4192 - Thử thách lửa thử vàng trong quan hệ xuyên Đại Tây Dương

David V. Gioe 

Tại sao cuộc khủng hoảng giữa Washington và Châu Âu có thể là "cái rủi lại hóa cái may"

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio và Tổng thư ký NATO Mark Rutte bắt tay tại Helsingborg, Thụy Điển, tháng 5 năm 2026. Ảnh: Julia Demaree Nikhinson / Pool / Reuters

Sau 18 tháng trong nhiệm kỳ tổng thống thứ hai, có vẻ như Donald Trump đã thay đổi vĩnh viễn mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và các đồng minh xuyên Đại Tây Dương. Những lời lẽ của ông đối với các đối tác mang tính phá hoại và các chính sách thì bất nhất; cách tiếp cận tổng thể của chính quyền ông đã làm suy yếu trật tự hậu Thế chiến II và cấu trúc an ninh hậu Chiến tranh Lạnh theo những cách mà ngay cả trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông cũng khó có thể tưởng tượng nổi. Bằng việc hạ thấp vai trò của NATO, đe dọa sáp nhập lãnh thổ của các nước thành viên, có khả năng vi phạm luật pháp quốc tế, cắt giảm viện trợ quốc phòng cho Ukraine, chính trị hóa hoạt động tình báo và ngừng triển khai quân thường lệ tới Ba Lan, chính quyền Trump nhiệm kỳ hai đã làm hao tổn nghiêm trọng cả quyền lực mềm lẫn quyền lực cứng của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, dù tình trạng hiện tại của liên minh xuyên Đại Tây Dương có vẻ ảm đạm, nó cũng đang thúc đẩy một cuộc chuyển đổi cần thiết từ lâu, mà rốt cuộc có thể giúp liên minh này trở nên mạnh mẽ và cân bằng hơn trước.

Trong bài viết trên tạp chí *Foreign Affairs* vào tháng 2, nhà khoa học chính trị Stephen Walt đã nhận định đúng đắn rằng Trump đang sử dụng quyền lực của Hoa Kỳ như một "kẻ bá quyền đầy tính săn mồi" nhằm "khẳng định sự thống trị đối với cả bạn bè lẫn kẻ thù". Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thủ tướng Canada Mark Carney đã chỉ ra một "sự rạn nứt" trong trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, và báo cáo của Hội nghị An ninh Munich năm 2026 đã mô tả gay gắt Trump là một "kẻ phá hủy"; ngụ ý rằng sẽ không còn đường quay lại trạng thái cũ. Mặc dù những nhận định này mô tả chính xác tình hình hiện tại (và sự bi quan của họ là điều dễ hiểu), chúng cũng mắc phải lỗi nhìn nhận phiến diện chỉ dựa vào thực tại trước mắt. Bởi lẽ, ẩn sau sự hỗn loạn và bất hòa là một khả năng đi ngược lại với suy nghĩ thông thường: chính cuộc khủng hoảng mà Trump tạo ra đang buộc các đồng minh của Hoa Kỳ phải phát triển năng lực quân sự và tình báo, những yếu tố có thể giúp các quan hệ đối tác của Washington trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Sự thật là trong nhiều thập kỷ, mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương đã tồn tại vấn đề "kẻ đi nhờ" (hưởng lợi mà không đóng góp tương xứng). Hầu hết các quan chức châu Âu đều thừa nhận rằng hành động của Trump trong nhiệm kỳ hai—cùng với mối đe dọa ngày càng tăng từ tham vọng phục thù của Nga—cuối cùng đã thuyết phục họ nỗ lực tự đứng trên đôi chân của mình trong các vấn đề quân sự và tình báo. Việc châu Âu đầu tư vào trinh sát vệ tinh, phòng không, phát triển máy bay không người lái và sản xuất đạn dược có thể tăng cường năng lực cho Hoa Kỳ bằng cách cung cấp cho Washington nhiều thông tin tình báo hơn (và đa dạng hơn), kho dự trữ chung dồi dào hơn, hệ thống thông tin liên lạc có tính dự phòng cao và một sườn phía đông vững chắc hơn. Tóm lại, Hoa Kỳ sẽ không còn phải là bên mặc nhiên cung cấp mọi yếu tố thiết yếu để ứng phó với một cuộc khủng hoảng tại châu Âu. Tuy nhiên, năng lực chỉ là một phần của phương trình liên minh; vấn đề nan giải hơn là liệu nền tảng chính trị và đạo đức của liên minh này có thể được hàn gắn hay không. Tại Hội nghị An ninh Munich vào mùa đông vừa qua, Ngoại trưởng Marco Rubio đã khẳng định rằng những giá trị chung cốt lõi vẫn gắn kết Hoa Kỳ với các đồng minh lâu năm tại châu Âu. Thế nhưng, niềm tin đó hiện đã rạn nứt nghiêm trọng. Việc hàn gắn niềm tin là vô cùng cấp thiết bởi những mối đe dọa mà cả châu Âu và Hoa Kỳ đang đối mặt đều rất đáng gờm: các quốc gia có tham vọng thay đổi trật tự thế giới như Trung Quốc và Nga, sự phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chủ nghĩa khủng bố, và thậm chí là những tác động đến an ninh quốc gia do biến đổi khí hậu gây ra.

