4329 - Khi lệnh ngừng bắn thực chất là thế bế tắc

Hussein Banai 

Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và Tổng thống Mỹ Donald Trump tại Palm Beach, Florida, tháng 12 năm 2025. Ảnh: Jonathan Ernst / Reuters

Thế bế tắc là kết cục ngoại giao ít được coi trọng nhất. Nó không giải quyết được vấn đề gì, không làm hài lòng bất kỳ ai, và chỉ được coi là chiến thắng đối với bên yếu thế hơn—những người mà việc duy trì sự tồn tại đã được xem là một thành tựu. Tuy nhiên, đây lại là trạng thái mà cuộc chiến giữa Iran và Hoa Kỳ đã rơi vào, và sau 107 ngày giao tranh, cả hai bên cuối cùng đã chính thức hóa tình trạng này. Vào ngày 17 tháng 6, Tehran và Washington đã ký một thỏa thuận nhằm mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt lệnh phong tỏa hải quân của Mỹ, nhưng lại không giải quyết được các tranh chấp cốt lõi giữa hai nước. Thỏa thuận này mang lại sự giải tỏa thực sự cho Tehran: Washington sẽ ngay lập tức dỡ bỏ các lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ Iran, bắt đầu giải phóng các khoản tiền bị phong tỏa của nước này và cam kết thực hiện gói tái thiết trị giá ít nhất 300 tỷ USD. Thế nhưng, mọi vấn đề hóc búa liên quan đến chương trình hạt nhân, chương trình tên lửa và mạng lưới các lực lượng ủy nhiệm của Iran đều bị gác lại cho một thời điểm chưa xác định trong tương lai.

Đối với Tổng thống Mỹ Donald Trump, đây không phải là một kết quả mỹ mãn. Khi phát động cuộc chiến chống lại Iran vào cuối tháng 2, ông Trump đã hứa với người dân Mỹ rằng ông sẽ chấm dứt chương trình hạt nhân của nước này, triệt tiêu năng lực tên lửa và thậm chí có thể lật đổ chính thể Cộng hòa Hồi giáo. Ông đã thất bại trên mọi phương diện. Thực tế, cuộc chiến cho thấy Tehran có khả năng chống chịu tốt hơn nhiều so với dự đoán của nhiều nhà phân tích. Chế độ này đã vượt qua nhiều tháng gian nan—bao gồm cả việc gần như toàn bộ giới lãnh đạo cấp cao bị ám sát—mà vẫn đứng vững. Bằng cách phong tỏa eo biển Hormuz và đẩy giá năng lượng tăng vọt, Tehran thậm chí còn chứng minh được rằng họ nắm trong tay công cụ để gây sức ép lên các chính phủ khác, bao gồm cả Washington. Suy cho cùng, chi phí nhiên liệu tăng cao chính là một trong những yếu tố thúc đẩy ông Trump chấm dứt xung đột.

Dẫu vậy, kết quả này không nhất thiết phải là một thất bại đối với Hoa Kỳ. Washington đã đạt được một số thành công về mặt chiến thuật trong cuộc chiến và cũng không phải nhượng bộ quá nhiều. Nhìn chung, thỏa thuận này chủ yếu là sự trở lại trạng thái nguyên trạng như trước chiến tranh. Tất nhiên, các viên chức Mỹ vẫn cần phải kiểm soát tham vọng hạt nhân, tên lửa và các lực lượng ủy nhiệm của Iran. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã làm được điều đó trong suốt 20 năm qua mà không cần dùng đến xung đột vũ trang. Họ hoàn toàn có thể làm được điều đó một lần nữa.

