắc Kinh.

Mục tiêu của nhà lãnh đạo Trung Quốc thì rõ ràng hơn nhiều. Ông Tập đang tìm cách định hình lại những gì được coi là "bình thường" trong cách tiếp cận của Hoa Kỳ đối với Đài Loan. Nếu Trung Quốc có thể thúc đẩy những thay đổi trong chính sách của Hoa Kỳ nhằm gia tăng sự hoài nghi về độ tin cậy của Washington – vốn đã nhen nhóm do thái độ hoài nghi chung của chính quyền Trump đối với các đồng minh – thì nhiều người dân Đài Loan có thể sẽ đi đến kết luận rằng họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tìm kiếm một thỏa hiệp theo các điều kiện do Bắc Kinh đặt ra. Một diễn biến như vậy sẽ gióng lên hồi chuông cảnh báo trên toàn khu vực. Các đồng minh của Hoa Kỳ sẽ bắt đầu đặt câu hỏi về sự khôn ngoan khi phó thác an ninh của mình cho Washington, từ đó dẫn đến một sự thay đổi mang tính quyết định trong cán cân quyền lực theo hướng có lợi cho Bắc Kinh. Các nhà hoạch định chính sách Mỹ cần nhìn nhận đúng bản chất chiến lược của Trung Quốc và ngừng nhượng bộ về các cam kết của Mỹ đối với Đài Loan—bởi lẽ vào lúc này, ông Tập Cận Bình đang tiến gần hơn đến mục tiêu mà ông mong muốn đạt được.

MỘT TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG MỚI

Tại hội nghị thượng đỉnh ở Bắc Kinh vào tháng 5, ông Tập dường như đã triển khai hai bước trong kế hoạch của mình. Bước đầu tiên là thuyết phục ông Trump rằng Đài Loan đang theo đuổi nền độc lập chính thức, và nếu Washington không kiềm chế Đài Bắc, động thái này có nguy cơ châm ngòi cho một vòng xoáy leo thang căng thẳng, thậm chí dẫn đến chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Lời nói của ông Tập đã đạt được hiệu quả mong muốn. Trong một cuộc phỏng vấn với Fox News sau hội nghị thượng đỉnh, ông Trump nói rằng Đài Loan hiện có "một người muốn theo đuổi độc lập" và các nhà lãnh đạo Đài Loan "muốn gây chiến vì họ tin rằng mình có Mỹ hậu thuẫn". Những tuyên bố như vậy hoàn toàn trái ngược với thực tế: Đảng Dân chủ Tiến bộ (DPP) đang cầm quyền tại Đài Loan không hề theo đuổi nền độc lập và đã phản ứng một cách kiềm chế trước các hành động khiêu khích quân sự của Trung Quốc.

Bước tiếp theo, và cũng là vấn đề cấp bách hơn, là đảm bảo ông Trump không phê duyệt gói vũ khí trị giá 14 tỷ USD đang chờ xử lý dành cho Đài Loan. Ở khía cạnh này, ông Tập cũng đã đạt được bước tiến. Trong cùng cuộc phỏng vấn đó, ông Trump nhận định rằng ông đang "tạm hoãn" gói vũ khí này và coi đó là một "quân bài đàm phán rất tốt". Khi trò chuyện với các phóng viên trên chuyến bay trở về từ Bắc Kinh, ông Trump cho biết ông và ông Tập đã thảo luận "rất chi tiết" về việc bán vũ khí—một hành động đi ngược lại chính sách lâu nay của Mỹ là không tham vấn Trung Quốc về các thương vụ bán vũ khí cho Đài Loan. Chính quyền Trump trước đó từng tái khẳng định cam kết này, nhưng giờ đây tổng thống lại gạt bỏ nó khi được hỏi về vấn đề này trên máy bay.

Ngay cả khi gói vũ khí cuối cùng vẫn được triển khai, sự trì hoãn này cũng đã mang lại lợi ích cho Bắc Kinh. Trung Quốc không quá bận tâm đến việc chuyển giao các loại vũ khí cụ thể cho Đài Loan, nhất là khi các loại vũ khí đang được xem xét sẽ phải mất nhiều năm sau khi được phê duyệt mới có thể đến được hòn đảo này. Thay vào đó, mục đích đằng sau việc khiến ông Trump trì hoãn phê duyệt là nhằm tạo ra tiền lệ rằng Washington sẽ tham vấn Bắc Kinh về các thương vụ bán vũ khí trong tương lai, đồng thời gieo rắc nghi ngờ về độ tin cậy của Mỹ; qua đó làm suy yếu quyết tâm tự vệ của Đài Loan và khuyến khích các khuynh hướng chính trị thân Trung Quốc trên hòn đảo này.

Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Trung hoàn toàn không mang lại cảm giác an tâm.

