4291 - Hệ quả dai dẳng của cuộc chiến với Iran
Sai lầm lớn nhất về chính sách đối ngoại của ông Trump
Một người cầm cờ Iran tại Tehran, tháng 6 năm 2026. Ảnh: Majid Asgaripour / Reuters
Thông báo của Tổng thống Donald Trump vào ngày 14 tháng 6 về việc chấm dứt cuộc chiến với Iran và mở lại eo biển Hormuz đã mang lại sự nhẹ nhõm cho các quốc gia trên toàn thế giới. Một giải pháp thông qua đàm phán là điều có lợi cho Hoa Kỳ, nhưng các điều khoản có thể đạt được lại kém xa so với những gì Washington kỳ vọng cuộc chiến sẽ mang lại. Sau gần bốn tháng giao tranh, những lo ngại về chương trình hạt nhân, kho tên lửa đạn đạo và sự hỗ trợ của Iran dành cho các lực lượng ủy nhiệm trên khắp Trung Đông phần lớn vẫn chưa được giải quyết. Chế độ mà ông Trump muốn thay đổi vẫn đứng vững, và giờ đây có thể sẽ nhận được sự nới lỏng về kinh tế để đổi lấy việc khôi phục quyền tự do hàng hải tại một eo biển vốn đã mở cửa trước khi chiến tranh nổ ra. Iran đã bước ra khỏi cuộc xung đột trong tình trạng tổn thất nặng nề nhưng lại có vị thế chiến lược mạnh mẽ hơn, với chế độ cầm quyền và khả năng đe dọa khu vực vẫn còn nguyên vẹn. Kết cục này—sau nhiều tháng tàn phá và gây gián đoạn nền kinh tế toàn cầu—chính là thất bại lớn nhất về chính sách đối ngoại trong cả hai nhiệm kỳ của ông Trump. Và hậu quả của thất bại đó sẽ còn kéo dài rất lâu sau khi chiến tranh kết thúc, khiến cho những thách thức chiến lược ngày càng lớn mà Hoa Kỳ phải đối mặt tại Trung Đông trở nên khó giải quyết hơn nữa.
Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, Hoa Kỳ đã duy trì một trật tự khu vực trong đó các nước vùng Vịnh dựa vào Washington để đảm bảo an ninh, các biện pháp trừng phạt và răn đe quân sự kiềm chế sự hung hăng của Iran, đồng thời tiến trình bình thường hóa quan hệ Ả Rập - Israel dần đạt được những bước tiến. Cơ chế này giúp dòng chảy dầu mỏ ổn định, hạn chế ảnh hưởng của Iran và Trung Quốc, đồng thời khẳng định vai trò không thể thiếu của Washington trong việc duy trì sự ổn định của khu vực. Khi Hoa Kỳ và Israel phát động cuộc tấn công vào Iran vào cuối tháng 2, nguyên trạng này vốn đã bắt đầu rạn nứt; tuy nhiên, giao tranh quân sự đã đẩy nhanh quá trình sụp đổ đó.
Đối với nhiều quốc gia Trung Đông, vấn đề nằm ở chỗ không chỉ Hoa Kỳ thất bại trong việc giành chiến thắng quyết định trước Iran, mà còn ở sự thiếu nhất quán và khó lường của nước này trong suốt cuộc xung đột. Điều đó đã làm xói mòn niềm tin vào khả năng duy trì vai trò là bên bảo đảm duy nhất cho sự ổn định tại Trung Đông của Washington. Khi uy tín của Washington suy giảm, các đối tác của Hoa Kỳ trong khu vực đã chuyển hướng sang việc thành lập các liên minh mới, nơi họ có quyền tự chủ lớn hơn. Các quốc gia Trung Đông đang tập hợp thành hai phe đối lập. Một bên là liên minh Abraham, với nòng cốt là Israel và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE); liên minh này gắn kết chặt chẽ với Hoa Kỳ và đôi khi có sự tham gia của Hy Lạp cùng Ấn Độ trong các vấn đề quân sự, kinh tế và năng lượng. Nguồn gốc của khối này bắt nguồn từ năm 2020, khi Israel bình thường hóa quan hệ với UAE, Bahrain và Morocco thông qua Hiệp định Abraham do chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu làm trung gian. Israel và UAE xích lại gần nhau chủ yếu do cùng nhận thức về mối đe dọa từ Iran, nhưng cũng bởi sự cạnh tranh ngày càng tăng của mỗi nước với Thổ Nhĩ Kỳ và Ả Rập Xê Út, cũng như mối quan hệ thương mại ngày càng sâu sắc trong các lĩnh vực công nghệ, thương mại và đầu tư.
Bên còn lại là liên minh Hồi giáo, với nòng cốt là các cường quốc dòng Sunni như Ả Rập Xê Út, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan và ngày càng có thêm sự tham gia của Ai Cập. Các cường quốc tầm trung trong khu vực này vẫn dựa vào Washington để đảm bảo an ninh, nhưng họ đã xích lại gần nhau hơn để đối phó với những mối đe dọa không chỉ từ Iran mà còn từ Israel, khi quốc gia này phô trương sức mạnh ra bên ngoài biên giới—tại Dải Gaza, Bờ Tây, Syria, Lebanon và vùng Sừng châu Phi.
Cách Hoa Kỳ tiến hành cuộc chiến chống lại Iran càng khiến các quốc gia ở cả hai phe tin rằng việc phụ thuộc quá nhiều vào Washington có thể trở thành một bất lợi, và họ cần phải tự chủ hơn trong các quyết sách tại địa phương. "Đã qua rồi cái thời mà một cuộc điện thoại từ Washington đưa ra chỉ thị và chúng tôi vội vã tuân theo," một quan chức cấp cao chia sẻ với một trong số chúng tôi. "Chúng tôi không còn muốn làm một quốc gia chư hầu của Mỹ nữa... Chúng tôi là đối tác, dù có thể chỉ là đối tác cấp dưới."
