4258 - Canh bạc sai lầm của Thung lũng Silicon tại vùng Vịnh
Vì sao kế hoạch phát triển AI này đã định sẵn thất bại ngay từ đầu
Sau các cuộc tấn công tại Sharjah, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), tháng 3 năm 2026. Ảnh: Amr Alfiky / Reuters
Khi Tổng thống Donald Trump trở về sau chuyến công du vùng Vịnh vào tháng 5 năm 2025, ông đã công bố rầm rộ về các thỏa thuận song phương trị giá 2,2 nghìn tỷ USD mà Hoa Kỳ ký kết với Qatar, Ả Rập Xê Út và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE). Bên cạnh các quan hệ đối tác về quốc phòng và kinh tế, một phần đáng kể trong các thỏa thuận này tập trung vào trí tuệ nhân tạo (AI)—cụ thể là việc xây dựng cơ sở hạ tầng AI của Mỹ tại vùng Vịnh. Đối với các công ty công nghệ Mỹ, đề xuất này vô cùng hấp dẫn: nguồn năng lượng dồi dào với chi phí thấp, khả năng tiếp cận nguồn vốn từ các quỹ đầu tư quốc gia, rào cản pháp lý thấp hơn đối với việc xây dựng trung tâm dữ liệu, và sự chấp thuận của chính phủ Mỹ cho việc bán các loại chip vốn trước đây bị hạn chế xuất khẩu. Về phía Washington, các thỏa thuận này mang lại cơ hội đẩy nhanh tiến bộ trong năng lực AI của Mỹ, đồng thời khuyến khích các nước vùng Vịnh giảm bớt hợp tác với Trung Quốc trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, những sự kiện gần đây đã bộc lộ một rủi ro lớn: cơ sở hạ tầng vốn là nền tảng cho công nghệ quan trọng này đang bị tấn công và rơi vào vòng xoáy của một cuộc chiến mà nó chưa hề được chuẩn bị để đối phó. Vào ngày 1 tháng 3, Iran đã tấn công hai trung tâm dữ liệu của Amazon Web Services (AWS) tại UAE bằng một loạt máy bay không người lái Shahed; một cơ sở của AWS tại Bahrain cũng bị hư hại, nhiều khả năng do mảnh vỡ từ một vụ tấn công gần đó. Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) tuyên bố rằng các cơ sở này hỗ trợ hoạt động AI của quân đội Mỹ, điều có thể khiến chúng trở thành mục tiêu hợp pháp theo luật xung đột vũ trang. (Mặc dù quân đội Mỹ có sử dụng dịch vụ của AWS, nhưng không có bằng chứng công khai nào cho thấy các cơ sở cụ thể này hỗ trợ hoạt động quân sự của Mỹ như IRGC đã cáo buộc.) Việc eo biển Hormuz thực tế bị phong tỏa và tình trạng gián đoạn tại Biển Đỏ cũng đe dọa các tuyến cáp ngầm vốn truyền tải phần lớn lưu lượng dữ liệu giữa châu Á, châu Âu và vùng Vịnh.
Các chiến dịch tấn công này đang gây ra những tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn cho người dùng các mạng lưới đó, bao gồm cả dân sự và quân sự. Tuy nhiên, vấn đề lớn hơn nằm ở chỗ: hoạt động đầu tư tại vùng Vịnh không chỉ giới hạn trong các quan hệ đối tác công nghệ song phương mới giữa Hoa Kỳ và một số ít các quốc gia quân chủ vùng Vịnh. Nó còn tạo ra một mạng lưới phụ thuộc kỹ thuật số lan rộng tới hàng chục quốc gia khác—những nước vốn không có tiếng nói trong thỏa thuận này và cũng không hề hay biết về những rủi ro mà họ đang phải gánh chịu. Việc Mỹ đặt cược vào khu vực Vịnh để phát triển cơ sở hạ tầng AI là một sai lầm. Khi khuyến khích các công ty Mỹ xây dựng cơ sở hạ tầng trọng yếu—vốn dễ bị tổn thương và khó di dời—tại khu vực Vịnh, Washington đã đánh cược vào một môi trường an ninh bất ổn; tình trạng này thường bắt nguồn, ít nhất là một phần, từ các hành động can thiệp của chính Mỹ, bao gồm cả cuộc chiến gần đây với Iran. Một khi các khoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số đã được thực hiện, sự phụ thuộc nảy sinh từ đó rất khó đảo ngược: các dự án cơ sở hạ tầng vật lý trị giá hàng tỷ đô la không thể đơn giản là bị ngắt bỏ, và nguồn vốn đầu tư cũng khó có thể tái phân bổ dễ dàng, đặc biệt là khi chúng đóng vai trò nền tảng cho một trong những công nghệ giá trị nhất thế giới hiện nay. Những chi phí mà các công ty, người tiêu dùng và lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ đang phải gánh chịu nhiều khả năng sẽ tiếp diễn, hoặc thậm chí gia tăng hơn nữa. Một số dự án đã chạm đến điểm không thể quay đầu, và các công ty có lẽ sẽ phải tự gánh chịu những khoản chi phí đó. Tuy nhiên, đối với các khoản đầu tư mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình xây dựng và lập kế hoạch, các công ty công nghệ nên cân nhắc lại việc chuyển hướng sang khu vực Vịnh và hợp tác với Washington để đưa các dự án trở lại nơi an toàn nhất—và cũng ngày càng có lợi thế về chi phí khi giá năng lượng cùng các chi phí khác gia tăng—chính là Hoa Kỳ.
