4319 - Bản ghi nhớ giữa Mỹ và Iran có đề cập đến luật pháp quốc tế. Liệu điều này có thể được xem là nghiêm túc?

Marc Weller

Bản ghi nhớ khôi phục lệnh cấm sử dụng vũ lực, hướng tới một nghị quyết mang tính ràng buộc của Liên Hiệp Quốc nhằm phê chuẩn "thỏa thuận cuối cùng", đồng thời dựa vào các thể chế đa phương để thực thi thỏa thuận đó. Tuy nhiên, liệu Mỹ và Iran có thực sự quay trở lại tuân thủ luật pháp quốc tế hay không?

Một người phụ nữ đi ngang qua tấm biển quảng cáo có hình quốc kỳ Iran tại Quảng trường Enghelab ở Tehran vào ngày 14 tháng 6 năm 2026. (Ảnh: AFP qua Getty Images)

Kiến tạo hòa bình khó khăn hơn nhiều so với việc khơi mào chiến tranh. Tổng thống Donald Trump đã nhận thấy sự thật cay đắng này trong những tháng qua.

Giờ đây, khi thỏa thuận ngừng bắn – hay còn gọi là bản ghi nhớ (MoU) – đã được công bố, người ta có thể đối chiếu các nội dung đã thống nhất với các tiêu chuẩn của luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Tài liệu gồm 14 điểm này đáp ứng hầu như toàn bộ các yêu cầu của Iran – những yêu cầu vốn bị coi là hoàn toàn phi thực tế khi được đưa ra trong giai đoạn xung đột đang diễn ra gay gắt. Mỹ đang mất dần các đòn bẩy gây sức ép chủ chốt, dù là về mặt kinh tế hay quân sự. Trong khi đó, các nghĩa vụ hạt nhân của Iran vẫn chưa được xác định cụ thể. Các mục tiêu chiến tranh khác, chẳng hạn như việc ngăn chặn Iran hỗ trợ các lực lượng ủy nhiệm, lại không được đề cập trong văn bản này.

Nhưng liệu đây có thực sự là một thỏa thuận có tính ràng buộc pháp lý hay không? Một bản ghi nhớ có thể mang tính chất cam kết chính trị hoặc cam kết pháp lý. Tuy nhiên, một hiệp ước chính thức sẽ đòi hỏi phải có sự tư vấn và phê chuẩn từ Thượng viện Mỹ. Ngay trong câu mở đầu, bản ghi nhớ xác nhận rằng Mỹ và Iran "đã cùng thống nhất", điều này có thể ám chỉ một thỏa thuận pháp lý không chính thức – một thỏa thuận dựa trên tinh thần "thiện chí". Đây có lẽ là mức độ cam kết tối đa mà các bên có thể thực hiện để tránh tạo ra ấn tượng về một hiệp ước chính thức, đồng thời vẫn thể hiện rõ ý định tuân thủ của mình.

Các bên cam kết sẽ đàm phán về một "thỏa thuận cuối cùng" – một cụm từ không hẳn là thuật ngữ pháp lý chuyên môn để chỉ một giải pháp hòa bình toàn diện – trong thời hạn tối đa là 60 ngày. "Thỏa thuận cuối cùng" này dự kiến ​​sẽ được phê chuẩn thông qua một nghị quyết có tính "ràng buộc" của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Điều này sẽ bù đắp cho tính chất pháp lý mơ hồ của bất kỳ giải pháp cuối cùng nào, bằng cách khẳng định rằng tính ràng buộc pháp lý của thỏa thuận đó rốt cuộc sẽ bắt nguồn từ Hiến chương Liên Hợp Quốc.

Tuy nhiên, chính quyền Trump và Iran từng thể hiện thái độ coi thường Hiến chương Liên Hợp Quốc: Mỹ đã tấn công Iran mà không có lý do chính đáng và ám sát nhiều lãnh đạo cấp cao của nước này; trong khi Iran tấn công các nước láng giềng – những bên không tham chiến – và phong tỏa eo biển Hormuz. Nước này cũng đã thảm sát hàng ngàn công dân của chính mình. Liệu một thỏa thuận giữa các bên như vậy có thể được coi trọng đến mức nào? Và bản ghi nhớ (MoU) này cho chúng ta biết điều gì về tình trạng của luật pháp quốc tế?

Hòa bình sẽ được duy trì như thế nào?

Một số phần của bản ghi nhớ đề cập đến giai đoạn đầu kéo dài 60 ngày cho đến khi đạt được thỏa thuận cuối cùng. Tuy nhiên, nhiều điều khoản trong đó mang tính vĩnh viễn.