Trong khi đó, Trung Quốc đang tận dụng sự thay đổi này để định vị bản thân nhằm đóng vai trò lớn hơn tại Trung Đông thời hậu chiến, mà không cần phải gánh vác những trọng trách lãnh đạo mà Washington từng đảm nhận. Các cường quốc tầm trung đầy tham vọng như Ấn Độ và Pakistan cũng đang có những động thái tương tự. Lệnh ngừng bắn không đánh dấu sự kết thúc của chương xung đột và chia rẽ khu vực này tại Trung Đông; thay vào đó, nó đang thúc đẩy một quá trình tái định hình địa chính trị dọc theo những rạn nứt mới. Xu hướng này còn lan rộng ra ngoài khu vực: từ Đông Á, châu Âu cho đến Mỹ Latinh, hầu hết các chính phủ đều đi đến những kết luận tương đồng về độ tin cậy của Washington, và ngày càng coi các phương án thay thế cho những cơ chế an ninh, thương mại và ngoại giao lấy Mỹ làm trung tâm là một nhu cầu chiến lược thiết yếu chứ không phải là điều gì xa xỉ. Do đó, sự tái định hình các mối quan hệ tại Trung Đông là điềm báo cho các quan hệ đối tác của Hoa Kỳ trên toàn cầu.
NHỮNG DỰ ÁN ĐANG TRIỂN KHAI
Khi Iran bắt đầu tấn công các mục tiêu quân sự và dân sự trên khắp Trung Đông vào tháng 2, nhiều người kỳ vọng các quốc gia Ả Rập vùng Vịnh sẽ đoàn kết lại để chống lại kẻ thù chung. Tuy nhiên, cuộc chiến lại khoét sâu thêm rạn nứt vốn đang lớn dần giữa Ả Rập Xê Út và UAE – hai nền kinh tế lớn nhất và cũng là những quốc gia đóng vai trò lãnh đạo thực tế tại vùng Vịnh.
Thái tử Ả Rập Xê Út Mohammed bin Salman và Tổng thống UAE Mohamed bin Zayed từng có sự phối hợp chặt chẽ. Cả hai đều đã củng cố quyền lực gần như tuyệt đối tại quốc gia của mình và khởi xướng các dự án chuyển đổi quốc gia đầy tham vọng. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa họ dần trở nên lạnh nhạt khi hai nhà lãnh đạo theo đuổi các chiến lược kinh tế khác nhau, có những lợi ích cạnh tranh, cũng như ủng hộ các phe đối lập trong các cuộc xung đột nội bộ tại Sudan và Yemen.
Sau đó, vào cuối năm 2025, sự rạn nứt này trở nên rõ rệt hơn. Tháng 9 năm đó, Israel đã thực hiện một cuộc tấn công quân sự tại Qatar, khiến một thành viên lực lượng an ninh Qatar và năm thành viên phái đoàn đàm phán của Hamas thiệt mạng; nhóm này khi đó đang xem xét đề xuất của Mỹ nhằm chấm dứt cuộc chiến ở Gaza. Đây là lần đầu tiên Israel tấn công một quốc gia thành viên của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) – một khối chính trị và kinh tế bao gồm Bahrain, Kuwait, Oman, Qatar, Ả Rập Xê Út và UAE. Thế nhưng, Washington đã không có bất kỳ động thái phản ứng nào. Đối với Riyadh, cuộc tấn công này là tín hiệu cho thấy Israel – cũng giống như Iran – có thể trở thành một thế lực gây bất ổn mà các cường quốc khu vực không thể trông cậy vào Mỹ để kiềm chế.
Trung Đông đang bị chia rẽ về cách thức đối phó với thách thức từ Iran sau khi thỏa thuận được hoàn tất.
Chưa đầy hai tuần sau, Ả Rập Xê Út đã ký một hiệp ước phòng thủ chung với Pakistan – một cường quốc hạt nhân và là quốc gia đối đầu với Israel. Hiệp ước này quy định rằng "bất kỳ hành động gây hấn nào nhắm vào một trong hai quốc gia đều được coi là hành động gây hấn nhắm vào cả hai". Kể từ đó, Pakistan đã triển khai 13.000 binh sĩ cùng một phi đội máy bay chiến đấu tới Ả Rập Xê Út. Theo các báo cáo vào cuối tháng 1, Ả Rập Xê Út cũng đang cân nhắc một thỏa thuận phòng thủ tương tự với Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời tiến hành đàm phán với Ai Cập và Somalia để thành lập một liên minh quân sự nhằm đối trọng với ảnh hưởng của UAE và Israel tại vùng Sừng châu Phi. Kết quả là Ả Rập Xê Út đang tự định vị mình ở vị trí trung tâm của một liên minh khu vực mà Washington không hề xây dựng và cũng không thể kiểm soát hoàn toàn.