HỨA HẸN QUÁ NHIỀU, THỰC HIỆN QUÁ ÍT

Ngay từ khi bắt đầu ném bom Iran, Hoa Kỳ đã tự đặt mình vào thế khó khi định nghĩa chiến thắng theo những mục tiêu tối đa. Khi tuyên bố khai chiến, ông Trump khẳng định Washington không chỉ xóa bỏ chương trình hạt nhân của Iran mà còn "phá hủy tên lửa và san phẳng ngành công nghiệp tên lửa của họ". Quân đội Mỹ sẽ "tiêu diệt hoàn toàn" hải quân Iran và "đảm bảo rằng các lực lượng ủy nhiệm khủng bố của chế độ này không còn khả năng gây bất ổn cho khu vực hay thế giới". Ông kêu gọi người dân Iran xuống đường lật đổ chính quyền. Nói cách khác, Tổng thống đã đề ra những mục tiêu cực kỳ tham vọng.

Không có gì ngạc nhiên khi ông Trump thất bại. Hoa Kỳ và Israel đã nhanh chóng loại bỏ hầu hết các quan chức cấp cao của Iran, bao gồm cả Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei. Tuy nhiên, Tehran đã nhanh chóng bổ nhiệm người thay thế và tiếp tục chiến đấu. Washington tuyên bố đã phá hủy phần lớn năng lực công nghiệp quốc phòng của Iran, nhưng Tehran lại gia tăng các cuộc tấn công bằng tên lửa nhắm vào các căn cứ của Mỹ trong khu vực, cơ sở hạ tầng dầu khí của các nước Ả Rập láng giềng, cũng như các mục tiêu quân sự và dân sự bên trong lãnh thổ Israel. Quan trọng nhất, các quan chức Iran nhận ra rằng họ có thể phong tỏa eo biển Hormuz, gây ra tình trạng thiếu hụt năng lượng toàn cầu và tạo áp lực lên giới chức Mỹ.

Cuối cùng, ông Trump buộc phải chấp nhận thực tế và đạt được thỏa thuận ngừng bắn với Iran. Trong giai đoạn ngay sau đó, tình trạng thù địch vẫn âm ỉ tiếp diễn thay vì chấm dứt hoàn toàn; Israel tập trung tấn công các vị trí của Hezbollah trên khắp Lebanon, bất chấp việc Tehran khăng khăng rằng thỏa thuận ngừng bắn phải bao gồm cả phía Israel. Quân đội Mỹ và Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran cũng thỉnh thoảng tấn công các vị trí của nhau quanh eo biển Hormuz. Trong suốt quá trình này, Washington vẫn không chịu từ bỏ các yêu sách tối đa của mình trong các cuộc đàm phán hòa bình. Chẳng bao lâu sau, Hoa Kỳ chuyển sang biện pháp phong tỏa Iran với hy vọng buộc nước này phải nhượng bộ. Tuy nhiên, áp lực đó lại thất bại, và đến đầu tháng 6, cộng đồng tình báo Mỹ nhận định rằng chế độ này có thể cầm cự vô thời hạn. Do đó, chính quyền Trump không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận một thỏa thuận chấm dứt mọi hành động thù địch để mở lại eo biển Hormuz.

Tổng thống đã cố gắng quảng bá thỏa thuận ngừng bắn mới như một thắng lợi, với lập luận rằng tình trạng bị cô lập kéo dài và khả năng dễ bị tổn thương trước các cuộc tấn công của Mỹ gia tăng (thực tế là Mỹ đã làm suy yếu đáng kể hệ thống phòng thủ của Iran) cuối cùng sẽ buộc nước này phải đầu hàng. Tuy nhiên, Tehran cũng có lý do chính đáng để tuyên bố mình là bên chiến thắng, và câu chuyện về thắng lợi của họ vừa đơn giản hơn lại vừa sát với thực tế hơn. Như các nhà lãnh đạo Iran đã chỉ ra một cách xác đáng, chế độ này đã trụ vững sau nhiều tuần bị oanh tạc bởi hai đối thủ mạnh hơn nhiều. Họ vẫn giữ được hàng trăm kg uranium đã làm giàu và duy trì năng lực tiếp tục làm giàu thêm. Quan trọng nhất, họ đã chứng minh được khả năng kiểm soát tuyến đường vận chuyển dầu huyết mạch của thế giới.