Phản ứng dây chuyền trong chuỗi cung ứng
Khu vực Vịnh hiện sở hữu khoảng 1,5% năng lực tính toán toàn cầu—con số này gấp đôi tỷ trọng dân số của khu vực so với thế giới. Tỷ lệ này có vẻ nhỏ, nhưng năng lực tính toán tại đây đang tăng trưởng ở mức khoảng 9% mỗi năm. Các thỏa thuận đầy tham vọng bắt nguồn từ chuyến công du khu vực Vịnh năm 2025 của ông Trump đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng nhanh chóng này. AMD, một công ty sản xuất chip của Mỹ, đã công bố quan hệ đối tác trị giá 10 tỷ USD với Humain—doanh nghiệp AI thuộc quỹ đầu tư quốc gia của Ả Rập Xê Út. Nhà sản xuất chip Nvidia của Mỹ cũng cam kết cung cấp 18.000 con chip tiên tiến để vận hành cơ sở hạ tầng AI của Ả Rập Xê Út. Một liên danh các công ty Mỹ đã bắt đầu lên kế hoạch xây dựng một khu phức hợp AI cùng công ty AI G42 của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) trong khuôn khổ Quan hệ Đối tác Thúc đẩy AI Mỹ-UAE được ký kết trong chuyến đi này. Các tuyến cáp ngầm dưới biển Đỏ hiện truyền tải ước tính 90% lưu lượng dữ liệu giữa châu Âu và châu Á, cũng như khoảng 17% tổng lưu lượng Internet toàn cầu.
Khi các trung tâm dữ liệu của Amazon tại UAE ngừng hoạt động, thiệt hại đã lan rộng khắp nền kinh tế kỹ thuật số của vùng Vịnh, làm tê liệt các ngân hàng lớn, ứng dụng thanh toán, dịch vụ gọi xe và giao hàng, các nhà cung cấp phần mềm doanh nghiệp, cũng như một số hoạt động của ít nhất một công ty dữ liệu lớn của Mỹ là Snowflake. Tuy nhiên, tác động của vụ tấn công không chỉ giới hạn ở Trung Đông. Nhiều công ty bị ảnh hưởng thậm chí không hoạt động tại khu vực này nhưng lại sử dụng các nhà cung cấp dịch vụ đám mây có luồng dữ liệu đi qua các máy chủ đặt tại vùng Vịnh. Một số công ty thậm chí còn không hay biết rằng dữ liệu của họ được truyền qua vùng Vịnh cho đến khi các máy chủ đó gặp sự cố.