UAE lại rút ra những bài học hoàn toàn khác biệt từ cuộc chiến này. Trong khi Riyadh coi hành động quân sự đơn phương của Israel là mối đe dọa cần có sự đối trọng từ khu vực, thì Abu Dhabi lại nhìn nhận Israel như một đối tác an ninh đáng tin cậy và có năng lực nhất trong khu vực. Khi tên lửa và máy bay không người lái của Iran bắt đầu rơi xuống UAE, Israel đã chủ động đề nghị hỗ trợ phòng không. Ngược lại, dù nhận được sự ủng hộ từ UAE trong nhiều năm, Ai Cập lại không cung cấp sự trợ giúp tức thời; họ chỉ triển khai máy bay chiến đấu sau nhiều tuần bị UAE chỉ trích. Hệ quả là Abu Dhabi đã tăng cường hợp tác quốc phòng và tình báo với Israel và Hoa Kỳ, mở rộng các mối liên kết kinh tế vốn được củng cố bởi Hiệp định Abraham, đồng thời định vị mình là trụ cột của khối ủng hộ Israel trong trật tự khu vực đang hình thành.
Những sự liên kết này không hề cứng nhắc. Ai Cập, Hy Lạp và Israel vẫn tiếp tục hợp tác về các vấn đề năng lượng với tư cách là thành viên của Diễn đàn Khí đốt Đông Địa Trung Hải, được thành lập vào năm 2019. Ả Rập Xê Út và UAE đều là thành viên của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) và vẫn tiếp tục tham vấn lẫn nhau về việc đối phó với Iran. Tuy nhiên, một xu hướng lớn hơn đã lộ rõ ngay cả trước khi chiến tranh nổ ra: các cường quốc trong khu vực đang phân hóa thành những phe đối địch xoay quanh các vấn đề cốt yếu đối với an ninh quốc gia của họ—đó là Israel và Iran.
DẤU HIỆU CẢNH BÁO
Cuộc chiến liên quan đến Iran cũng tạo ra một số điểm chung. Cả hai liên minh đều đồng thuận rằng Tehran là mối đe dọa cần phải bị kiềm chế, và họ coi cuộc chiến này là một bước lùi chiến lược trong nỗ lực đó. Nhìn chung, cả hai khối cũng cho rằng ông Trump đã phản bội lợi ích an ninh và quốc gia của họ khi để Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu dẫn dắt chiến dịch tấn công; bởi lẽ, các cuộc không kích của Israel nhắm vào cơ sở hạ tầng năng lượng của Iran đã châm ngòi cho các đợt phản công của nước này tại Bahrain, Kuwait, Qatar, Ả Rập Xê Út và UAE. Ngoài ra, hai khối này cũng đồng tình rằng Hoa Kỳ đang quá chú trọng vào việc mở lại eo biển Hormuz và giải quyết hồ sơ hạt nhân của Iran, trong khi lại ít quan tâm đến hàng nghìn máy bay không người lái, kho tên lửa còn lại của Tehran cũng như sự hậu thuẫn của nước này dành cho các lực lượng dân quân đáng gờm tại Iraq, Lebanon và Yemen.
Tuy nhiên, việc cuộc chiến kết thúc đã làm nổi bật điểm khác biệt sâu sắc nhất giữa hai liên minh: cách thức đối phó với thách thức từ Iran sau khi thỏa thuận được ký kết. Ả Rập Xê Út cùng các đối tác trong liên minh hy vọng tận dụng sức mạnh tập thể và sự phối hợp chặt chẽ hơn để tạo thế cân bằng, răn đe và có thể là đạt được sự dàn xếp với Cộng hòa Hồi giáo này. Ngược lại, liên minh Abraham coi chế độ Iran là mối đe dọa thường trực và không thể hòa giải, đòi hỏi phải có sự đối đầu trực diện. Thay vì tham gia nỗ lực do Ả Rập Xê Út dẫn đầu nhằm gây sức ép lên Iran, Abu Dhabi đang đẩy mạnh việc gia tăng sức mạnh cứng và thắt chặt quan hệ quốc phòng với Israel và Hoa Kỳ. Nói một cách đơn giản, hai chính sách đối lập ở đây là kiềm chế và tiếp tục đối đầu.
Hai liên minh cũng bất đồng về vai trò của Israel tại Trung Đông. Trong khi UAE ngày càng coi Israel là nhân tố trung tâm của trật tự Trung Đông đang hình thành cũng như đối với an ninh của chính họ sau chiến tranh, thì liên minh Hồi giáo lại ngày càng gắn kết bởi mong muốn kiềm chế điều mà các thành viên coi là quyền lực không bị kiểm soát của Israel. Kể từ khi cuộc chiến nổ ra vào ngày 28 tháng 2, Israel đã mở rộng phạm vi chiếm đóng tại Lebanon, các vùng lãnh thổ của người Palestine và Syria. Tại Lebanon, Israel ưu tiên chiến dịch quân sự chống lại Hezbollah và gây sức ép lên Beirut nhằm loại bỏ các loại vũ khí chiến lược của lực lượng dân quân này; trong khi đó, Riyadh lại chuộng cách tiếp cận dần dần, vốn vẫn có thể bao gồm cả việc đối thoại với Tehran. Tại Syria, Israel dường như muốn một quốc gia suy yếu và bị chia rẽ; ngược lại, Ả Rập Xê Út và Thổ Nhĩ Kỳ lại tìm cách ổn định và tái thiết đất nước dưới sự lãnh đạo của chính quyền Hồi giáo do Ahmed al-Shara đứng đầu. Đồng thời, vấn đề Palestine vẫn tiếp tục gây tiếng vang mạnh mẽ trong thế giới Ả Rập và Hồi giáo. Sự phẫn nộ về cuộc chiến ở Gaza và tình trạng bạo lực tại Bờ Tây vẫn chưa lắng xuống, qua đó thu hẹp không gian chính trị để các chính phủ Ả Rập hợp tác với Israel. Việc thiếu vắng một lộ trình đáng tin cậy hướng tới quyền tự quyết của người Palestine dưới thời Thủ tướng Netanyahu đã khiến Ả Rập Xê Út gác lại kế hoạch bình thường hóa quan hệ với Israel, thay vào đó ưu tiên hợp tác sâu rộng hơn với các cường quốc tầm trung theo dòng Sunni và duy trì trạng thái hòa dịu nhưng đầy bất ổn với Iran.