Và giờ đây, khi nhận thấy ông Trump sẵn sàng đàm phán lại những khía cạnh đã tồn tại hàng thập kỷ trong chính sách của Mỹ đối với Đài Loan, ông Tập sẽ tiếp tục gây sức ép để đòi hỏi thêm các nhượng bộ. Chẳng hạn, ông có thể thúc giục ông Trump công khai ủng hộ quan điểm của Bắc Kinh rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc; điều này sẽ tạo ra sự thay đổi căn bản trong chính sách của Hoa Kỳ và làm suy yếu vị thế quốc tế của Đài Loan. Ông Tập có thể gây sức ép buộc Washington hạ thấp mức độ hợp tác an ninh với Đài Loan, cũng như với Úc và Philippines, qua đó tiếp tục làm suy giảm khả năng răn đe. Ông cũng có thể thuyết phục ông Trump yêu cầu Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi không can dự vào các vấn đề liên quan đến hai bờ eo biển Đài Loan.

Trung Quốc đang nỗ lực thiết lập các chuẩn mực mới trong cách Hoa Kỳ ứng xử với Đài Loan. Bằng cách lôi kéo ông Trump đưa ra những tuyên bố và hành động mà các người tiền nhiệm chưa từng thực hiện, ông Tập đang tạo ra một "mốc tham chiếu" mới; ông sẽ dùng mốc này để gây sức ép lên ông Trump và các đời tổng thống kế nhiệm nếu họ muốn duy trì quan hệ hiệu quả với Bắc Kinh trên các lĩnh vực khác. Trung Quốc có thể yêu cầu các tổng thống Mỹ tương lai đưa ra những cảnh báo tương tự đối với lãnh đạo Đài Loan về vấn đề độc lập, cũng như tham vấn Bắc Kinh về các thương vụ bán vũ khí như một điều kiện tiên quyết trong quan hệ song phương. Nếu các chính quyền tương lai từ chối làm vậy, Trung Quốc có thể lấy đó làm cái cớ để gia tăng sức ép cưỡng ép đối với Đài Loan và thực hiện các biện pháp trừng phạt nhắm vào Hoa Kỳ. Có thể gọi đây là chiến lược "gắn kết vấn đề" (linkage) theo kiểu Trung Quốc.

Trong khi đó, Bắc Kinh đang gia tăng áp lực lên Đài Loan. Chỉ vài tuần sau cuộc gặp thượng đỉnh giữa ông Tập và ông Trump, Trung Quốc đã triển khai cái gọi là "chiến dịch thực thi pháp luật hàng hải đặc biệt" ở vùng biển phía đông Đài Loan, trong đó lực lượng tuần duyên nước này đã can thiệp vào hoạt động của các tàu thương mại. Lực lượng tuần duyên Trung Quốc cũng xâm nhập vào vùng biển cấm gần một hòn đảo do Đài Loan kiểm soát ở Biển Đông. Với hai hành động chưa từng có tiền lệ này, Bắc Kinh đang nhắm tới việc khẳng định quyền tài phán đối với vùng biển của Đài Loan và đặt nền móng cho việc phong tỏa hòn đảo này trong tương lai.

SỰ RẠN NỨT

Những nhượng bộ mà ông Tập muốn ông Trump thực hiện đều nhằm mục đích gieo rắc nghi ngờ về cam kết của Hoa Kỳ đối với Đài Loan; điều này lại phục vụ cho các mục tiêu của Trung Quốc là kéo Đài Loan sâu hơn vào quỹ đạo ảnh hưởng của mình và làm suy yếu mạng lưới đồng minh của Hoa Kỳ trong khu vực. Trước mắt, tổn hại đối với uy tín của Hoa Kỳ đe dọa sẽ đảo ngược những tiến bộ quan trọng mà Đài Loan đã đạt được trong việc tăng cường năng lực quốc phòng. Ngân sách quốc phòng của Đài Loan đã tăng gấp đôi theo giá trị danh nghĩa trong thập kỷ qua, hiện chiếm 3,3% GDP, và hòn đảo này đang đặt mục tiêu nâng mức chi tiêu lên 5% GDP vào cuối thập kỷ này—ngang bằng với mức mà chính quyền Trump từng yêu cầu các đồng minh NATO phải đạt được vào năm 2035. Hồi tháng 5, cơ quan lập pháp Đài Loan đã thông qua khoản ngân sách quốc phòng đặc biệt trị giá 25 tỷ USD để mua sắm các khí tài quan trọng từ Hoa Kỳ, chẳng hạn như tên lửa đánh chặn phòng không, tên lửa đất đối không, cũng như tên lửa chống tăng và chống thiết giáp.