Washington sẽ phải khôi phục niềm tin thông qua sự kết hợp giữa hành động cụ thể và thái độ kiềm chế. Không chỉ thay đổi giọng điệu đối với châu Âu, các chính quyền tương lai của Hoa Kỳ cần công khai và liên tục tái khẳng định cam kết theo Điều 5 của Hiệp ước NATO, đồng thời tham vấn các đồng minh trước khi triển khai các chiến dịch quân sự quy mô lớn, bất kể tại khu vực nào: cuộc chiến liên quan đến Iran đã chứng minh rằng ngay cả những xung đột tưởng chừng chỉ mang tính cục bộ cũng có thể gây ra hệ quả toàn cầu. Họ cần ủng hộ chủ quyền của Ukraine và tăng cường thế trận răn đe tại sườn phía đông của NATO. Ngoài ra, Washington phải chấm dứt việc coi lãnh thổ của đồng minh là cơ hội để mở rộng ảnh hưởng, cũng như coi các cuộc bầu cử và tình hình chính trị nội bộ của đồng minh là dịp để can thiệp chính trị.

Giọt nước tràn ly

Từ rất lâu trước năm 2025, vấn đề châu Âu "hưởng lợi miễn phí" (free-rider) về an ninh đã là nguồn cơn gây bức xúc cho Washington. Đặc biệt là sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nhiều quốc gia châu Âu đã cắt giảm đầu tư cho quốc phòng và tình báo, tận dụng "lợi tức hòa bình" để mở rộng các chương trình phúc lợi xã hội, đồng thời dựa vào Hoa Kỳ để có được năng lực tác chiến hiện đại, thông tin tình báo và sức mạnh quân sự áp đảo. Các chính quyền kế nhiệm của Hoa Kỳ đã nhiều lần cố gắng thuyết phục các nước châu Âu chia sẻ gánh nặng đảm bảo an ninh cho châu lục này, nhưng chưa bao giờ thực sự thành công. Tuy nhiên, lời đe dọa rút khỏi NATO được ông Trump liên tục đưa ra, cùng với hành động gây hấn của Tổng thống Nga Vladimir Putin, cuối cùng đã tạo cơ sở chính đáng và tính cấp bách cho việc tái vũ trang tại châu Âu.