Lệnh ngừng bắn có thể mang lại cho Trung Quốc cơ hội rõ ràng nhất để định hình trật tự khu vực thời hậu chiến.
Sự rạn nứt này còn vượt xa vấn đề an ninh, bởi hai liên minh có những tầm nhìn khác nhau về tương lai Trung Đông trong bối cảnh năng lượng tái tạo đang cạnh tranh gay gắt với dầu mỏ. Vào đầu tháng 5, Abu Dhabi đã rút khỏi OPEC – liên minh các nước sản xuất dầu mỏ do Ả Rập Xê Út chi phối. UAE vốn đã là nền kinh tế đa dạng nhất Trung Đông, với các ngành tài chính, bất động sản, du lịch, logistics và công nghệ phát triển mạnh mẽ. Việc rời khỏi OPEC giúp nước này có vị thế thuận lợi để xuất khẩu nhiều dầu hơn trong ngắn hạn – khi nhu cầu và giá dầu vẫn ở mức tương đối cao – đồng thời chuyển nguồn thu này sang các khoản đầu tư dài hạn vào công nghệ và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số.
Saudi Arabia có nguy cơ chịu thiệt hại từ diễn biến này. UAE là nhà sản xuất lớn thứ ba trong OPEC; việc nước này rút lui đồng nghĩa với việc sản lượng dầu toàn cầu có thể ít bị hạn chế hơn, kéo theo giá dầu giảm xuống. Xu hướng này sẽ làm suy yếu các tính toán tài chính vốn là nền tảng cho công cuộc chuyển đổi kinh tế của Riyadh. Saudi Arabia đang nỗ lực bắt kịp UAE về mặt kinh tế. Sáng kiến Tầm nhìn 2030 (Vision 2030) nhằm hiện đại hóa và đa dạng hóa nền kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ, dù đã đạt được những bước tiến nhất định nhưng vẫn còn cách xa nhiều mục tiêu đề ra, bao gồm mục tiêu thu hút 100 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hàng năm vào năm 2030. (Năm 2025, Riyadh chỉ thu hút được 35,4 tỷ USD FDI, trong khi con số này của UAE là 45,6 tỷ USD.)
Abu Dhabi cũng có thể giảm hoặc chấm dứt sự tham gia vào các tổ chức do Saudi Arabia chi phối, bao gồm Liên đoàn Ả Rập, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo và thậm chí là Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC). Điều này sẽ làm xói mòn thêm cấu trúc thể chế từng tạo nền tảng để Riyadh khẳng định vai trò lãnh đạo trong thế giới Ả Rập. Đã xuất hiện những dấu hiệu cho thấy GCC đang bị chia rẽ theo các liên minh "Abraham" và liên minh Hồi giáo: Kuwait và Qatar đang xích lại gần Saudi Arabia, trong khi Bahrain lại nghiêng về phía UAE. (Oman trở thành một trường hợp khác biệt khi phối hợp chặt chẽ với Tehran.) Hệ quả là tình trạng bế tắc ngày càng gia tăng tại các tổ chức đa phương chủ chốt của khu vực – những nơi vốn đòi hỏi sự đồng thuận từ các thành viên.
MỌI THỨ ĐỀU MANG TÍNH TƯƠNG ĐỐI
Bài học rộng lớn hơn từ cuộc xung đột này là Trung Đông đang lún sâu hơn vào một thế giới "G-Zero" (thế giới không có cường quốc dẫn dắt), nơi không một cường quốc đơn lẻ nào vừa có đủ thiện chí, vừa có đủ khả năng để đảm bảo trật tự. Hoa Kỳ vẫn đóng vai trò chủ chốt về an ninh tại khu vực, nhưng niềm tin của các nước sở tại vào Washington đã suy giảm. Các quốc gia trong khu vực hiện đang thực hiện chiến lược phòng ngừa rủi ro một cách cởi mở hơn, đa dạng hóa quan hệ đối tác và tìm kiếm quyền tự chủ chiến lược cao hơn. Ai Cập, Pakistan, Ả Rập Xê Út và Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã bắt đầu đóng vai trò cân bằng trên thực tế, trong khi Israel và UAE tăng cường quan hệ quốc phòng và kinh tế với Washington cũng như với nhau.
Trung Quốc là bên hưởng lợi chính về mặt địa chính trị từ sự thay đổi này. Lợi thế của họ không nằm ở việc phô trương sức mạnh cứng mà ở sự tương phản với Mỹ. Trong mắt nhiều quốc gia, Bắc Kinh tỏ ra dễ đoán định hơn, ít bị chi phối bởi ý thức hệ và ít có những thay đổi chính sách đột ngột hơn so với Washington. Trung Quốc không có kẻ thù nào ở Trung Đông và cũng không mặn mà với vai trò bảo đảm an ninh cho khu vực – một vai trò đi kèm với vô số gánh nặng quân sự. Họ cũng không cần thiết phải đảm nhận vai trò đó. Tại một khu vực đang bị chia rẽ và e ngại trước các chính sách đầy biến động của Mỹ, Trung Quốc có thể mở rộng ảnh hưởng thông qua ngoại giao, thương mại, cơ sở hạ tầng, công nghệ và vai trò trung gian hòa giải.