Điều này không có nghĩa là Iran bỗng chốc trở thành một cường quốc hay Cộng hòa Hồi giáo đã vượt qua được vô số cuộc khủng hoảng về tính chính danh. Nền kinh tế và cơ sở hạ tầng của nước này vốn đã chịu áp lực nặng nề từ trước khi chiến tranh nổ ra, dẫn đến các cuộc biểu tình quy mô lớn trên toàn quốc vào tháng Một mà chế độ chỉ có thể dập tắt bằng các biện pháp trấn áp tàn bạo. Giờ đây, tình hình vật chất của đất nước còn tồi tệ hơn nhiều do các cuộc oanh tạc của Mỹ và Israel. Tuy nhiên, vị thế địa chính trị của chế độ lại được cải thiện ngay cả khi tình hình trong nước xấu đi. Bằng cách giành quyền kiểm soát eo biển Hormuz, Tehran đã nắm trong tay một quân bài mặc cả mà trước đó họ không có; điều này mang lại cho họ lợi thế lớn hơn khi đàm phán về vấn đề hạt nhân và tìm cách ngăn chặn Washington tấn công thêm một lần nữa.

CẮN RĂNG CHỊU ĐỰNG

Cộng hòa Hồi giáo đã quá quen thuộc với nghệ thuật duy trì thế bế tắc. Suy cho cùng, trong gần 50 năm qua, họ đã định hình bản sắc một phần thông qua cuộc đối đầu không hồi kết với Washington. Quá trình đó đã giúp họ học cách chịu đựng áp lực đáng kể từ phía Mỹ. Thực tế, chế độ này luôn chủ động duy trì mối quan hệ với Mỹ ở trạng thái cân bằng đầy căng thẳng: đảm bảo không có quá nhiều tiến triển (điều sẽ làm tổn hại đến cam kết cách mạng của chế độ là chống lại Washington) nhưng cũng không để căng thẳng leo thang quá mức (điều có thể dẫn đến một cuộc xâm lược toàn diện). Ngược lại, Mỹ chưa bao giờ cảm thấy thoải mái với tình trạng này. Các quan chức Mỹ từ lâu đã yêu cầu Iran phải thu hẹp chương trình hạt nhân, giải giáp kho tên lửa và loại bỏ mạng lưới các lực lượng ủy nhiệm—những mục tiêu không thể đạt được nếu hai bên vẫn duy trì thế bế tắc. Sự bất đối xứng này khiến Washington khó chấp nhận tình trạng bế tắc hơn nhiều so với Tehran. Hoa Kỳ đơn giản là không thể dung thứ cho việc Iran thống trị khu vực, dù điều đó đạt được thông qua các mạng lưới Hồi giáo dòng Shiite tại Iraq, Lebanon, Syria và Yemen hay thông qua năng lực răn đe hạt nhân. Tuy nhiên, như thực tế vài tháng qua đã cho thấy rõ, chiến tranh không phải là giải pháp phù hợp để ngăn chặn điều này. Thay vào đó, những lo ngại này đòi hỏi các biện pháp khác biệt và có trọng tâm hơn.

Hãy xem xét vấn đề tên lửa và các lực lượng ủy nhiệm vũ trang của Iran. May mắn thay cho Washington, những vấn đề này vấp phải sự phản đối mạnh mẽ trong khu vực, và các mối đe dọa mà chúng gây ra có thể được kiềm chế bởi chính những quốc gia chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất, cụ thể là Israel và các quốc gia quân chủ vùng Vịnh. ​​Israel có thể duy trì khả năng răn đe đáng tin cậy, trong khi các quốc gia vùng Vịnh có thể tăng cường hệ thống phòng không trong ngắn hạn, đồng thời theo đuổi một sự dàn xếp chiến lược với Tehran trong dài hạn dựa trên các mối quan hệ kinh tế và văn hóa. Về phần mình, Hoa Kỳ có thể đẩy mạnh hỗ trợ an ninh cho các quốc gia này như một phần của chiến lược kiềm chế. Điều này sẽ cho phép Washington quản lý tình trạng bế tắc theo cách không gây hao tổn nguồn lực của Mỹ, qua đó tránh gây nguy hại cho lợi ích của Mỹ tại khu vực.