Tuy nhiên, nếu Đài Loan không còn tin tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ tăng cường năng lực phòng thủ thông qua việc bán vũ khí và có khả năng can thiệp để bảo vệ họ, các chính trị gia Đài Loan sẽ gặp khó khăn hơn trong việc thuyết phục công chúng rằng việc tiếp tục chi tiêu quốc phòng sẽ thực sự giúp hòn đảo này răn đe hoặc đẩy lùi một cuộc tấn công từ Trung Quốc. Theo một cuộc khảo sát được thực hiện tại Đài Loan, chỉ 34% người được hỏi đồng ý rằng Hoa Kỳ là một quốc gia "đáng tin cậy". Con số này đã giảm hơn 10 điểm phần trăm trong vòng 5 năm qua, và những phát ngôn cũng như thái độ thiếu nhất quán của ông Trump về vấn đề bán vũ khí có thể khiến tỷ lệ này sụt giảm hơn nữa. Khi niềm tin vào sự bảo trợ của Washington suy giảm, các chính trị gia hoài nghi sẽ càng miễn cưỡng phê duyệt ngân sách quốc phòng mà họ cho là kém hiệu quả. Hệ quả là, quan điểm ủng hộ việc nhượng bộ Trung Quốc nhiều hơn sẽ giành được sự ủng hộ. Bắc Kinh hy vọng tận dụng cơ hội này để thúc đẩy đảng đối lập Quốc Dân Đảng (KMT) đi theo hướng thân Trung Quốc rõ rệt hơn và đưa một KMT đã được "tái định hình" trở lại nắm quyền vào năm 2028.

Ông Tập Cận Bình mong muốn giành quyền kiểm soát Đài Loan mà không cần nổ súng.

Hậu quả của việc Hoa Kỳ giảm bớt sự ủng hộ đối với Đài Loan sẽ không chỉ dừng lại ở đó. Chính sách của Hoa Kỳ đối với Đài Loan được xem là thước đo quan trọng về mức độ cam kết của Mỹ tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Nếu Washington sẵn sàng đàm phán để từ bỏ sự ủng hộ dành cho Đài Bắc, các quốc gia khác trong khu vực sẽ kết luận rằng họ không còn có thể trông cậy vào Hoa Kỳ để đảm bảo an ninh cho mình. Các nước như Nhật Bản và Hàn Quốc có thể sẽ đẩy mạnh tăng cường quân sự, cân nhắc sở hữu vũ khí hạt nhân và theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập hơn, không nhất thiết phải phù hợp với lợi ích của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia sẽ nhận thấy mình không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải nhượng bộ trước các yêu cầu của Bắc Kinh.

Dù theo kịch bản nào, mạng lưới liên minh vốn là nền tảng cho vị thế của Hoa Kỳ tại châu Á – và là lợi thế cốt lõi của Washington so với Bắc Kinh – cũng sẽ bị tổn hại nghiêm trọng. Ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ gia tăng, có khả năng cho phép Bắc Kinh hạn chế các mối quan hệ thương mại và đầu tư của Hoa Kỳ trong khu vực. Khi phải đối mặt với một Trung Quốc táo bạo hơn mà thiếu đi sự hậu thuẫn từ các liên minh vững chắc, Hoa Kỳ sẽ buộc phải chi tiêu nhiều hơn nữa cho quốc phòng để đảm bảo an ninh của chính mình. Điều quan trọng là, nếu nhận thấy sự ủng hộ của Hoa Kỳ dành cho Đài Loan suy giảm, các quốc gia khác sẽ gặp khó khăn hơn trong việc thực hiện các bước nhằm tăng cường khả năng răn đe, từ đó càng làm mất ổn định tình hình tại eo biển Đài Loan. Trong những năm gần đây, Hoa Kỳ đã đạt được những bước tiến đáng kể trong việc biến vận mệnh của Đài Loan thành vấn đề được quốc tế quan tâm. Các tuyên bố chung song phương với Úc, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc, Vương quốc Anh và Liên minh Châu Âu, cũng như các tuyên bố đa phương từ nhóm G-7, đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình và ổn định tại eo biển Đài Loan. Washington đã khuyến khích các đồng minh và đối tác tăng cường hợp tác với Đài Loan, đồng thời cân nhắc phương án đóng góp trong trường hợp xảy ra xung đột. Việc các quốc gia này có sẵn sàng chấp nhận rủi ro chọc giận Bắc Kinh hay không phụ thuộc vào sự đảm bảo về sự hậu thuẫn từ Washington. Nếu Hoa Kỳ hạ thấp mức độ cam kết đối với Đài Loan, họ cũng sẽ xem xét lại các cam kết của chính mình.

KHÔI PHỤC SỰ CÂN BẰNG

Hoa Kỳ có lý do chính đáng để không cho phép Trung Quốc chia rẽ mối quan hệ giữa Washington và Đài Bắc. Xét về mặt quân sự, Đài Loan giữ vị trí chiến lược quan trọng dọc theo chuỗi đảo thứ nhất – trải dài từ Nhật Bản qua Đài Loan đến Philippines. Nếu Trung Quốc giành quyền kiểm soát Đài Loan, nước này sẽ dễ dàng hơn nhiều trong việc phô trương sức mạnh tại Thái Bình Dương và đe dọa lãnh thổ Hoa Kỳ; đồng thời, Hoa Kỳ sẽ gặp khó khăn trong việc bảo vệ các đồng minh hiệp ước – đặc biệt là Nhật Bản và Philippines – trước sự xâm lược của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ có khả năng kiểm soát các tuyến đường biển huyết mạch mà Nhật Bản phụ thuộc vào để nhập khẩu năng lượng và lương thực, qua đó tạo ra lợi thế áp đảo đối với Tokyo. Ngoài ra, sau khi Nga xâm lược và tìm cách thôn tính Ukraine, một cuộc tấn công của Trung Quốc dẫn đến việc sáp nhập Đài Loan sẽ càng làm suy yếu chuẩn mực toàn cầu về việc phản đối thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực. Khi đó, nhiều quốc gia sẽ mạnh dạn hơn trong việc theo đuổi các yêu sách đòi lại lãnh thổ hoặc phục thù, dẫn đến một thế giới hỗn loạn hơn nữa.