Việc Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận ngừng bắn có thể mang lại cho Trung Quốc cơ hội rõ ràng nhất từ trước đến nay để định hình trật tự khu vực thời hậu chiến. Mặc dù các quốc gia vùng Vịnh và khu vực đang mở rộng quan hệ quốc phòng với các nước như Pháp, Hàn Quốc, Ukraine và Anh để giảm bớt sự phụ thuộc vào Mỹ, họ cũng đồng thời tăng cường quan hệ kinh tế và công nghệ với Trung Quốc. Bắc Kinh có thể khẳng định vị thế là cường quốc bên ngoài phù hợp nhất để hợp tác với cả hai phía trong cục diện chia rẽ mới của khu vực.
Do khả năng Iran vẫn sẽ là mối đe dọa đối với các nước láng giềng ngay cả khi thỏa thuận đã được hoàn tất, các quốc gia thuộc liên minh Hồi giáo do Ả Rập Xê Út dẫn đầu đang tìm cách kiểm soát căng thẳng trong khu vực. Theo một số nhà ngoại giao, một ý tưởng mà Ả Rập Xê Út đưa ra là thiết lập hiệp ước không xâm lược giữa các nước GCC và Iran, dựa trên mô hình Tiến trình Helsinki từng giúp xoa dịu căng thẳng Chiến tranh Lạnh tại châu Âu vào những năm 1970. Bắc Kinh có vị thế thuận lợi để làm trung gian cho một thỏa thuận như vậy, nhờ vào mối quan hệ bền chặt với các quốc gia trong khu vực, tầm ảnh hưởng đối với Tehran, sự tương đối khách quan, cũng như vai trò môi giới thỏa thuận bình thường hóa quan hệ Iran - Ả Rập Xê Út năm 2023 – sự kiện đã khôi phục quan hệ ngoại giao giữa hai đối thủ và tạo ra kênh đối thoại bền vững đầu tiên để quản lý sự kình địch giữa họ trong nhiều thập kỷ qua. Triển vọng của một hiệp ước như vậy vẫn chưa rõ ràng, nhưng có vẻ khả thi hơn so với những nỗ lực của ông Trump nhằm mở rộng Hiệp định Abraham. Đồng thời, điều này sẽ đánh dấu một sự tái cân bằng ngoại giao quan trọng tại Trung Đông theo hướng nghiêng về phía Trung Quốc, với những tác động có thể lan rộng sang các cuộc xung đột ủy nhiệm tại Iraq, Lebanon và Yemen. Trong khi đó, mặc dù các quốc gia thuộc liên minh Abraham nhiều khả năng vẫn sẽ gắn bó chặt chẽ với phạm vi an ninh của Mỹ, họ có thể chọn mở rộng hợp tác với Trung Quốc trong các lĩnh vực thương mại, logistics, năng lượng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số. MỚI CHỈ LÀ BẮT ĐẦU
Kết quả có khả năng xảy ra nhất của cuộc chiến này là một Trung Đông bị chia rẽ và phân mảnh hơn, nơi các thể chế đa phương hiện có suy yếu, các liên minh đối địch trở nên cứng rắn hơn, và các cường lực bên ngoài cạnh tranh giành ảnh hưởng. Trung Quốc, cũng như Ấn Độ, Pakistan và các quốc gia khác, sẽ gia tăng sự hiện diện, mở rộng vai trò kinh tế và ngoại giao trong khi tránh được những cái giá phải trả của vai trò lãnh đạo bá quyền. Xu hướng này khó có thể chỉ giới hạn trong phạm vi Trung Đông.
Các chính phủ trên toàn thế giới đang hành động dựa trên một nhận định chung: Hoa Kỳ không còn là đối tác đáng tin cậy, và việc giảm bớt sự phụ thuộc lâu dài vào Washington đã trở thành một yêu cầu chiến lược cấp thiết. Châu Âu đang hướng tới sự tự chủ thông qua việc tăng chi tiêu quốc phòng, xây dựng các cơ cấu chỉ huy chung của châu Âu và chú trọng hơn vào việc mua sắm vũ khí từ các nguồn ngoài Hoa Kỳ—điều này làm giảm đòn bẩy của Washington đối với chính sách đối ngoại của châu Âu và gây căng thẳng cho khả năng phối hợp tác chiến vốn là nền tảng cho cơ chế phòng thủ tập thể của NATO. Tại châu Á, Nhật Bản đã nới lỏng các hạn chế thời hậu chiến đối với việc xuất khẩu vũ khí, còn Hàn Quốc đang xem xét khả năng sở hữu năng lực hạt nhân độc lập—một điều khó có thể tưởng tượng được cách đây một thập kỷ. Những diễn biến này báo hiệu sự xói mòn của các cam kết răn đe mở rộng vốn là nền tảng cho cấu trúc liên minh của Hoa Kỳ tại châu Á trong hơn 70 năm qua. Tại Mỹ Latinh, các quốc gia tập trung nhiều hơn vào việc phát triển các hiệp định thương mại với EU và trong nội khối khu vực thay vì các khuôn khổ do Hoa Kỳ dẫn dắt. Tốc độ và mức độ thể chế hóa có thể khác nhau giữa các khu vực, nhưng xu hướng chung thì hoàn toàn giống nhau.
Cũng như ở Trung Đông, Trung Quốc không cần phải gánh vác trọng trách thay thế Hoa Kỳ để tận dụng những thay đổi này. Tại châu Á, vị thế thống trị của Trung Quốc trong lĩnh vực pin, xe điện và các loại khoáng sản thiết yếu phục vụ quá trình chuyển đổi năng lượng khiến nước này trở thành đối tác thương mại không thể thiếu đối với các quốc gia nhập khẩu năng lượng lớn, bất kể mối quan hệ an ninh của họ với Washington ra sao. Bắc Kinh hiểu rằng ảnh hưởng không thuộc về cường quốc sẵn sàng bảo đảm trật tự, mà thuộc về bên có vị thế tốt nhất để định hình trật tự sẽ thay thế trật tự cũ.