Khung kế hoạch phát triển AI tại vùng Vịnh vốn không được thiết kế để đối phó với những rủi ro kiểu này. Phần lớn kế hoạch được định hướng bởi sáng kiến Pax Silica—một nỗ lực do Mỹ dẫn đầu nhằm đảm bảo an ninh cho chuỗi cung ứng AI. Kể từ khi sáng kiến này ra đời vào tháng 12, Qatar, UAE cùng 12 quốc gia khác tại châu Âu và châu Á đã tham gia ký kết thỏa thuận. Tuy nhiên, các cơ chế được đề xuất—bao gồm liên doanh, đồng đầu tư và hợp lực mua sắm để đạt được các thỏa thuận có lợi hơn—lại được thiết kế để quản lý cuộc cạnh tranh công nghệ với Trung Quốc trong thời bình, chứ không phải để bảo vệ chuỗi cung ứng vật lý trước tên lửa và máy bay không người lái. Các cơ chế này giải quyết những mối quan ngại quan trọng về cạnh tranh, chẳng hạn như các biện pháp ngăn chặn việc chuyển hướng chip tiên tiến sang các đối thủ của Mỹ; thẩm định cơ cấu sở hữu nước ngoài (như trường hợp mối liên hệ trước đây giữa G42 và Huawei); và thiết lập các yêu cầu báo cáo, giám sát đối với phần cứng của Mỹ được triển khai ở nước ngoài. Thế nhưng, ngoài những tuyên bố chung chung kêu gọi "tăng cường hơn nữa hợp tác về an ninh kinh tế và an ninh quốc gia", sáng kiến này hầu như không đề cập đến kịch bản khi chính cơ sở hạ tầng trở thành mục tiêu quân sự.
Việc một trung tâm dữ liệu thương mại có thể trở thành mục tiêu quân sự hợp pháp là điều đã được dự báo trước. Các chuyên gia pháp lý đã tranh luận về khả năng này trong nhiều năm. Các tuyến cáp ngầm dưới biển cũng từng là mục tiêu tấn công tại Biển Baltic, khu vực quanh Đài Loan và thậm chí ở Biển Đỏ—nơi giao tranh quanh Yemen vào năm 2024 đã làm hư hại ba tuyến cáp. Điểm mới trong vụ tấn công vào AWS hồi tháng 3 chỉ nằm ở phương thức thực hiện: sử dụng tên lửa và máy bay không người lái tấn công trực tiếp vào trung tâm dữ liệu, thay vì dùng mỏ neo quét qua đáy biển.
Mỹ đã dành nhiều thập kỷ để xây dựng các khuôn khổ bảo vệ cơ sở hạ tầng trọng yếu trong nước trước chính những mối đe dọa kiểu này, bao gồm việc xác định các lĩnh vực cơ sở hạ tầng là trọng yếu và quy định các tiêu chuẩn an ninh vật lý cho lưới điện. Tuy nhiên, vì lý do nào đó—có thể là do tâm lý chủ quan về an ninh khu vực, hoặc do không muốn làm mất lòng các đối tác đàm phán—họ đã không áp dụng tư duy tương tự đối với cơ sở hạ tầng mà họ khuyến khích các công ty Mỹ xây dựng ở nước ngoài.
Không nằm trong thỏa thuận
Đối với nhiều công ty, những tính toán từng khiến khu vực Vịnh trở nên hấp dẫn vào tháng 5 năm 2025 nay không còn giá trị. Không có cách nào thực tế để bảo vệ một trung tâm dữ liệu thương mại trước tên lửa hành trình hay các đợt tấn công bằng đàn máy bay không người lái (drone). Việc gia cố lại trung tâm dữ liệu như một cơ sở quân sự vừa tốn kém quá mức vừa rốt cuộc vẫn không mang lại hiệu quả bảo vệ toàn diện. Như thực tế cuộc chiến kéo dài giữa Nga và Ukraine đã chứng minh, không hệ thống phòng không nào có thể đánh chặn 100% các đợt tấn công; trong khi đó, để phát huy giá trị thương mại, cơ sở hạ tầng AI cần phải vận hành gần như liên tục.
Vấn đề cấp bách nhất đối với các doanh nghiệp là trách nhiệm pháp lý. Phương thức mà nhiều công ty sử dụng để biện minh cho việc ngừng hoạt động—và qua đó hạn chế trách nhiệm pháp lý của mình—là thông báo về tình trạng bất khả kháng; cơ chế này cho phép công ty miễn trừ nghĩa vụ vận hành theo dự kiến do các sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát. Tuy nhiên, các tòa án và giới chuyên gia pháp lý đã phát tín hiệu rằng những lập luận bào chữa như vậy có thể không được chấp nhận tại Trung Đông—khu vực vốn có lịch sử bất ổn chính trị và xung đột kéo dài nhiều thập kỷ. Các công ty ký kết hợp đồng trong hoặc sau giai đoạn căng thẳng leo thang rõ rệt có thể đối mặt với việc các công ty bảo hiểm hoặc tòa án coi sự gián đoạn do xung đột quân sự là một rủi ro có thể lường trước. Chuỗi trách nhiệm pháp lý liên đới rất phức tạp: mọi khách hàng doanh nghiệp bị gián đoạn hoạt động do sự cố ngừng dịch vụ của AWS hiện đang xem xét lại vị thế pháp lý trong hợp đồng của mình; và nếu không có điều khoản cụ thể nào quy định khác, các nhà cung cấp dịch vụ đám mây có thể buộc phải gánh chịu tổn thất cũng như bồi thường cho khách hàng vì sự gián đoạn dịch vụ.