Việc để Đài Loan rơi vào tầm kiểm soát của Trung Quốc cũng sẽ là đòn giáng mạnh vào nền dân chủ tự do. Người dân Đài Loan đã xây dựng được một trong những nền dân chủ vững mạnh nhất châu Á, bất chấp mối đe dọa sống còn từ một nước láng giềng theo chế độ độc tài hùng mạnh hơn nhiều và tình trạng phần lớn bị cô lập với các quốc gia khác. Đài Loan là minh chứng sống động cho người dân Trung Quốc thấy rằng một xã hội đa số là người gốc Hoa hoàn toàn có thể phát triển thịnh vượng dưới thể chế dân chủ. Việc xóa bỏ nền dân chủ này sẽ gây tác động tiêu cực, làm nhụt chí những khát vọng dân chủ không chỉ trong khu vực mà còn trên toàn thế giới.

Một cuộc xung đột liên quan đến Đài Loan cũng sẽ gây ra hậu quả tàn khốc về mặt kinh tế. Theo Bloomberg, một cuộc chiến như vậy sẽ làm sụt giảm 10 nghìn tỷ USD sản lượng toàn cầu – một cú sốc lớn hơn cả đại dịch COVID-19. Nguyên nhân chính là do Đài Loan sản xuất phần lớn các loại chip bán dẫn tiên tiến nhất thế giới; đây là linh kiện thiết yếu cho mọi thứ, từ điện thoại thông minh, máy tính, vũ khí cho đến các máy chủ trí tuệ nhân tạo (AI). Tuy nhiên, sản xuất chip không phải là yếu tố duy nhất khiến Đài Loan đóng vai trò trung tâm trong nền kinh tế toàn cầu. Toàn bộ chuỗi cung ứng AI đều đi qua Đài Loan và được hỗ trợ bởi một hệ sinh thái gồm hàng trăm công ty Đài Loan. Chính vì vậy, Đài Loan hiện là đối tác thương mại lớn thứ tư của Hoa Kỳ; Hoa Kỳ nhập khẩu từ Đài Loan nhiều hơn so với từ Trung Quốc. Mặc dù Washington đang nỗ lực đưa hoạt động sản xuất bán dẫn trở lại trong nước, Đài Loan vẫn sẽ là đối tác kinh tế then chốt trong tương lai gần. Ngay cả những con chip tiên tiến nhất được sản xuất tại Hoa Kỳ hiện nay vẫn cần được chuyển đến Đài Loan để thực hiện các công đoạn xử lý sau sản xuất. Ngay cả khi việc đưa sản xuất về nước thành công rực rỡ, phần lớn các loại chip tiên tiến nhất thế giới vẫn sẽ được sản xuất tại Đài Loan trong nhiều năm tới.

Kịch bản tồi tệ nhất sẽ có nhiều khả năng xảy ra hơn nếu Trung Quốc thành công trong việc thiết lập các quy tắc mới về cách Hoa Kỳ tiếp cận vấn đề Đài Loan. Tuy nhiên, Washington vẫn có thể phá vỡ chiến lược của Bắc Kinh và khắc phục những thiệt hại do các phát ngôn của ông Trump về Đài Loan cũng như quyết định tạm dừng bán vũ khí của ông gây ra. Nhiệm vụ đầu tiên là phê duyệt gói bán vũ khí. Chủ tịch Tập Cận Bình có thể phản ứng bằng cách hủy chuyến thăm Washington vào tháng 9, nhưng đó là cái giá xứng đáng nếu ông hiểu ra rằng Đài Loan không phải là nơi ông có thể tùy ý chiếm đoạt.

Hiện tại, ông Tập đang tiến gần hơn đến mục tiêu mà mình mong muốn.

Tuy nhiên, để xua tan những nghi ngờ mà ông Trump đã gieo rắc về cam kết của Hoa Kỳ đối với Đài Loan, cần nhiều hành động hơn là chỉ bán thêm vũ khí. Chính quyền Trump cần thực hiện các bước đi xa hơn để ngăn chặn hành động gây hấn của Trung Quốc, chẳng hạn như hỗ trợ Đài Loan phát triển ngành công nghiệp quốc phòng nội địa thông qua các liên doanh và chuyển giao công nghệ. Đài Loan cần đầu tư ngay từ bây giờ để đảm bảo khả năng nhanh chóng mở rộng quy mô sản xuất trong trường hợp xảy ra khủng hoảng – thời điểm mà việc tiếp tế cho hòn đảo này sẽ vô cùng khó khăn. Để làm được điều đó, họ cần sự hỗ trợ từ Hoa Kỳ.