Cuộc chiến liên quan đến Iran không chỉ đơn thuần định hình lại Trung Đông. Nó đã đẩy nhanh quá trình tái phân bổ quyền lực dọc theo trục trải dài từ Đông Địa Trung Hải đến tiểu lục địa Ấn Độ, làm suy yếu trật tự khu vực do Hoa Kỳ dẫn dắt và mở ra không gian mới cho các đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu Trung Đông là khu vực đầu tiên chuyển dịch dứt khoát sang thế giới "G-Zero" (thế giới không có cường quốc lãnh đạo), thì đây sẽ không phải là khu vực cuối cùng.
IAN BREMMER là Chủ tịch kiêm Nhà sáng lập Eurasia Group. Firas Maksad là Giám đốc Điều hành phụ trách khu vực Trung Đông và Bắc Phi tại Eurasia Group.
https://www.foreignaffairs.com/iran/long-shadow-iran-war
***
The Long Shadow of the Iran War
Trump’s Most Consequential Foreign Policy Mistake
Holding an Iranian flag in Tehran, June 2026 Majid Asgaripour / Reuters
President Donald Trump’s announcement, on June 14, of the end of the war in Iran and the reopening of the Strait of Hormuz came as a relief to countries around the world. A negotiated settlement was in the United States’ interest, but its likely terms fall far short of what Washington hoped the war would achieve. After nearly four months of fighting, concerns over Iran’s nuclear program, ballistic missile arsenal, and support for proxies across the Middle East remain largely unresolved. The regime that Trump set out to change is still standing, and it may now be set to receive economic relief in exchange for restoring free passage in a strait that was open before the war began. Iran has emerged from the conflict battered but in a stronger strategic position, with its regime and its ability to threaten the region intact. This outcome, after months of destruction and global economic disruption, is the greatest foreign policy failure of both of Trump’s terms. And the consequences of that failure will persist long after the war ends, making the United States’ growing strategic challenge in the Middle East even more difficult to address.
Since the collapse of the Soviet Union, the United States underwrote a regional order in which the Gulf depended on Washington for its security, sanctions and military deterrence contained Iranian aggression, and a track toward Arab-Israeli normalization slowly advanced. This arrangement kept oil flows stable, limited Iranian and Chinese influence, and positioned Washington as the indispensable broker of regional stability. When the United States and Israel launched an attack on Iran at the end of February, this status quo was already fraying. But the fighting accelerated its breakdown.
For many Middle Eastern states, the problem with the war’s resolution is not only that the United States was unable to achieve a decisive victory against Iran but also that throughout the conflict, it was erratic and unpredictable. This has damaged confidence in Washington’s ability to maintain its role as the sole guarantor of stability in the Middle East. As Washington’s credibility erodes, U.S. partners in the region have resorted to forming new coalitions that afford them greater agency.
States in the Middle East are coalescing on two opposing sides. On one side is the Abrahamic coalition, anchored by Israel and the United Arab Emirates, which is aligned closely with the United States and sometimes includes Greece and India on military, economic, and energy issues. The roots of this bloc go back to 2020, when Israel normalized relations with the UAE, Bahrain, and Morocco in the Abraham Accords, brokered by the first Trump administration. Israel and the UAE are brought together primarily by their shared perception of the Iranian threat, but also by their growing respective rivalries with Turkey and Saudi Arabia and their deepening commercial ties in technology, trade, and investment.
On the other side is an Islamic coalition, which is anchored by Sunni heavyweights such as Saudi Arabia, Turkey, Pakistan, and increasingly Egypt. These regional middle powers still rely on Washington for their security, but they have moved closer together in response to perceived threats coming not just from Iran but also from Israel, as it projected power beyond its borders in Gaza and the West Bank, Syria, Lebanon, and the Horn of Africa.
The United States’ prosecution of the war against Iran has further convinced countries on both sides of the divide that their deep dependence on Washington could be a liability and that they need to develop greater local agency. “The days when a phone call from Washington issued instructions which we were quick to follow are behind us,” a senior official explained to one of us. “We are no longer interested in being an American satellite state. … We are partners, even if junior partners.”
China, meanwhile, is taking advantage of this shift, positioning itself to play a greater role in the postwar Middle East without having to assume the burdens of leadership that Washington once bore. Aspiring middle powers, such as India and Pakistan, are doing the same. The cease-fire does not mark the end of this chapter of conflict and regional division in the Middle East; it is instead driving a geopolitical realignment along new fault lines. That dynamic extends beyond the region: from East Asia to Europe to Latin America, most governments are reaching similar conclusions about Washington’s reliability, increasingly viewing alternatives to U.S.-centered security, trade, and diplomatic arrangements as a strategic necessity rather than a luxury. The Middle East’s realignment is thus a harbinger for U.S. partnerships around the world.
IRONS IN THE FIRE
When Iran began striking military and civilian targets across the Middle East in February, many expected the Gulf Arab states to close ranks against a common enemy. Instead, the war only widened a gap that had been growing between Saudi Arabia and the UAE, the Gulf’s two largest economies and de facto leaders.