Do đó, các công ty AI đang có dự án dang dở phải đánh giá lại tính khả thi của chúng. Chi phí xây dựng các trung tâm dữ liệu mới tại vùng Vịnh đang tăng mạnh do nhu cầu bổ sung hệ thống dự phòng, tăng cường các biện pháp an ninh vật lý và chi trả phí bảo hiểm cao hơn. Khi 12 thành viên của International Group of P&I Clubs — một nhóm các hiệp hội bảo hiểm tương hỗ cung cấp bảo hiểm trách nhiệm hàng hải cho 87% tổng trọng tải tàu biển toàn cầu — thông báo hủy bỏ phạm vi bảo hiểm rủi ro chiến tranh hàng hải tại vùng Vịnh, điều này đã phát đi tín hiệu cho thị trường bảo hiểm rộng lớn hơn rằng mức độ rủi ro của khu vực này đã thay đổi về cơ bản. Đối với một số dự án tại vùng Vịnh, tổng chi phí sau khi điều chỉnh hiện đã vượt quá chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng có năng lực tương đương tại những nơi có giá năng lượng thường cao hơn, chẳng hạn như Bắc Âu, Ấn Độ, hoặc miền Nam và miền Tây Hoa Kỳ.
Những tính toán từng khiến vùng Vịnh trở thành điểm đến hấp dẫn vào tháng 5 năm 2025 nay không còn giá trị.
Các công ty đang trong giai đoạn lập kế hoạch vẫn có thể chọn tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng AI tại vùng Vịnh. Trên lý thuyết, các gói ưu đãi từ chính phủ các nước vùng Vịnh vẫn rất hấp dẫn. Tuy nhiên, nhiều công ty có khả năng sẽ chọn cách cắt lỗ và chuyển hướng sang nơi khác. Mọi đánh giá trung thực vào lúc này đều cần tính đến chi phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh — mức phí đã tăng khoảng gấp năm lần kể từ khi xung đột nổ ra — cũng như chi phí an ninh, rủi ro trách nhiệm pháp lý trong các tình huống bất khả kháng, hậu quả về mặt uy tín khi hoạt động tại vùng đang có xung đột, và khả năng giao tranh có thể tái bùng phát bất cứ lúc nào.
Các công ty đang hoạt động tại vùng Vịnh không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phân tán rủi ro. Amazon, Microsoft, Google và Oracle — bốn doanh nghiệp thống lĩnh thị trường — mỗi công ty đều vận hành ít nhất hai cụm trung tâm dữ liệu trong khu vực, phục vụ các hoạt động đa dạng như hệ thống ngân hàng khu vực và ứng dụng di động dành cho người tiêu dùng. Tất cả họ sẽ cần chuyển các khối lượng công việc đặc biệt nhạy cảm sang các cơ sở ở khu vực khác và tăng cường phạm vi bảo hiểm cho phần công việc còn lại. Họ cũng phải minh bạch hơn về các hoạt động của mình tại vùng Vịnh. Nhiều khách hàng không biết rằng dữ liệu của họ được xử lý qua các trung tâm dữ liệu tại vùng Vịnh; điều này tiềm ẩn nguy cơ gây bức xúc hoặc thậm chí dẫn đến kiện tụng nếu xảy ra sự cố gián đoạn dịch vụ trong tương lai. Các công ty sẽ được bảo vệ tốt nhất nếu công khai tách biệt dữ liệu và dự án quân sự khỏi các hoạt động thương mại ở mức tối đa có thể, đồng thời đặt các hoạt động thực sự nhạy cảm ở bên ngoài khu vực Trung Đông.