Quan trọng không kém, Washington cần phát đi tín hiệu mạnh mẽ khẳng định cam kết bảo vệ Đài Loan, đồng thời kỳ vọng các đối tác sẽ cùng đóng góp vào nỗ lực phòng thủ do Hoa Kỳ dẫn đầu. Tổng thống Joe Biden đã đưa ra cam kết công khai như vậy trong bốn dịp riêng biệt, ủng hộ điều mà chúng tôi gọi là "sự rõ ràng về chiến lược" (strategic clarity) trên tạp chí *Foreign Affairs* vào năm 2020. Mặc dù thật đáng tiếc khi các quan chức cấp cao đã rút lại những bình luận của Tổng thống, nhưng điều đáng chú ý là các tuyên bố của ông Biden không châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng trong quan hệ Mỹ-Trung. Trái lại, chúng có thể đã ngăn cản Bắc Kinh thử thách ý chí của Hoa Kỳ.

Để cam kết này trở nên đáng tin cậy trong bối cảnh hiện nay, Hoa Kỳ cần duy trì sức mạnh quân sự đủ lớn trong khu vực và bố trí lực lượng sẵn sàng ứng phó với các tình huống khẩn cấp liên quan đến Đài Loan. Washington cũng cần đẩy lùi những nỗ lực của Trung Quốc nhằm khẳng định quyền tài phán đối với Đài Loan, chẳng hạn như thông qua việc tăng cường hợp tác với lực lượng tuần duyên của hòn đảo này.

Đồng thời, Hoa Kỳ cần làm rõ với Trung Quốc rằng họ không tìm kiếm sự đối đầu. Washington nên trấn an Bắc Kinh rằng họ không ủng hộ nền độc lập của Đài Loan, tiếp tục tuân thủ chính sách "một Trung Quốc", và sẽ ủng hộ bất kỳ giải pháp nào cho những bất đồng hai bờ eo biển có được sự đồng thuận của người dân Đài Loan.

Trong nhiều thập kỷ qua, Hoa Kỳ đã ngăn chặn thành công hành động gây hấn của Trung Quốc đối với Đài Loan và hoàn toàn có thể tiếp tục làm điều đó. Những khó khăn mà quân đội Trung Quốc gặp phải khi thực hiện cuộc đổ bộ tấn công, lợi thế phòng thủ của Đài Loan, ưu thế của Hoa Kỳ trong tác chiến dưới lòng biển và sức mạnh tổng hợp của các lực lượng đồng minh đều là những yếu tố có lợi cho Washington—miễn là Hoa Kỳ được các đối tác, đặc biệt là Đài Loan và Nhật Bản, tin cậy.

Tuy nhiên, hiện nay Washington cũng phải đối phó với một hướng tấn công khác từ Bắc Kinh. Một Trung Quốc ngày càng hùng mạnh, tự tin và quyết đoán đang tìm cách gây sức ép lên Đài Loan bằng cách thuyết phục Washington dần dần rút lui khỏi Đài Bắc, bắt đầu từ việc trì hoãn hoặc hủy bỏ các thương vụ bán vũ khí đã được đề xuất. Chính quyền Trump cần chấm dứt việc đi vào nước cờ của ông Tập Cận Bình, đồng thời nhận thức rõ rằng cách chắc chắn nhất để ngăn chặn xung đột tại eo biển Đài Loan hoặc việc Trung Quốc chiếm giữ hòn đảo này với cái giá đắt đỏ là khiến Bắc Kinh không còn chút nghi ngờ nào về cam kết của Hoa Kỳ đối với Đài Loan.

RICHARD HAASS là Chủ tịch Danh dự của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Council on Foreign Relations), Cố vấn cấp cao tại Centerview Partners, và là tác giả của bản tin hàng tuần trên nền tảng Substack có tên *Home & Away*. David Sacks là Nghiên cứu viên về Châu Á tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Council on Foreign Relations) và là tác giả cuốn sách sắp ra mắt có tựa đề *The Realist: Hans Morgenthau and the Purpose of American Power*.

https://www.foreignaffairs.com/taiwan/china-could-win-taiwan-without-fighting

***

China Could Win Taiwan Without Fighting

The Cost of Trump’s Equivocation

U.S. President Donald Trump and Chinese President Xi Jinping in Beijing, May 2026 Evan Vucci / Reuters

The governments of the United States and China both assert that theirs is the most important bilateral relationship in the world. They also agree that the likeliest trigger for an armed conflict between them is Taiwan. In theory, then, it should come as a relief that U.S. President Donald Trump and Chinese leader Xi Jinping discussed Taiwan at length in Beijing last month and that the leaders emerged with a better understanding of each other’s positions.