Saudi Crown Prince Mohammed bin Salman and Emirati President Mohamed bin Zayed once worked in close alignment. They each consolidated near-absolute authority in their respective countries and launched ambitious national transformation projects. But as the two leaders developed different economic strategies and competitive interests, and backed opposing sides in the civil conflicts in Sudan and Yemen, their relationship cooled.
Then, in late 2025, the fracture became more visible. That September, Israel conducted a military strike in Qatar that killed one member of the Qatari security forces and five members of a Hamas negotiating team, who had been assessing a U.S. proposal to end the war in Gaza. It was the first-ever Israeli strike on a member of the Gulf Cooperation Council, or GCC, a political and economic grouping comprising Bahrain, Kuwait, Oman, Qatar, Saudi Arabia, and the UAE. And Washington did nothing in response. For Riyadh, the attack signaled that Israel, like Iran, could become a disruptive force that regional powers could not rely on the United States to contain.
The Middle East is divided on how to meet the Iranian challenge once a deal is done.
Less than two weeks later, Saudi Arabia signed a mutual defense pact with Pakistan, a nuclear power and Israel antagonist, which states that “any aggression against either country shall be considered an aggression against both.” Since then, Pakistan has deployed 13,000 troops and a squadron of fighter jets to Saudi Arabia. According to reporting in late January, Saudi Arabia was also considering a similar defense agreement with Turkey and held talks with Egypt and Somalia to form a military coalition to counter Emirati and Israeli influence in the Horn of Africa. The result is a Saudi Arabia that is positioning itself at the center of a regional coalition that Washington did not build and cannot fully control.
The UAE has drawn sharply different lessons from the war. Whereas Riyadh views Israeli military unilateralism as a threat requiring a regional counterweight, Abu Dhabi has come to see Israel as the most capable and reliable security partner in the region. When Iranian missiles and drones began landing in the UAE, Israel offered air defense assistance without prompting. Egypt, despite years of Emirati support, failed to provide immediate help, only deploying fighter jets after weeks of criticism from the UAE. As a result, Abu Dhabi has deepened its defense and intelligence cooperation with Israel and the United States, expanded the economic ties cemented by the Abraham Accords, and positioned itself as the anchor of the pro-Israel bloc in the emerging regional order.
These alignments are not rigid. Egypt, Greece, and Israel continue to cooperate on energy issues as members of the Eastern Mediterranean Gas Forum, which was inaugurated in 2019. Saudi Arabia and the UAE are both GCC members and continue to consult each other on countering Iran. But the larger trend was clear even before the war: the region’s major powers are converging into rival camps on the issues that matter most to their national security—Israel and Iran.
WRITING ON THE WALL
The war in Iran did provide some common ground. Both coalitions agree that Tehran is a threat that must be contained, and they view the war as a strategic setback in that regard. For the most part, both blocs also believe that Trump betrayed their security and national interests by allowing Israeli Prime Minister Benjamin Netanyahu to drive the offensive, since Israeli strikes against Iranian energy installations precipitated Iranian counterattacks in Bahrain, Kuwait, Qatar, Saudi Arabia, and the UAE. And the two blocs agree that the United States is too narrowly focused on reopening the Strait of Hormuz and closing Iran’s nuclear file, while it pays too little attention to Tehran’s thousands of drones, surviving missile arsenal, and support for formidable militias in Iraq, Lebanon, and Yemen.
The war’s end, however, underscores where the two coalitions diverge most profoundly: how to meet the Iranian challenge once a deal is done. Saudi Arabia and its coalition partners hope to leverage their collective influence and closer coordination to balance against, deter, and possibly reach an accommodation with the Islamic Republic. The Abrahamic coalition, by contrast, views the Iranian regime as a permanent and irreconcilable threat that must be confronted. Rather than joining the Saudi-led effort to exert leverage against Iran, Abu Dhabi is intensifying its efforts to amass hard power and deepening its defense ties with Israel and the United States. In simple terms, the opposing policies are containment and continuing confrontation.
The coalitions also disagree about Israel’s role in the Middle East. Whereas the UAE increasingly sees Israel as central to the emerging Middle Eastern order and, after the war, to its own security, the Islamic coalition is increasingly united by a desire to balance against what its members see as unchecked Israeli power. Since the war in Iran started, on February 28, Israel has expanded occupations in Lebanon, the Palestinian territories, and Syria. In Lebanon, Israel has favored a military campaign against Hezbollah and pressure on Beirut to eliminate the militia’s strategic weapons, whereas Riyadh prefers a more gradual approach that could still include dialogue with Tehran. In Syria, Israel appears to prefer a weak, fragmented country; Saudi Arabia and Turkey, on the other hand, seek to stabilize and rebuild the state under the Islamist government led by Ahmed al-Shara. Meanwhile, the Palestinian issue continues to resonate strongly across the Arab and Muslim worlds. The anger over the war in Gaza and violence in the West Bank has not receded, narrowing the political space Arab governments have to work with Israel. The absence of any credible path toward Palestinian self-determination under Netanyahu has pushed Saudi Arabia to shelve normalization with Israel in favor of greater cooperation with its fellow Sunni middle powers and an uneasy détente with Iran.
The cease-fire may present China with its clearest opportunity to shape the postwar regional order.
This rift extends beyond security, because the two coalitions have different visions for the future of the Middle East as renewable energy competes with oil. In early May, Abu Dhabi left OPEC, the Saudi-dominated alliance of oil producers. The UAE is already the Middle East’s most diversified economy, with robust finance, real estate, tourism, logistics, and technology industries. By leaving OPEC, it has positioned itself to export more oil in the near term, while demand and prices are still relatively high, and channel the proceeds toward long-term bets on technology and digital infrastructure.