Điều này bao gồm tuyên bố chấm dứt "vĩnh viễn" các hoạt động quân sự trên mọi mặt trận, một cam kết không phụ thuộc vào việc đạt được thỏa thuận cuối cùng. Ngoài ra còn có cam kết của các bên về việc không khơi mào bất kỳ cuộc chiến tranh hay hoạt động quân sự nào chống lại nhau trong tương lai.

Bằng cách đó, các bên đang khôi phục nghĩa vụ theo Hiến chương Liên Hợp Quốc, vốn cấm đe dọa hoặc sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, trừ trường hợp tự vệ. Cam kết này sẽ được "xác nhận" trong thỏa thuận cuối cùng – mặc dù Iran sẽ khó có lòng tin vào các cam kết của Mỹ, do từng bị tấn công hai lần trong năm qua.

Bản ghi nhớ cam kết rằng Mỹ sẽ không triển khai thêm lực lượng đến khu vực, qua đó từ bỏ việc sử dụng các mối đe dọa vũ lực để thực thi thỏa thuận cuối cùng. Thực tế, Mỹ sẽ rút "lực lượng của mình khỏi khu vực lân cận" Iran trong vòng 30 ngày sau khi thỏa thuận cuối cùng được ký kết. Điều này liên quan thế nào đến việc triển khai lực lượng của Mỹ trong khu vực? Có lẽ nó bao gồm các khí tài hải quân, nhưng còn các căn cứ quân sự tại vùng Vịnh thì sao, và chính xác thì khu vực nào được coi là "lân cận" Iran? Tuy nhiên, việc chấp nhận hạn chế các hoạt động triển khai lực lượng (dưới bất kỳ hình thức nào) để đáp ứng những lo ngại về an ninh của Iran cho thấy Mỹ đã đưa ra một sự nhượng bộ lớn.

Bản ghi nhớ cũng mở rộng phạm vi ra ngoài Mỹ và Iran, khi đề cập đến "các đồng minh trong cuộc chiến hiện tại" của họ. Điều này đồng nghĩa với việc loại trừ khả năng Israel tiếp tục các cuộc tấn công nhắm vào Iran. Israel – dù không phải là một bên tham gia thỏa thuận – cũng phải kiềm chế sử dụng vũ lực chống lại Lebanon và tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nước này. Sự kiềm chế như vậy từ phía Israel khó có khả năng xảy ra, khiến điều khoản này trở thành một yếu tố gây mất ổn định thường trực trong thỏa thuận.

Mỹ cũng cam kết rõ ràng sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Iran theo quy định của luật pháp quốc tế – một diễn biến khá bất ngờ, xét đến việc Tổng thống Trump từng khuyến khích một cuộc nổi dậy của người dân vào tháng Hai.

Liệu Iran có thể thu phí tàu thuyền qua lại eo biển Hormuz không?

Trong bản ghi nhớ, Mỹ cam kết dỡ bỏ lệnh phong tỏa hải quân đối với các cảng của Iran trong vòng 30 ngày. Trong khoảng thời gian đó, Iran sẽ khôi phục hoạt động lưu thông qua eo biển Hormuz về mức trước chiến tranh. Vấn đề nảy sinh ở giai đoạn sau đó: biên bản ghi nhớ (MoU) chỉ buộc Iran phải nỗ lực hết sức để cho phép tàu thuyền thương mại qua lại an toàn mà không thu phí trong vòng 60 ngày.

Ngoài ra, văn kiện này có thể trao quyền cho Iran cùng với Oman xác định "cơ chế quản lý các dịch vụ hàng hải" trong tương lai tại Eo biển Hormuz. Điều này có thể được xem là sự cho phép ngầm để Iran và Oman thu phí quản lý hoạt động lưu thông qua eo biển.

Theo luật pháp quốc tế, các quốc gia có lãnh thổ giáp với những eo biển đòi hỏi kỹ thuật hàng hải phức tạp hoặc chịu sự điều chỉnh của một chế độ hiệp ước đặc biệt được phép thu các khoản phí hợp lý để trang trải chi phí hoa tiêu hoặc chi phí duy trì các thiết bị hỗ trợ hàng hải.

Tuy nhiên, trước khi chiến tranh nổ ra, không có khoản phí nào được thu cho các dịch vụ hàng hải liên quan đến Eo biển Hormuz. Và kể từ đó đến nay cũng không phát sinh nhu cầu về các dịch vụ bổ sung nào.