Yet the U.S.-Chinese summit was anything but reassuring. Rather, it represented Xi’s opening move in what will be a sustained effort to get the Trump administration to distance itself from Taiwan. Trump’s visit had barely begun when China released a statement that shared a warning Xi had imparted to Trump: if Taiwan “is handled properly, the bilateral relationship will enjoy overall stability,” but if it is not, “the two countries will have clashes and even conflicts, putting the entire relationship in great jeopardy.”

Xi intends to change what it means for Taiwan to be “handled properly” by the United States. Like his predecessors, Xi believes preventing Taiwan’s permanent separation is a core national interest and views its continued autonomy as evidence that China’s civil war remains unfinished. Unlike his predecessors, however, Xi appears to consider it essential to his legacy that he make tangible progress toward bringing Taiwan under China’s authority. At the beginning of his tenure, in 2013, Xi noted that the Taiwan question cannot continue to be passed on from generation to generation. He has since asserted that gaining control of Taiwan is central to China’s rejuvenation, a task that must be fulfilled by 2049, a century after the founding of the People’s Republic of China.

Although Xi has instructed his military to be ready to take Taiwan by 2027, his preference is to gain control of the island without firing a shot. Going to war, even against a weaker foe, is always hazardous, as Russia’s invasion of Ukraine and the United States’ military campaign against Iran make clear. If Xi invaded Taiwan and ended up in a protracted conflict, he would risk his power and legitimacy. And Xi knows that using force against Taiwan would come at the expense of economic development because the United States and its allies would, at the very minimum, respond by cutting China off from advanced technology and imposing crippling economic and financial sanctions.

Xi seems to have concluded that the surest path to securing control of Taiwan without a war runs through Trump, who has frequently criticized Taiwan and questioned the wisdom of defending the island. Xi’s influence was apparent in the days after the May summit, as Trump borrowed rhetoric from Beijing in statements about Taiwanese domestic politics and paused a pending arms sale to Taipei. Trump then repeated his claim that Taiwan stole the U.S. chip industry and said he did not want the United States to fight a war over Taiwan 9,500 miles away. His administration got the message. Secretary of Defense Pete Hegseth subsequently failed to mention Taiwan in his speech at the Shangri-La Dialogue in Singapore, the first time a U.S. defense secretary omitted Taiwan from such a speech in a decade.

What is motivating Trump’s comments and his dismissal of decades of U.S. policy on arms sales to Taiwan is unclear. It might be a belief that this is the best path to de-escalating tensions in the Taiwan Strait and avoiding an armed conflict. It could also reflect a conclusion that reducing support for Taiwan is a price worth paying for improved commercial access to China or a broader détente with Beijing.

The objective of China’s leader is far clearer. Xi is seeking to redefine what is considered normal in the United States’ approach to Taiwan. If China can bring about changes in U.S. policy that strengthen doubts regarding Washington’s reliability, doubts that have already gained ground because of the Trump administration’s general skepticism toward allies, many in Taiwan may conclude that they have no choice but to seek an accommodation on Beijing’s terms. Such a development would raise alarm throughout the region. U.S. allies would come to question the wisdom of putting their security in Washington’s hands, leading to a decisive shift in the balance of power in Beijing’s favor. American policymakers should recognize China’s strategy for what it is and stop giving ground on U.S. commitments to Taiwan—because for now, Xi is moving closer to the success he wants.

A NEW NORMAL

At the May summit in Beijing, Xi appeared to put two steps of his plan in motion. The first was to convince Trump that Taiwan is pursuing formal independence and that unless Washington reins in Taipei, such a move risks triggering a cycle of escalation that could lead to a U.S.-Chinese war. Xi’s words had the desired effect. In an interview with Fox News after the summit, Trump said that Taiwan has “somebody there now that wants to go independent” and that Taiwan’s leaders “want to get into a war and they figure they have the United States behind them.” Such statements are at odds with reality: Taiwan’s ruling Democratic Progressive Party is not pursuing independence and has responded with restraint to Chinese military provocations.

The next step, and a matter of more immediate concern, was to ensure that Trump did not approve a pending $14 billion arms package to Taiwan. Here, too, Xi made headway. Trump commented in the same interview that he was holding the arms package “in abeyance” and that he considered it a “very good negotiating chip.” Trump told reporters during the flight home from Beijing that he and Xi discussed arms sales “in great detail”—in contravention of a long-standing U.S. policy not to consult China on arms sales to Taiwan. The first Trump administration had reaffirmed that commitment, but now the president dismissed it when asked about it on the plane.

Even if the arms package moves forward in the end, the delay will have paid dividends for Beijing. China is less concerned about the delivery of specific weapons to Taiwan, especially given that the arms under review would not arrive on the island until years after the sale was approved. Rather, the intent behind getting Trump to withhold approval was to set a precedent that Washington would consult with Beijing on future arms sales and to sow doubts about the United States’ reliability, thereby undermining Taiwan’s resolve to defend itself and encouraging pro-Chinese politics on the island.

The U.S.-Chinese summit was anything but reassuring.