Hoa Kỳ không thể trông cậy vào các đối tác để quản lý chương trình hạt nhân của Iran, nhưng họ vẫn có những công cụ khác để đối phó với mối đe dọa này. Tehran có thể sẽ không bao giờ đồng ý từ bỏ hoàn toàn việc làm giàu uranium, nhưng chính phủ Iran vẫn có động lực để đạt được một thỏa thuận áp đặt các giới hạn thực chất lên chương trình hạt nhân của mình, đổi lấy việc được nới lỏng các lệnh trừng phạt vốn đang rất cần thiết. Một thỏa thuận như vậy có thể vấp phải sự phản đối từ phe cứng rắn tại Iran – những người vốn không chấp nhận bất kỳ sự thỏa hiệp nào với Washington. Tuy nhiên, miễn là thỏa thuận đó khẳng định quyền chủ quyền của chế độ trong việc làm giàu uranium, các thành phần thực dụng hơn tại Iran có thể coi đó là một sự nhượng bộ lớn mà họ giành được từ một chính quyền Mỹ cứng rắn – vốn buộc phải từ bỏ yêu cầu tối đa là buộc Iran chấm dứt hoàn toàn chương trình hạt nhân.

Các đối tác Ả Rập vùng Vịnh của Washington nhiều khả năng sẽ ủng hộ một thỏa thuận như vậy. Do từng bị Iran tấn công trực tiếp và liên tục để trả đũa việc cho phép Mỹ đặt căn cứ quân sự, cũng như phải gánh chịu hậu quả kinh tế khi eo biển bị phong tỏa, các quốc gia này hoàn toàn có lý do để ưu tiên một Iran bị kiềm chế hơn là một Iran lao vào chiến tranh. Trên thực tế, hầu hết các chế độ quân chủ vùng Vịnh đều tích cực thúc đẩy việc giảm căng thẳng và đàm phán thỏa thuận. Tuy nhiên, Israel sẽ không ủng hộ điều này. Quốc gia này coi Iran là mối đe dọa sống còn cần phải bị khuất phục hoàn toàn, và do đó đã tìm cách ngăn cản thành công của các cuộc đàm phán hòa bình. Chẳng hạn, quân đội Israel đã tấn công khu vực Beirut vào ngày 14 tháng 6, đúng thời điểm Tehran và Washington đang hoàn tất thỏa thuận. Đáp lại, Iran đã chuẩn bị tấn công trả đũa cho đến khi các nhà ngoại giao Mỹ cam kết sẽ buộc Israel ngừng tấn công Hezbollah, qua đó cho phép thỏa thuận được hoàn tất. Dù vậy, Washington cần lường trước những hành động tương tự trong tương lai, bao gồm cả khả năng Israel sẽ cố gắng châm ngòi lại chiến tranh bằng cách tấn công trực tiếp vào các cơ sở hạt nhân của Iran. Để ngăn chặn kịch bản này, Hoa Kỳ sẽ phải tận dụng đòn bẩy mà họ có đối với đồng minh của mình—ví dụ như đặt điều kiện cho việc bán vũ khí, rút ​​lại sự hỗ trợ về tình báo và ngừng cung cấp sự bảo vệ về mặt ngoại giao. Đồng thời, Mỹ cũng nên đưa ra các cam kết đảm bảo an ninh để Israel không cảm thấy buộc phải tấn công Iran.