Có khả năng là không có cơ sở hạ tầng kỹ thuật số nào tại vùng Vịnh được sử dụng riêng cho các hoạt động quân sự. Tuy nhiên, chừng nào quân đội Mỹ còn hoạt động tại Trung Đông, cơ sở hạ tầng của Mỹ vẫn sẽ là mục tiêu tấn công—đặc biệt là khi các công ty AI thương mại ngày càng đảm nhận nhiều chức năng liên quan đến quốc phòng. Đây là vấn đề không chỉ đối với Mỹ mà còn đối với các đối tác của nước này. Viễn cảnh trở thành trung tâm AI toàn cầu từng hứa hẹn mang lại việc làm mới, lợi nhuận cao cho các quỹ tài sản quốc gia vùng Vịnh và uy tín về công nghệ. Đồng thời, điều này cũng biến các quốc gia vùng Vịnh thành những mục tiêu có giá trị cao hơn trong mắt bất kỳ đối thủ nào của Mỹ. Chừng nào các nhà cung cấp dịch vụ đám mây AI của Mỹ còn vận hành các cơ sở có khả năng phục vụ chức năng chính phủ Mỹ trên lãnh thổ các nước này, ranh giới giữa cơ sở hạ tầng dân sự và quân sự sẽ trở nên mờ nhạt trong mắt các đối thủ. Mọi hợp đồng trong tương lai tại khu vực này sẽ cần có các điều khoản quy định rõ ràng về trách nhiệm pháp lý trong trường hợp xảy ra hành động quân sự do nhà nước bảo trợ—những yếu tố mà các thỏa thuận mẫu thời bình chưa giải quyết thỏa đáng. Các công ty hiện đã bắt đầu đa dạng hóa địa điểm hoạt động, chuyển hướng các dự án sang Bắc Âu, Đông Nam Á và Ấn Độ.
Vượt ra ngoài khuôn khổ Pax Silica
Việc chính phủ Mỹ tích cực thúc đẩy phát triển AI tại vùng Vịnh thông qua các thỏa thuận đầu tư song phương, phê duyệt xuất khẩu chip và khuôn khổ Pax Silica là một sai lầm lớn trong tính toán, đặc biệt là khi xét đến các hành động sau đó của Mỹ đối với Iran. Mạng lưới các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau hình thành từ những hành động này có nguy cơ gây tổn hại đến cả lợi ích kinh tế lẫn an ninh quốc gia của Mỹ. Ngay cả khi Washington thực sự muốn rút bớt lực lượng quân sự khỏi Trung Đông—điều mà họ chưa hề thể hiện rõ—tình trạng bất ổn triền miên tại khu vực này khiến nó trở thành nơi không phù hợp để đặt các công nghệ then chốt đối với tăng trưởng kinh tế và cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc. Các khuôn khổ hợp tác công nghệ cần tính đến không chỉ tính toàn vẹn của chuỗi cung ứng và lợi ích kinh tế, mà còn cả an ninh vật lý của cơ sở hạ tầng trọng yếu đó cũng như những hậu quả thảm khốc có thể xảy ra nếu cơ sở hạ tầng này bị hư hại.
Giải pháp không nằm ở việc rút khỏi thỏa thuận Pax Silica hay để nó dần lụi tàn trong im lặng. Các thỏa thuận về chip và khuôn khổ Pax Silica vốn nhằm mục đích kéo vùng Vịnh vào quỹ đạo công nghệ của Mỹ và tách khỏi Trung Quốc; việc rút lui có thể gây tác dụng ngược, làm tổn hại các mối quan hệ quan trọng với các nước vùng Vịnh và tiếp thêm sự tự tin cho Bắc Kinh. Hành động can thiệp của Mỹ vào Iran đã mở ra cơ hội cho Trung Quốc: các công ty như Huawei hiện đang thuyết phục khách hàng tại vùng Vịnh về những rủi ro của việc "phụ thuộc vào một khu vực duy nhất".
Thay vào đó, Hoa Kỳ nên tập trung củng cố và phát triển hợp tác về AI trong các lĩnh vực mang lại nhiều lợi thế hơn—chẳng hạn như việc hợp nhất sức mua của Hoa Kỳ và các quốc gia vùng Vịnh đối với nguồn cung khoáng sản thiết yếu và khôi phục năng lực sản xuất ngay tại lãnh thổ của các nước đồng minh—đồng thời từng bước rút lại các cam kết liên quan đến cơ sở hạ tầng trọng yếu dễ bị tổn thương. Các khối lượng công việc có thể được chuyển dịch, các khoản đầu tư trong tương lai có thể được tái định hướng, và những dự án vẫn đang trong giai đoạn lập kế hoạch hoàn toàn có thể được xem xét lại từ đầu.