And now that Xi sees that Trump is willing to renegotiate decades-old elements of U.S. policy toward Taiwan, he will continue to press for concessions. He might, for instance, urge Trump to explicitly endorse Beijing’s view that Taiwan is a part of China, which would represent a fundamental shift in U.S. policy and undercut Taiwan’s international standing. Xi could press Washington to downgrade its security cooperation with Taiwan and even with Australia and the Philippines, which would further undermine deterrence. He could coax Trump to tell Japanese Prime Minister Sanae Takaichi to refrain from playing a role in cross-strait matters.

China is attempting to set new norms around how the United States handles Taiwan. By drawing Trump into making statements and taking actions that his predecessors have not, Xi is establishing a new baseline to which he will hold Trump and his successors if they want to have productive relations with Beijing in other areas. China could demand that future U.S. presidents issue similar warnings to Taiwanese leaders about independence and consult Beijing on arms sales as a cost of doing business. If future administrations decline to do so, China could use their refusal as a pretext for increasing its coercion of Taiwan and taking punitive actions against the United States. Call it linkage, Chinese-style.

In the meantime, Beijing is increasing its pressure on Taiwan. A few weeks after Xi’s summit with Trump, China launched what it called a “special maritime law enforcement operation” off Taiwan’s east coast in which its coast guard interfered with commercial shipping. The Chinese coast guard also entered prohibited waters near an island Taiwan controls in the South China Sea. With these two unprecedented actions, Beijing is aiming to assert its jurisdiction over Taiwan’s waters and set the foundation for a future quarantine of the island.

THINGS FALL APART

The concessions Xi is pushing Trump to make are designed to raise doubts about U.S. commitments to Taiwan, which in turn serves China’s goals of drawing Taiwan further into its orbit and weakening the United States’ regional alliance network. Most immediately, the damage to U.S. credibility threatens to undo important progress Taiwan has made in boosting its defenses. Taiwan’s defense budget has doubled in nominal terms over the last decade, now standing at 3.3 percent of GDP, and Taiwan is aiming for five percent of GDP by the end of the decade—the level of spending the Trump administration has demanded that NATO allies reach by 2035. In May, Taiwan’s legislature approved a $25 billion special defense budget to procure critical capabilities from the United States, such as air defense interceptors, surface-to-air missiles, and antitank and antiarmor missiles.

But if Taiwan can no longer trust that the United States will help it bolster its defenses through arms sales and potentially intervene on its behalf, Taiwanese politicians will have a harder time making the case that further spending will do much to help Taiwan deter or fight off a Chinese attack. According to a 2026 survey conducted in Taiwan, only 34 percent of respondents agreed that the United States “is a credible country.” This number had already declined by more than ten percentage points in the last five years, and Trump’s comments and vacillation on the arms sale could make it dip further. As confidence in Washington’s protection erodes, skeptical politicians will grow even more reluctant to fund defense budgets they consider ineffective. The argument for more accommodation of China will in turn gain traction. Beijing hopes to exploit this opening to push the opposition Kuomintang in a more overtly pro-Chinese direction and return a refashioned KMT to power in 2028.

Xi’s preference is to gain control of Taiwan without firing a shot.

The consequences of a reduction in U.S. support for Taiwan will not stop there. U.S. policy toward Taiwan is seen throughout the Indo-Pacific as a critical indicator of the strength of U.S. commitments. If Washington is willing to negotiate away its support for Taipei, other countries in the region will conclude that they can no longer count on the United States to ensure their security. Countries such as Japan and South Korea might embark on larger military buildups, contemplate acquiring nuclear weapons, and pursue a more autonomous foreign policy that does not necessarily align with U.S. interests. Most countries, however, would conclude that they had little choice but to accommodate Beijing’s preferences.

Either way, the alliance network that anchors the U.S. position in Asia and that remains Washington’s central advantage over Beijing would be severely damaged. Chinese influence would increase, potentially enabling Beijing to constrict U.S. trade and investment relationships in the region. The United States, facing a bolder China and without strong alliances to support it, would have to spend even more on defense to ensure its security.

Crucially, a perceived decline in U.S. support for Taiwan would make it harder for other countries to take steps to strengthen deterrence, further destabilizing the Taiwan Strait. In recent years, the United States has made significant progress in making Taiwan’s fate a matter of international concern. Bilateral statements with Australia, Japan, the Philippines, South Korea, the United Kingdom, and the European Union, as well as multilateral statements from the G-7, have highlighted the importance of preserving peace and stability in the Taiwan Strait. Washington has encouraged its allies and partners to deepen their cooperation with Taiwan and consider how they would contribute in the event of a conflict. These countries’ willingness to risk Beijing’s wrath depends on the assurance of Washington’s backing. If the United States downgrades its own commitments to Taiwan, they will reassess theirs, too.