Việc thực hiện tất cả những điều này sẽ không hề dễ dàng, và không chỉ bởi vì Washington muốn dành sự hỗ trợ sâu rộng cho đối tác Israel. Ngoài ra, còn có nhiều nhân vật chủ chốt trong giới hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ nhất quyết không chịu thừa nhận rằng Hoa Kỳ không thể đánh bại Iran; họ vẫn coi tình trạng bế tắc hiện nay chỉ là quãng nghỉ trước khi tái khởi động chiến tranh và giành chiến thắng quyết định. Tuy nhiên, thực tế cho thấy Iran đã chứng minh được khả năng chống chịu áp lực cực độ và gây ra những tổn thất nặng nề cho Hoa Kỳ, ngay cả khi năng lực tấn công của họ đã bị suy giảm nghiêm trọng. Ngay cả khi Washington có đủ quyết tâm cho một cuộc tấn công trên bộ kéo dài, chính quyền hiện tại cũng không có tầm nhìn và kỷ luật cần thiết cho một chiến dịch như vậy. Bất kỳ cuộc xung đột nào bùng phát trở lại cũng chỉ dẫn đến việc tiêu tốn kho vũ khí và tên lửa đánh chặn của Washington, châm ngòi cho lạm phát toàn cầu và thử thách sự kiên nhẫn của các đối tác Hoa Kỳ.

Do đó, đã đến lúc Hoa Kỳ phải nhìn thẳng vào sự thật: họ đang rơi vào thế bế tắc. Thay vì mải mê suy tính cách đánh bại hoàn toàn Iran, họ nên bắt đầu tìm cách quản lý một mối quan hệ đầy trắc trở và đối đầu theo hướng hòa bình. Công việc này chẳng hề hào nhoáng—những kết cục bất phân thắng bại hiếm khi nào mang lại vẻ hào nhoáng cả. Tuy nhiên, đó lại là cách duy nhất để Washington thực sự kiềm chế được Tehran và duy trì vị thế của Mỹ tại Trung Đông.

HUSSEIN BANAI là Phó Giáo sư ngành Nghiên cứu Quốc tế tại Trường Nghiên cứu Toàn cầu và Quốc tế Hamilton Lugar thuộc Đại học Indiana, Bloomington, đồng thời là đồng tác giả cuốn *Republics of Myth: National Narratives and the U.S.-Iran Conflict* (tạm dịch: Các nền Cộng hòa của những huyền thoại: Những tự sự quốc gia và cuộc xung đột Mỹ-Iran).

https://www.foreignaffairs.com/war-iran/when-cease-fire-really-stalemate

***

When a Cease-Fire Is Really a Stalemate

Equilibrium With Iran Is the Best America Can Do

Israeli Prime Minister Benjamin Netanyahu and U.S. President Donald Trump in Palm Beach, Florida, December 2025 Jonathan Ernst / Reuters

Astalemate is the least admired of diplomatic outcomes. It resolves nothing, satisfies no one, and is counted as a victory only by the weaker party, for whom survival is achievement enough. But this is the condition into which the war between Iran and the United States has settled and, after 107 days of hostilities, the one both sides have finally made formal. On June 17, Tehran and Washington signed a deal that reopens the Strait of Hormuz and ends the American naval blockade while doing nothing to address the two countries’ underlying disputes. The deal offers Tehran genuine relief: Washington will immediately waive sanctions on Iranian oil, begin releasing frozen Iranian funds, and commit to a reconstruction package worth at least $300 billion. But every hard question about Iran’s nuclear program, its missile program, and its network of proxies has been punted to an undetermined point in the future.

For U.S. President Donald Trump, this is not a great outcome. When Trump launched the war against Iran in late February, he promised Americans that he would end the country’s nuclear program, dismantle its missile capacities, and perhaps destroy the Islamic Republic itself. He failed on every count. In fact, the war showed that Tehran is more resilient than many analysts expected. The regime endured months of pain—including the assassination of almost its entire top leadership—and emerged intact. By shutting off the Strait of Hormuz and sending energy prices skyward, Tehran even proved that it has a tool it can use to coerce other governments, Washington included. Rising gas costs, after all, are part of what prompted Trump to end the conflict.