Cơ hội để đưa ra những quyết định này đang dần khép lại. Quan điểm cho rằng cuộc xung đột hiện nay chỉ là một sự kiện bất thường thay vì là điềm báo cho tương lai của khu vực đang ngày càng trở nên thiếu sáng suốt. Các gói ưu đãi đầu tư vào vùng Vịnh vốn được thiết kế cho thời bình nay đã trở nên không còn phù hợp. Hoa Kỳ và các đồng minh càng trì hoãn việc bảo vệ cơ sở hạ tầng trọng yếu (thông qua việc di dời sang nơi khác) và tái định hình quan hệ đối tác về AI, thì quá trình này sẽ càng trở nên tốn kém, phức tạp và rốt cuộc là nguy hiểm hơn.
AARON BARTNICK là Nghiên cứu viên không thường trú tại Trung tâm Chính sách Năng lượng Toàn cầu thuộc Đại học Columbia. Trong giai đoạn 2024–2025, ông từng giữ chức Trợ lý Giám đốc phụ trách An ninh và Quản trị Công nghệ tại Văn phòng Chính sách Khoa học và Công nghệ thuộc Nhà Trắng.
https://www.foreignaffairs.com/persian-gulf/silicon-valleys-bad-bet-gulf
***
Silicon Valley’s Bad Bet on the Gulf
Why the AI Build-Out Was Doomed From the Start
After strikes in Sharjah, United Arab Emirates, March 2026 Amr Alfiky / Reuters
When President Donald Trump returned from a trip to the Gulf in May 2025, he trumpeted $2.2 trillion in bilateral deals the United States had signed with Qatar, Saudi Arabia, and the United Arab Emirates. In addition to defense and economic partnerships, a significant share of those deals addressed artificial intelligence—and, specifically, building American AI infrastructure in the Gulf. The proposition for American technology companies was compelling: abundant cheap energy, access to capital from sovereign wealth funds, lower regulatory barriers for data center construction, and U.S. government approval for previously restricted chip sales. For Washington, the deals offered an opportunity to speed up advancements in American AI capabilities and incentivize the Gulf to partner less with China on AI.
But recent events have revealed a major risk: the infrastructure that such critical technology relies on is under attack, caught in the crossfire of a war it was not prepared for. On March 1, Iran hit two Amazon Web Services data centers in the UAE with a barrage of Shahed drones; an AWS facility in Bahrain was also damaged, likely with debris from a nearby strike. The Islamic Revolutionary Guard Corps claimed the facilities supported U.S. military AI operations, which could make them legitimate targets under the laws of armed conflict. (Although the U.S. military uses AWS, there is no publicly available evidence that these particular facilities supported U.S. military operations, as the IRGC claimed.) The effective closure of the Strait of Hormuz and disruption in the Red Sea also put at risk the submarine cables that carry the vast majority of data traffic between Asia, Europe, and the Gulf.
These campaigns are inflicting serious short-term costs on the users of those networks, both civilian and military. But the bigger problem is that investment in the Gulf is not limited to new bilateral technology partnerships between the United States and a handful of Gulf monarchies. It has also created a web of digital dependencies that now extends to dozens of countries that had no say in the arrangement and no awareness of the risk they were assuming.
The U.S. bet on the Gulf for AI infrastructure was a mistake. By encouraging U.S. companies to build vulnerable and immobile critical infrastructure in the Gulf, Washington gambled on an unstable security environment—often a result, at least in part, of U.S. intervention, including the latest war with Iran. Once digital infrastructure investments are made, the dependencies that develop are hard to reverse: multibillion-dollar physical infrastructure projects cannot simply be turned off, nor can their capital be easily redistributed, particularly when they serve as the foundation for what has become one of the world’s most valuable technologies. The costs that companies, consumers, and U.S. national security interests are now facing are likely to persist, or even rise further. Some projects have already reached this point of no return, and companies will likely have to eat those costs. For investments that are early in the building and planning process, however, tech companies should reconsider their pivot to the Gulf and work with Washington to start bringing projects back to where it is safest and, as energy and other costs rise, increasingly cost competitive—the United States.