Cách rõ ràng nhất mà ông Trump làm rạn nứt mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương chính là thông qua những lời lẽ của mình: bên cạnh các lời đe dọa rút khỏi NATO—hoặc thậm chí chiếm giữ lãnh thổ của các thành viên khối này—ông liên tục chỉ trích gay gắt các nước châu Âu vì đã không hỗ trợ đầy đủ cho Hoa Kỳ trong cái gọi là cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, cũng như trong quá trình tiến hành cuộc chiến chống lại Iran hiện nay. Thực tế là NATO đã hoàn thành nghĩa vụ theo Điều 5 sau các cuộc tấn công ngày 11 tháng 9; nhiều quốc gia châu Âu đã đóng góp quân và chịu tổn thất về nhân mạng tại Afghanistan. Do đó, những lời công kích này đã khiến châu Âu trở nên e ngại hơn trong việc sát cánh cùng Hoa Kỳ khi xảy ra chiến tranh.

Ngoài vấn đề ngôn từ, chính quyền Trump còn cho thấy Hoa Kỳ có thể là một đối tác thiếu tin cậy trong các tình huống khủng hoảng. Hầu hết các đồng minh NATO đều coi việc Washington quay lưng với một Ukraine dân chủ trong cuộc chiến sinh tử chống lại Nga, cùng thái độ dường như đồng cảm của ông Trump với quan điểm của ông Putin, là sự vi phạm nghiêm trọng các lý tưởng chỉ đạo của nước Mỹ. Nhà Trắng đã phớt lờ các quy tắc tham vấn vốn là nền tảng của liên minh xuyên Đại Tây Dương, đặc biệt là trước cuộc tấn công bất ngờ vào Iran hồi cuối tháng 2—một hành động mà họ không hề tìm kiếm nghị quyết của Liên Hợp Quốc hay tham vấn bất kỳ đồng minh nào ngoài Israel.

Các đồng minh xuyên Đại Tây Dương không chỉ nghi ngờ cam kết của Hoa Kỳ đối với họ mà còn đặt dấu hỏi về khả năng phán đoán chiến lược cốt lõi của Washington. Coi cuộc chiến mà Hoa Kỳ và Israel phát động gần đây chống lại Iran là một sai lầm, phần lớn các đồng minh của Mỹ đã từ chối tham gia hỗ trợ. Tuy nhiên, vấn đề còn sâu sắc hơn thế: nhiều đồng minh của Mỹ bắt đầu coi Hoa Kỳ là một mối đe dọa an ninh, đúng như nhận định công khai của Cơ quan Tình báo Quốc phòng Đan Mạch vào tháng 12 năm ngoái. Một báo cáo đánh giá độc lập do chính phủ Anh ủy quyền và công bố vào cuối tháng 3 đã cảnh báo về "xu hướng sẵn sàng can thiệp và gây ảnh hưởng đến chính trị nước ngoài nhằm theo đuổi lợi ích riêng của các chủ thể nước ngoài và cá nhân tư nhân, bao gồm cả những người đến từ các quốc gia đồng minh như Hoa Kỳ." Những hành động gần đây của chính quyền Trump càng làm gia tăng những lo ngại đằng sau các đánh giá về mối đe dọa này. Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2025 của chính họ từng kêu gọi "nuôi dưỡng sự phản kháng đối với quỹ đạo hiện tại của châu Âu ngay trong nội bộ các quốc gia châu Âu," đồng thời cả Phó Tổng thống và Ngoại trưởng Hoa Kỳ đều công khai can thiệp vào cuộc bầu cử gần đây tại Hungary bằng cách vận động ủng hộ cho nhà lãnh đạo đương nhiệm. Lời kêu gọi hành động