Dẫu vậy, bản ghi nhớ (MoU) lại hàm ý rằng Iran có thể sẽ bắt đầu thu một loại phí cầu đường trá hình. Điều này sẽ làm suy yếu thêm nghĩa vụ pháp lý quốc tế kiên quyết quy định rằng các quốc gia ven biển không được phép cản trở giao thông hàng hải qua các eo biển được sử dụng cho hoạt động hàng hải quốc tế.

Liệu bản ghi nhớ có buộc Iran phải từ bỏ vũ khí hạt nhân hay không?

Mỹ sẽ ngay lập tức dỡ bỏ các hạn chế đối với hoạt động xuất khẩu dầu mỏ và các dịch vụ liên quan của Iran, cho phép một nguồn thu nhập khổng lồ chảy vào Cộng hòa Hồi giáo này. Mỹ cũng cam kết dỡ bỏ mọi lệnh trừng phạt theo lộ trình sẽ được thống nhất trong thỏa thuận cuối cùng. Ngoài ra, văn bản cũng có điều khoản về việc sớm triển khai các bước giải phóng khối tài sản bị phong tỏa của Iran.

Nếu loại trừ các phương án như đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trở lại, hay tái áp đặt lệnh phong tỏa – những biện pháp mà Mỹ hiện đã từ bỏ – thì viễn cảnh này dường như chính là động lực để Iran từ bỏ kế hoạch phát triển vũ khí hạt nhân; điều được cho là mục tiêu chiến tranh hàng đầu của Mỹ.

"Nhiều vấn đề vẫn còn mơ hồ đến mức khó hiểu. Sự thiếu chi tiết này đang gây ra những rắc rối chính trị tại Washington cũng như trong nội bộ các đồng minh của Mỹ."

Trong bản ghi nhớ, Iran cam kết sẽ không sở hữu vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, đây không phải là một thành tựu gì mới mẻ, bởi đó vốn là lập trường chính thức của nước này trong nhiều năm qua.

Khi bắt đầu đàm phán, Mỹ yêu cầu Iran phải bàn giao toàn bộ vật liệu hạt nhân đã được làm giàu ở mức độ cao để xử lý tại nước ngoài. Thế nhưng, theo nội dung bản ghi nhớ, số vật liệu này giờ đây có thể được hạ mức làm giàu ngay tại Iran dưới sự giám sát của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA).

Mỹ cũng từng muốn Iran từ bỏ hoạt động làm giàu hạt nhân trong tương lai trong suốt nhiều thập kỷ. Vấn đề này giờ đây sẽ được thảo luận dựa trên "nhu cầu hạt nhân của Iran" – một cách tiếp cận khó có thể dẫn đến việc từ bỏ hoàn toàn hoạt động làm giàu hạt nhân.

Vậy, liệu đây có thực sự là một thỏa thuận đúng nghĩa? Liệu chính quyền Trump có thực sự chấp nhận nguyên tắc của Liên Hợp Quốc rằng không được sử dụng vũ lực để giải quyết các bất đồng quốc tế? Điều này có vẻ khó xảy ra: ngay khi ký thỏa thuận, Tổng thống đã đe dọa sẽ tấn công Iran một lần nữa.

Có thể kết luận rằng bản ghi nhớ (MoU) này giống một biện pháp "giữ thể diện" hơn, nhằm tạo điều kiện để quân đội Iran chấp nhận thỏa thuận. Nhiều cam kết của Mỹ về việc khôi phục tuân thủ các nghĩa vụ cốt lõi theo luật pháp quốc tế liên quan đến Iran chỉ là lời nói suông. Nếu vậy, thực tế là không có nhiều sự đồng thuận và dường như rất ít triển vọng để lấp đầy những lỗ hổng trong bản ghi nhớ này trong vòng 60 ngày tới.

Nhiều vấn đề vẫn còn mơ hồ đến mức bất khả thi. Sự thiếu chi tiết này đang gây ra các vấn đề chính trị tại Washington và trong nội bộ các đồng minh của Mỹ, đặc biệt là khoản tiền 300 tỷ USD mà bản ghi nhớ dành cho "công cuộc tái thiết và phát triển kinh tế của Iran". Số tiền này sẽ được huy động từ đâu và từ ai?

Hơn nữa, bản ghi nhớ còn phụ thuộc vào sự đồng thuận của các bên không tham gia vào văn bản này. Việc nới lỏng các lệnh trừng phạt ngoài phạm vi của Mỹ đòi hỏi sự đồng ý từ Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và Liên minh Châu Âu. Các tài sản bị phong tỏa của Iran đang nằm tại nhiều khu vực pháp lý bên ngoài nước Mỹ. Hòa bình tại Lebanon phụ thuộc vào sự tuân thủ của Israel, trong khi quan hệ giữa các bên dường như đang căng thẳng.