Still, this result doesn’t need to be a defeat for the United States. Washington achieved some tactical successes during the war, and it conceded relatively little. On the whole, the deal is mostly a return to the prewar status quo. Yes, American officials still need to manage Iran’s nuclear aspirations, missiles, and proxies. But the United States has been able to do so for the last 20 years without resorting to conflict. It can do so once more.

OVERPROMISE, UNDERDELIVER

From the moment it began bombing Iran, the United States put itself in a difficult position by defining victory in maximalist terms. In announcing the war, Trump declared that Washington would not only eliminate Iran’s nuclear program. It would also “destroy their missiles and raze their missile industry to the ground.” American troops would “annihilate” the Iranian navy and “ensure that the regime’s terrorist proxies can no longer destabilize the region or the world.” He called on Iranians to take to the streets to topple their government. The president, in other words, laid out extraordinarily lofty objectives.

Not surprisingly, Trump failed. The United States and Israel did quickly kill off almost all of Iran’s top officials, including Supreme Leader Ali Khamenei. But Tehran swiftly replaced them and kept fighting. Washington claimed it had largely destroyed Iran’s military industrial capacity. But Tehran intensified its missile attacks against American bases in the region, on the oil and gas infrastructure of neighboring Arab countries, and on military and civilian targets inside Israel. Most important, Iranian officials figured out that they could shutter the Strait of Hormuz, creating energy shortages around the world and putting pressure on U.S. officials.

Eventually, Trump bowed to reality and struck a cease-fire with Iran. In the initial aftermath, the hostilities simmered more than they stopped, as Israel focused its attacks on Hezbollah positions across Lebanon in defiance of Tehran’s insistence that the cease-fire also extended to the Israelis. The American military and Iran’s Islamic Revolutionary Guard Corps also sporadically attacked each other’s positions around the Strait of Hormuz. All along, Washington refused to back down from its maximalist demands as part of peace talks. Soon, the United States resorted to blockading Iran in hopes of forcing it to yield. But the pressure again failed, and by the start of June, the U.S. intelligence community determined that the regime could hold out indefinitely. The Trump administration was thus left with no option but to settle for a deal that ends all fighting in order to reopen the Strait of Hormuz.

The president has tried to sell the new cease-fire as a victory, arguing that Iran’s ongoing isolation and increased vulnerability to American strikes (the United States did, indeed, substantially weaken Iranian defenses) will eventually force the country to surrender. But Tehran has a strong claim that it won, too, and its story of victory is both simpler and better matched to the facts on the ground. As Iranian leaders correctly point out, the regime survived a multiweek bombardment by two more-powerful opponents. It has held on to hundreds of kilograms of enriched uranium and retains the capacity to enrich more. Most important, it has demonstrated that it can dominate the world’s most important thoroughfare for oil.

This does not mean that Iran is suddenly a great power or that the Islamic Republic has overcome its many crises of legitimacy. Its economy and infrastructure were under severe strain well before the war, leading to massive nationwide protests in January that the regime could stop only through brutal repression. Now, the country’s material picture is considerably worse, thanks to the U.S. and Israeli bombardment. Yet the regime’s geopolitical hand has improved even as its domestic position has deteriorated. By seizing control of the Strait of Hormuz, Tehran has acquired a bargaining chip it did not previously hold, affording it more leverage as it negotiates over nuclear issues and looks to make sure that Washington doesn’t attack it once more.

BITE THE BULLET

The Islamic Republic is well practiced in the art of the stalemate. For nearly 50 years, after all, it has defined itself in part by engaging in an unending competition with Washington. In doing so, it learned to tolerate significant U.S. pressure. In fact, the regime has actively sought to keep relations with the United States in an unpleasant equilibrium, ensuring there is neither too much progress (which would compromise the regime’s revolutionary commitment to opposing Washington) nor too much tension (which could result in a full-scale invasion). The United States, by contrast, has never felt as comfortable with these conditions. U.S. officials have long demanded that Iran roll back its nuclear program, dismantle its missile arsenal, and eliminate its network of proxies—none of which is achievable if the two sides remain in a deadlock.