Saudi Arabia stands to lose from the development. The UAE is OPEC’s third-largest producer, and its exit means that global oil production may be less restrained and its oil prices therefore lower. This trend would undermine the fiscal calculations that Riyadh’s economic transformation depends on. Saudi Arabia has been trying to catch up to the UAE economically. Its Vision 2030 initiative to modernize and diversify the country’s economy away from oil has made progress, but it remains far from achieving many of its targets, including the goal of attracting $100 billion in annual foreign direct investment by 2030. (Riyadh drew only $35.4 billion in foreign direct investment in 2025, while the UAE took in $45.6 billion.)
Abu Dhabi may also reduce or end its participation in other Saudi-dominated institutions, including the Arab League, the Organization of Islamic Cooperation, and even the GCC, further eroding the institutional architecture that once gave Riyadh a platform for projecting leadership in the Arab world. There are already signs that the GCC has split along the lines of the Abrahamic and Islamic coalitions, with Kuwait and Qatar moving closer to Saudi Arabia, and Bahrain tilting toward the UAE. (Oman has become an outlier that coordinates closely with Tehran.) The result is a growing gridlock in the region’s main multilateral bodies, which require consensus agreements.
IT’S ALL RELATIVE
The broader lesson of the war is that the Middle East is moving deeper into a “G-Zero” world, in which no single power is both willing and able to guarantee order. The United States remains the region’s main security actor, but local confidence in Washington has weakened. Regional states are now hedging more openly, diversifying their partnerships, and seeking greater strategic autonomy. Egypt, Pakistan, Saudi Arabia, and Turkey have also begun to play a de facto balancing role, while Israel and the UAE deepen their defense and economic ties with Washington and with each other.
China is the chief geopolitical beneficiary of this shift. Its advantage lies not in hard-power projection but in contrast. To many countries, Beijing appears more predictable, less ideological, and less prone to abrupt policy swings than Washington does. China has no enemies in the Middle East and has shown little desire to become the region’s security guarantor, with all the military burdens such a role would require. Nor does it need to fill that role. In a fragmented region wary of volatile U.S. policy, China can expand its influence through diplomacy, trade, infrastructure, technology, and mediation.
The cease-fire between the United States and Iran may present China with its clearest opportunity yet to shape the postwar regional order. Although Gulf and regional states are expanding defense ties with countries such as France, South Korea, Ukraine, and the United Kingdom to reduce dependence on the United States, they are also broadening their economic and technological relationships with China. Beijing could present itself as the outside power best suited to work with both sides of the region’s new divide.
Given the likelihood that Iran will remain a threat to its neighbors even after an agreement is finalized, Islamic coalition countries led by Saudi Arabia are looking for ways to regulate regional tensions. One idea that Saudi Arabia raised, according to some diplomats, is a nonaggression pact between GCC countries and Iran modeled on the Helsinki process that eased Cold War tensions in Europe in the 1970s. Beijing is well positioned to mediate such an arrangement, given its strong ties with states in the region, its leverage over Tehran, its relative impartiality, and its role in brokering the Iranian-Saudi normalization agreement in 2023, which restored diplomatic relations between the two rivals and created the first sustained channel for managing their rivalry in decades. The prospects of such a pact are unclear, but they appear stronger than Trump’s efforts to expand the Abraham Accords. And it would mark a major diplomatic rebalancing in the Middle East toward the Chinese orbit, with implications that could extend to the proxy conflicts in Iraq, Lebanon, and Yemen. Meanwhile, although the Abrahamic coalition countries are likely to stay more solidly within the United States’ security arena, they may choose to expand their work with China on trade, logistics, energy, and digital infrastructure.
JUST THE BEGINNING
The most likely outcome of this war is a more polarized and fragmented Middle East in which existing multilateral institutions weaken, rival coalitions harden, and outside powers compete for influence. China, as well as India, Pakistan, and others, will make further inroads, expanding their economic and diplomatic role while avoiding the costs of hegemonic leadership. This trend is unlikely to remain limited to the Middle East.
Governments across the world are already acting on a shared diagnosis: the United States is no longer reliable, and reducing long-term dependence on Washington has become a strategic imperative. Europe is building toward autonomy through higher defense spending, nascent European command structures, and a growing emphasis on non-U.S. arms procurement—reducing Washington’s leverage over European foreign policy and straining the interoperability on which NATO’s collective defense depends. In Asia, Japan has relaxed its postwar restrictions on arms exports, and South Korea is exploring sovereign nuclear capabilities that would have been inconceivable a decade ago—developments that signal an erosion of the extended deterrence guarantees that have underpinned the U.S. alliance architecture in Asia for over 70 years. In Latin America, countries are focused more on developing EU and intraregional trade agreements than U.S.-centered frameworks. The pace and the institutional depth vary across regions, but the direction of travel is the same.
As in the Middle East, China need not take on the burdens of replacing the United States to exploit these shifts. In Asia, its dominant positions in batteries, electric vehicles, and the critical minerals that underpin the energy transition make it an indispensable commercial partner for major energy importers regardless of their security ties with Washington. Beijing understands that influence flows not to the power that is willing to guarantee order but to the one that is best positioned to mold what replaces it.
The Iran war has done more than reshape the Middle East. It has accelerated a redistribution of power along an axis stretching from the eastern Mediterranean to the Indian subcontinent, weakened the U.S.-led regional order, and opened new space for competitors. But if the Middle East is the first region to move definitively into a G-Zero world, it will not be the last.
IAN BREMMER is President and Founder of Eurasia Group.
FIRAS MAKSAD is Managing Director for Middle East and North Africa at Eurasia Group.
Nhận xét
Đăng nhận xét