Có lẽ quan trọng nhất là bản ghi nhớ yêu cầu IAEA (Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế) tổ chức giám sát chương trình hạt nhân của Iran. Đây là một cơ quan độc lập hoạt động trong khuôn khổ lỏng lẻo của Liên Hợp Quốc – chính xác là kiểu thể chế đa phương mà chính quyền Trump không tin tưởng.

Trớ trêu thay, để thoát khỏi cuộc chiến của mình, Mỹ buộc phải quay lại dựa vào sự hợp tác quốc tế và các thể chế của hệ thống quốc tế. Đồng thời, nước này cũng buộc phải chấp nhận – ít nhất là trên danh nghĩa – các nguyên tắc của trật tự quốc tế mà trước đó họ từng gạt bỏ.

Sau vụ việc cưỡng chế đưa Tổng thống Maduro rời khỏi Venezuela hồi tháng Một, có lẽ Tổng thống đã tin rằng vũ lực lại là một công cụ hữu hiệu. Tuy nhiên, bản ghi nhớ này cho thấy chiến tranh vẫn là điều không mong muốn, đúng như nhận định của những người sáng lập hệ thống Liên Hợp Quốc.

Marc Weller
Giám đốc Trung tâm Quản trị và An ninh Toàn cầu, Chương trình Luật Quốc tế, Chatham House

https://www.chathamhouse.org/2026/06/us-iran-memorandum-understanding-nods-international-law-can-be-taken-seriously

***

The US–Iran memorandum of understanding nods to international law. Can that be taken seriously?

The memorandum restores the prohibition on the use of force, seeks a binding resolution at the UN to endorse a ‘final deal,’ and relies on multilateral institutions to implement it. But are the US and Iran really returning to compliance with international law?

A woman walks past a billboard displaying Iran's national flag at Enghelab Square in Tehran on 14 June 2026. (Photo by AFP via Getty Images)

Making peace is more difficult than starting wars. President Donald Trump has found this to be painfully true over the past months.

Now that a ceasefire arrangement, or memorandum of understanding (MoU), has been made public, it is possible to measure what has been agreed against the standards of international law and practice. 

The 14-point document accommodates virtually the full catalogue of Iranian demands, which would have seemed entirely unrealistic when made during the active conflict. The US is losing its key pressure points, whether economic or military. And Iran’s nuclear obligations are yet to be determined. Other war aims, like stopping Iranian support for proxy forces, do not feature in the instrument.

But is this a legally binding agreement at all? An MoU can be a political or a legal undertaking. But a formal treaty would require advice and consent from the US Senate. In its opening sentence, the MoU confirms that the US and Iran ‘have jointly agreed,’ which might suggest an informal legal agreement – one which rests on ‘good faith’. This is probably as far as the sides could go to avoid giving the impression of a formal treaty, while indicating their intention to comply.

The sides commit to negotiating a ‘final deal’ – not exactly a technical legal term for a comprehensive peace settlement – within a maximum of 60 days.  The ‘final deal’ is to be endorsed by a ‘binding’ resolution of the UN Security Council. This would compensate for the ambiguous legal nature of any final settlement by confirming that its legally binding character will ultimately emanate from the UN Charter.

But the Trump administration and Iran have shown contempt for the UN Charter: The US attacked Iran without permissible cause and assassinated much of its leadership; Iran attacked its neighbours – non belligerents – and closed the Strait of Hormuz. It has also massacred thousands of its own citizens. How seriously can an agreement between such parties be taken? And what does the MoU tell us about the state of international law?

How will peace be maintained?

Parts of the memorandum cover the initial period of 60 days until the final deal is reached. However, many of its provisions are permanent.

This includes the declaration of a ‘permanent’ termination of military operations on all fronts, which is not contingent on achieving the final deal. There is also a pledge by the parties not to initiate any war or military operation against each other in the future. 

By doing so, the sides are restoring the obligation under the UN Charter that prohibits the threat or use of force among states other than in self-defence. This undertaking is to be ‘confirmed’ in the final deal – though Iran will have little faith in US commitments, having been attacked twice over the past year.

The MoU promises that the US will not deploy additional forces to the region, thus renouncing further threats of force to enforce the final deal. Indeed, it will remove ‘its forces from the proximity’ of Iran within 30 days after the final deal. How does this relate to US deployments in the region? Presumably it includes naval assets, but how about its Gulf military bases, and what precisely lies within the ‘proximity’ of Iran? But, by accepting that its deployments of whichever kind will be limited in deference to Iranian security concerns, the US has made a major concession.