Supply chain reaction
The Gulf hosts roughly 1.5 percent of the world’s computing capacity—about double its share of global population. This may seem small, but its capacity is growing by some nine percent per year. The ambitious deals that resulted from Trump’s 2025 Gulf tour are a significant part of this rapid growth. AMD, an American chip company, announced a $10 billion partnership with Humain, the Saudi sovereign wealth fund’s AI enterprise. The U.S. chipmaker Nvidia committed to shipping 18,000 cutting-edge chips to power Saudi Arabia’s AI infrastructure. One consortium of American companies began planning an AI campus with the Emirati AI firm G42 under the umbrella of the U.S.-UAE AI Acceleration Partnership that was signed on the trip. Submarine cables in the Red Sea carry an estimated 90 percent of data traffic between Europe and Asia and about 17 percent of all global Internet traffic.
When Amazon’s data centers in the UAE went offline, the damage spread across the Gulf’s digital economy, knocking out major banks, payment apps, ride-hailing and delivery services, enterprise software providers, and some operations of at least one large American data company, Snowflake. But the effects of the attack were not limited to the Middle East. Many affected companies did not operate in the region at all but used cloud providers who routed their workloads through Gulf-based servers. And some may not have even been aware that their data went through the Gulf until those servers failed.
The framework for the Gulf AI build-out was not designed for such hazards. Much of it was guided by the Pax Silica initiative, a U.S.-led effort to secure AI supply chains. Since the initiative’s creation in December, Qatar, the UAE, and 12 other countries in Europe and Asia have signed on to the agreement. But its proposed mechanisms—including joint ventures, coinvestment, and pooled buying power to secure more favorable deals—were designed for managing peacetime technology competition with China, not for defending the physical supply chain from missiles and drones. They addressed important concerns related to competition, including measures to prevent countries from diverting advanced chips to U.S. adversaries; to vet foreign ownership structures, such as G42’s former ties to Huawei; and to establish reporting and monitoring requirements for U.S. hardware deployed overseas. But beyond a vague platitude advocating efforts to “further strengthen economic and national security cooperation,” it had little to say about what happens when the infrastructure itself becomes a military target.
The challenge of a commercial data center becoming a lawful military objective was foreseeable. Legal scholars have debated the possibility for years. Submarine cables have also been targets in the Baltic Sea, around Taiwan, and even in the Red Sea, where fighting around Yemen in 2024 damaged three cables. What was new in the March AWS attack was only the method: missile and drone strikes on data centers rather than anchors dragging across the ocean floor.
The United States has spent decades building frameworks to protect domestic critical infrastructure from exactly this kind of threat, including by designating certain infrastructure sectors as critical and requiring physical security standards for the electric grid. But for some reason—perhaps lulled into a false sense of regional security, or out of a desire to not offend its negotiating partners—it did not apply that same thinking to the infrastructure it was encouraging American companies to build abroad.
Not part of the deal
For many companies, the math that made the Gulf compelling in May 2025 no longer holds. There is no realistic way to protect a commercial data center against cruise missiles or drone swarms. Retrofitting a data center as if it were a military installation would be both prohibitively expensive and ultimately insufficient. As years of war between Russia and Ukraine have proved, no air defense can intercept 100 percent of incoming strikes, and to deliver its commercial value, AI infrastructure must run almost constantly.
The most pressing issue for firms is legal liability. The means by which many companies have justified their stoppage of operations, and thus limited their liability, are notices of force majeure, which effectively excuse a company from fulfilling its expected operations because of an event beyond its control. But courts and legal commentators have signaled that such defenses might not stand in the Middle East, which has a well-documented history of political instability and decades of conflict. Companies that entered contracts during or after a period of obvious tension may find that insurers or courts will treat military disruption as a foreseeable risk. The downstream liability chain is long: every enterprise customer whose operations were interrupted by the AWS outages is now assessing its own contractual position, and where there is no specific language to the contrary, cloud providers may find themselves required to absorb losses and compensate clients for disruptions in service.
Those AI companies with projects under construction are thus reassessing whether such projects are still viable. Costs for new data centers in the Gulf are rising significantly because they need to add more backup systems, enhance physical security measures, and pay higher insurance premiums. When the 12 members of the International Group of P&I Clubs—a group of mutual insurance associations that provide marine liability cover for 87 percent of the world’s oceangoing tonnage—announced the cancellation of their maritime war risk cover for the Gulf, it signaled to the broader insurance market that the region’s risk profile had fundamentally changed. For some Gulf projects, the revised all-in cost now exceeds what it would have cost to build equivalent capacity in places where energy tends to be more expensive, including northern Europe, India, or the southern or western United States.