REGAINING BALANCE

The United States has good reasons not to let China drive a wedge between Washington and Taipei. From a military perspective, Taiwan occupies a critical position along the first island chain, which stretches from Japan through Taiwan and the Philippines. If China were to gain control of Taiwan, it would have a much easier time projecting power in the Pacific Ocean and threatening U.S. territory, and the United States would struggle to defend its treaty allies, above all Japan and the Philippines, from Chinese aggression. China would be able to control the sea-lanes that Japan relies on for energy and food, giving Beijing inordinate leverage over Tokyo. And after Russia’s invasion and attempted conquest of Ukraine, a Chinese attack that resulted in the annexation of Taiwan would further weaken the global norm against changing the status quo by force. More countries would be emboldened to pursue revanchist claims, resulting in a world of even greater chaos.

Allowing Taiwan to fall under Chinese control would also be a devastating blow for liberal democracy. The Taiwanese people have built one of Asia’s strongest democracies despite facing an existential threat from a far more powerful authoritarian neighbor and operating largely in isolation from other countries. Taiwan stands as an example to China’s citizens that a majority ethnic Chinese society can thrive as a democracy. Extinguishing it would have a chilling effect on democratic aspirations not just in the region but around the world.

A conflict over Taiwan would be economically devastating, too. According to Bloomberg, such a war would shave $10 trillion off global output, a shock greater than the COVID-19 pandemic. This is largely because Taiwan produces the vast majority of the world’s most advanced semiconductors, which are needed for everything from smartphones to computers, weapons, and artificial intelligence servers. But chip production is not all that makes Taiwan central to the global economy. The entire AI supply chain runs through Taiwan and is supported by an ecosystem of hundreds of Taiwanese companies. Because of this, Taiwan is now the United States’ fourth-largest trading partner; the United States imports more from Taiwan than it does from China. Although Washington is seeking to reshore semiconductor production, Taiwan will be a crucial economic partner for the foreseeable future. The most advanced chips produced in the United States today still need to be shipped to Taiwan for post-processing. Even if reshoring is wildly successful, the bulk of the world’s most advanced chips will be produced in Taiwan for many years to come.

A worst-case scenario becomes more likely if China succeeds in its attempts to establish new norms for how the United States approaches Taiwan. But Washington can still disrupt Beijing’s strategy and undo the damage from Trump’s comments on Taiwan and his decision to pause arms sales. The first task is to approve the arms package. Xi may respond by canceling his September visit to Washington, but that would be a price well worth paying if he comes away understanding that Taiwan is not his for the taking.

For now, Xi is moving closer to the success he wants.

To ease the doubts about the U.S. commitment to Taiwan that Trump has sown will require more than new arms sales, however. The Trump administration needs to take further action to deter Chinese aggression, such as by helping Taiwan develop its domestic defense industry through joint ventures and technology transfers. Taiwan needs to invest now to ensure that it can quickly scale up production during a crisis, when resupplying the island will be enormously difficult. It needs U.S. help to do so.

Just as important, Washington should send a strong signal that it is committed to Taiwan’s protection and expects its partners to contribute to a U.S.-led defense. President Joe Biden made such a public commitment on four separate occasions, endorsing what we termed “strategic clarity” in Foreign Affairs in 2020. Although senior officials unfortunately walked back the president’s comments, what is notable is that Biden’s statements did not spark a crisis in U.S. relations with China. On the contrary, they might well have discouraged Beijing from testing U.S. will.

Making such a commitment credible today requires that the United States maintain sufficient military power in the region and that its forces are positioned to respond in a Taiwan contingency. It also requires that Washington push back against China’s attempts to assert its jurisdiction over Taiwan, such as by pursuing greater cooperation with Taiwan’s coast guard.

At the same time, the United States should make clear to China that it is not looking for a confrontation. It should reassure Beijing that Washington does not support Taiwan’s independence, that it continues to adhere to its “one China” policy, and that it would support any resolution of cross-strait differences that enjoys the consent of the Taiwanese people.

The United States has deterred Chinese aggression against Taiwan for decades and can continue to do so. The difficulty China’s military faces in launching an amphibious invasion, Taiwan’s defensive advantages, the United States’ upper hand in undersea warfare, and the combined power of allied forces all work in Washington’s favor—as long as the United States is seen as trustworthy by its partners, especially Taiwan and Japan.

But now, Washington must also hold off another line of attack from Beijing. An increasingly powerful, confident, and assertive China is attempting to squeeze Taiwan by persuading Washington to back away from Taipei one step at a time, beginning with delaying or canceling proposed arms sales. It is up to the Trump administration to stop playing into Xi’s hands—and to recognize that the surest way to prevent a conflict in the Taiwan Strait or a costly Chinese takeover of the island is to leave Beijing in no doubt about the United States’ commitment to Taiwan.

RICHARD HAASS is President Emeritus of the Council on Foreign Relations, Senior Counselor at Centerview Partners, and the author of a weekly Substack newsletter, Home & Away.

DAVID SACKS is Fellow for Asia Studies at the Council on Foreign Relations and the author of the forthcoming book The Realist: Hans Morgenthau and the Purpose of American Power.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

4277 - Ông Nguyễn Tất Trung qua đời

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?