The MoU also extends beyond the US and Iran, as it references their ‘allies in the current war.’ This would exclude further Israeli strikes against Iran. Israel, not a party to the deal, must also refrain from the use of force against Lebanon and respect its territorial integrity. Such restraint by Israel looks unlikely, rendering this provision a permanent, destabilizing element in the deal.

The US also expressly undertakes to refrain from interfering in the internal affairs of Iran as required by international law – another rather extraordinary turn of events, given President Trump’s encouragement of a popular revolt in February. 

Can Iran charge fees for passage of the Strait of Hormuz?

In the memorandum the US pledges to remove its naval blockade of Iranian harbours within 30 days. During that period, Iran will restore traffic through the Strait of Hormuz to pre-war levels. The troublesome element arises afterwards: the MoU obliges Iran to use ‘its best efforts’ to allow the safe passage of commercial vessels with no charge for 60 days only. 

Beyond that, the instrument could entitle Iran to define the ‘future administration of maritime services’ in the Strait of Hormuz in dialogue with Oman. This can be seen as an implied licence for Iran and Oman to impose a fee for the administration of passage. 

It is accepted in international law that countries bordering straits that require complex navigation or are subject to a special treaty regime can charge modest fees to cover pilotage charges or the cost of maintaining navigations aids.

However, there were no fees charged for maritime services relating to the Strait of Hormuz before the war. And no needs for additional services have arisen since. 

Yet the MoU implies that Iran may begin collecting a disguised toll after all. This would further dilute the firm obligation in international law that coastal states must not interfere with maritime traffic through straits used for international navigation. 

Does the memorandum oblige Iran to abandon nuclear weapons?

The US will now immediately lift restrictions on Iranian oil exports and associated services, allowing vast income to flow into the Islamic Republic. The US also pledges to lift all sanctions according to a schedule to be agreed in the final deal. There is also provision for early work on releasing Iranian frozen assets. 

Short of the option of threatening or using force again, or re-instituting a blockade, which the US has now disowned, this prospect alone seems to be the incentive for Iran to abandon plans for a nuclear weapon – supposedly the principal war aim of the US. 

"Much is left impossibly vague. This lack of detail is already creating political problems in Washington and among US allies."

Iran pledges in the memorandum that it will not acquire nuclear weapons. But this is no achievement – that has been its formal position for many years.

The US opened the negotiations demanding that Iran must surrender all highly enriched nuclear material for treatment abroad. But according to the MoU, the material may now be down-blended in Iran under the supervision of the International Atomic Energy Agency (IAEA).

The US had also wanted Iran to renounce future nuclear enrichment for several decades. This is now to be discussed in view of ‘Iran’s nuclear needs’ – hardly a pointer towards total abandonment of enrichment.  

Is this a real agreement then?

Has the Trump administration really embraced the UN principle that the use of force must not be used to settle international differences? It seems unlikely: the president threatened to attack Iran again on signing the agreement.

It is possible to conclude that the MoU is more of a face-saving device, with the purpose of allowing the Iranian military to accept a deal. Many US commitments to restoring compliance with key obligations under international law in relation to Iran are words only. If so, there is in fact little agreement and there seems little prospect the gaps in the MoU can be filled over the next 60 days. 

Much is left impossibly vague. This lack of detail is already creating political problems in Washington and among US allies, particularly the $300 billion the MoU allocates ‘for the reconstruction and economic development of Iran’. Where will this money be collected, and from whom? 

Moreover, the MoU relies on the agreement of others not involved in it. Sanctions relief beyond the US requires agreement from the UN Security Council and from the European Union. Frozen Iranian assets are held in many jurisdictions beyond the US. Peace in Lebanon relies on compliance from Israel, when ties appear strained

Perhaps most importantly, the MoU requires the IAEA to arrange for the supervision of Iran’s nuclear programme. This is an independent agency loosely within the ambit of the UN – precisely the kind of multilateral institution the Trump administration distrusts. 

Ironically, to extricate itself from its war, the US has been forced back into reliance on international cooperation and the institutions of the international system. And it is being forced to accept, at least nominally, the  principles of the international order it had cast aside. 

After January’s forcible extraction of President Maduro from Venezuela, it may have seemed to the president that force was once again a useful tool. But this memorandum suggests war is every bit as undesirable as the founders of the UN system believed.

Marc Weller

Director, Global Governance and Security Centre, International Law Programme, Chatham House

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

4277 - Ông Nguyễn Tất Trung qua đời

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?