The math that made the Gulf compelling in May 2025 no longer holds.
Those still in the planning phase still might choose to continue building AI infrastructure in the Gulf. The incentive packages from Gulf governments to build remain attractive on paper. But many are likely to choose to cut their losses and go elsewhere. Any honest appraisal now requires pricing in war risk insurance, the rates for which have roughly quintupled since the war began, as well as security costs, force majeure liability exposure, the reputational consequences of operating in an active conflict zone, and the possibility that hostilities could resume at any moment.
Companies that are already operational in the Gulf have no choice but to spread their risk. Amazon, Microsoft, Google, and Oracle—the four firms that dominate the market—each run at least two data center clusters in the region, hosting wide-ranging operations such as regional banking systems and mobile apps for consumers. They will all need to migrate particularly sensitive workloads to facilities in other regions and augment insurance coverage for the work that remains. They must also increase transparency about their Gulf operations. Many of their clients do not know that their workloads route through Gulf data centers, which risks anger or even lawsuits in the event of future outages. Companies will be most protected if they publicly separate military and commercial data and projects to the greatest extent possible and locate truly sensitive operations outside the Middle East.
It’s possible that none of the Gulf-based digital infrastructure is used specifically for military operations. But as long as the U.S. military continues operating in the Middle East, U.S. infrastructure will be a target—especially as commercial AI companies take on more defense-related functions. This is a problem not only for the United States but also for its partners. The prospect of becoming a global AI hub promised new jobs, high returns for Gulf sovereign wealth funds, and technological prestige. It also made Gulf states higher-value targets for any adversary of the United States. As long as American AI cloud service providers operate facilities in their territory that may serve U.S. government functions, the distinction between civilian and military infrastructure will be blurred in the eyes of adversaries. Any future contracts in the region will need provisions that explicitly allocate liability in the event of state-sponsored military action—elements that prewar template agreements do not sufficiently address. Companies are already diversifying their geographic concentration, shifting projects to northern Europe, Southeast Asia, and India.
Beyond pax silica
The U.S. government’s active encouragement of the Gulf AI build-out through bilateral investment deals, chip export approvals, and the Pax Silica framework was a major miscalculation, especially in light of its subsequent actions in Iran. The set of interdependencies that resulted from its actions has the potential to harm both U.S. economic and national security interests. Even if Washington were serious about retrenching its military from the Middle East—which it has not yet demonstrated—the region’s persistent instability makes it ill-suited to host the technology most critical to economic growth and great-power competition. Technology partnership frameworks need to account not only for supply chain integrity and economic upside but also for the physical security of that critical infrastructure and the potentially catastrophic costs of damage to it.
The solution is not to retreat from the Pax Silica agreement, nor to let it quietly wither. The chip deals and Pax Silica framework were meant to pull the Gulf into the American technology orbit and away from China; backing out could have the reverse effect by damaging important relations with Gulf countries and emboldening Beijing. The U.S. intervention in Iran has presented China with an opening: companies such as Huawei are already pitching Gulf clients on the perils of “single-region dependency.”
Instead, the United States should focus on reinforcing and building on AI cooperation in more advantageous areas such as those geared toward pooling U.S. and Gulf states’ buying power for critical mineral inputs and for rebuilding manufacturing capacity on allied soil, all while unwinding the commitments on vulnerable critical infrastructure. Workloads can be migrated, future investment can be redirected, and projects still in the planning phase can be reconsidered entirely.
The window for making those decisions is closing. The bet that the current war is an aberration rather than a preview of the region’s future looks less wise by the day. The incentive packages for investing in the Gulf that were designed for peacetime are becoming irrelevant. The longer the United States and its allies wait to protect their critical infrastructure by moving it elsewhere and to redefine their AI partnerships, the more expensive, complicated, and ultimately dangerous it will get to do so.
AARON BARTNICK is a Nonresident Fellow at the Columbia Center on Global Energy Policy. From 2024 to 2025, he served as Assistant Director for Technology Security and Governance at the White House Office of Science and Technology Policy.
Nhận xét
Đăng nhận xét