This asymmetry makes the stalemate much harder for Washington to accept than it is for Tehran. The United States simply cannot tolerate Iranian regional dominance, whether it is achieved through Shiite networks in Iraq, Lebanon, Syria, and Yemen or through a nuclear deterrent. But as the last few months have made clear, war is not the right way to stop it. Instead, these concerns require different, more targeted instruments.

Consider Iran’s missiles and armed proxies. Thankfully for Washington, these issues generate intense regional opposition and the threats they pose can be checked by the states most exposed to them, namely Israel and the Gulf monarchies. Israel can sustain credible deterrence, and the Gulf monarchies can harden their air defenses in the near term while pursuing, over the longer run, a strategic accommodation with Tehran built on economic and cultural ties. The United States, for its part, can bolster American security assistance to these countries as part of a strategy of containment. This would allow Washington to manage the stalemate in a manner that does not tax U.S. resources and thus endanger American interests in the region.

A mural in memory of killed Iranian leaders in Tehran, Iran, June 2026 Majid Asgaripour / Reuters

The United States cannot count on its partners to manage Iran’s nuclear program. But it has other tools it can use to handle this threat. Tehran may never agree to give up enriching uranium altogether, but the Iranian government still has an incentive to strike a deal that imposes meaningful limits on its program in exchange for desperately needed sanctions relief. Such an agreement might engender resistance among Iranian hard-liners, who are averse to any kind of compromise with Washington. But as long as the deal affirms the regime’s sovereign right to enrich, Iran’s more pragmatic elements could present it as a major concession wrung from a hardline U.S. administration forced to abandon its maximalist demand that Iran end its nuclear program altogether.

Washington’s Gulf Arab partners would likely back such an agreement. Having now been directly and repeatedly attacked by Iran in retaliation for hosting U.S. bases and having suffered the economic consequences of the strait’s closure, these countries have every reason to prefer a contained Iran to one that goes to war. In fact, most of the Gulf monarchies have actively pushed for de-escalation and dealmaking. But Israel will not be supportive. That country sees Iran as an existential threat that must be beaten into submission, and it has thus worked to keep the peace talks from succeeding. The Israeli military, for example, struck the Beirut area on June 14, just as Tehran and Washington were finalizing their agreement. Iran, in turn, geared up to strike back until American diplomats promised to force the Israelis to stop attacking Hezbollah—allowing the deal to be completed. But Washington should expect more of the same going forward, including the possibility that Israel will try to reignite the war by striking Iran’s nuclear facilities directly. To prevent such an outcome, the United States will have to exercise the leverage it holds over its ally—such as by conditioning arms sales, withdrawing intelligence assistance, and no longer providing diplomatic protection. At the same time, it should offer Israel security assurances so that the country does not feel that it must attack Iran.

Doing all this will not be easy, and not just because Washington wants to provide extensive support to its Israeli partner. There are also many American foreign policy elites who simply refuse to admit that the United States cannot beat Iran and are thus still treating the current impasse as an intermission before restarting the war and achieving a conclusive victory. Yet the reality is that Iran has shown it can withstand extreme pressure and impose serious costs on the United States, including when its offensive capabilities are badly degraded. Even if Washington could muster the resolve required for a protracted ground invasion, this particular administration does not have the vision and discipline such an operation would demand. All renewed conflict would do is burn through Washington’s munitions and interceptors, spark worldwide inflation, and test the patience of U.S. partners.

It is thus time for the United States to acknowledge the truth: it is caught in a stalemate. It should stop musing about how to conclusively defeat Iran and start figuring out how to peacefully manage a tricky, confrontational relationship. Such work is hardly glamorous; draws never are. But it is the only way Washington can actually keep Tehran in check and preserve U.S. power in the Middle East.

HUSSEIN BANAI is Associate Professor of International Studies at the Hamilton Lugar School of Global and International Studies at Indiana University, Bloomington, and a co-author of Republics of Myth: National Narratives and the U.S.-Iran Conflict.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

4277 - Ông Nguyễn Tất Trung qua đời

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?