Châu Âu hiện không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tìm cách phòng ngừa rủi ro trước một nước Mỹ thiếu tin cậy; trong quá trình đó, các quốc gia châu Âu đang thực hiện những thay đổi mang tính cấu trúc đối với chiến lược quốc phòng và tình báo—những thay đổi sẽ duy trì bất kể ai là người tiếp theo nắm quyền tại Nhà Trắng. Họ đang chạy đua để giảm bớt sự phụ thuộc vào Washington, trước hết là bằng cách phát triển nền tảng công nghiệp quốc phòng của chính mình. Cuộc chiến của Nga tại Ukraine đã phơi bày mức độ phụ thuộc lớn của châu Âu vào kho vũ khí và chuỗi cung ứng của Mỹ. Để khắc phục vấn đề này, vào tháng 7 năm 2025, Đức đã phá vỡ các nguyên tắc tài chính truyền thống vốn tồn tại hàng thập kỷ để tuyên bố tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng lên mức 178 tỷ USD vào năm 2029, nhằm lấp đầy các khoảng trống về năng lực và mở rộng chiều sâu công nghiệp. Các đồng minh khác của Mỹ cũng đang hợp tác đầu tư vào các nền tảng khí tài tiên tiến và hạn chế rủi ro từ các quyết định xuất khẩu của Mỹ. Song song với các khoản đầu tư mang tính lịch sử vào nền tảng công nghiệp trong nước, các nước châu Âu đang đa dạng hóa nguồn cung thiết bị quân sự và chuyển dịch chuỗi cung ứng sang các nước thân thiện ("friend-shoring"), qua đó giảm sự phụ thuộc vào các nhà sản xuất vũ khí Mỹ bằng cách tìm đến các nhà cung cấp trong nước, châu Âu, Hàn Quốc và các khu vực khác, đặc biệt là đối với máy bay không người lái, hệ thống phòng không và đạn dược.

Trong ngắn hạn, nỗ lực giảm phụ thuộc vào vũ khí Mỹ của châu Âu gặp trở ngại do thực tế là họ đang mua lượng vũ khí từ Mỹ nhiều hơn hẳn so với một thập kỷ trước. Tuy nhiên, những thương vụ mua sắm khẩn cấp này—vốn xuất phát từ nhu cầu trang bị cho Ukraine và bổ sung kho dự trữ của châu Âu—có thể lại là một phần của chiến lược phòng ngừa rủi ro dài hạn: giảm bớt sự phụ thuộc vào Washington mà không làm mất đi khả năng tương tác quân sự trong tương lai, phòng khi Mỹ trở lại thành một đồng minh đáng tin cậy. Đồng thời, châu Âu đang xây dựng năng lực huy động lực lượng và gia tăng kho dự trữ đạn dược, hướng tới sự tự chủ cao hơn trong tác chiến và đảm bảo cơ sở hạ tầng hậu cần có thể vận hành mà không cần sự hỗ trợ từ Mỹ. Các quốc gia châu Âu cũng đang chú trọng trở lại vào công tác phòng thủ lãnh thổ và khả năng chống chịu bằng cách gia cố các cảng biển, đầu mối đường sắt, cầu cống, sân bay, kho nhiên liệu và lưới điện, cũng như tăng cường phòng thủ mạng và xây dựng các phương án dự phòng cho mạng lưới thông tin liên lạc.

Trước đây, Washington thường dẫn dắt công tác hoạch định quốc phòng của NATO. Giờ đây, các quốc gia châu Âu đang từng bước đảm nhận vai trò lãnh đạo này. Chẳng hạn, sau khi Hoa Kỳ rút khỏi vị trí chủ trì Nhóm Liên lạc Quốc phòng Ukraine (cơ quan điều phối hỗ trợ quân sự cho Ukraine) vào tháng 4 năm 2025, Đức và Vương quốc Anh đã tiếp quản vai trò này; động thái đó cho thấy các đồng minh châu Âu đã sẵn sàng gánh vác nhiều trách nhiệm hơn trong việc duy trì năng lực phòng thủ của Ukraine. Các khuôn khổ hợp tác quốc phòng châu Âu đang ngày càng được tăng cường, tạo ra một cấu trúc an ninh mang tính phân tán và đa cực hơn. Ví dụ, Sáng kiến ​​Lá chắn Bầu trời Châu Âu (European Sky Shield Initiative) do Đức dẫn đầu đang tập hợp nỗ lực phòng không và phòng thủ tên lửa của 24 quốc gia châu Âu; đồng thời, kế hoạch "ReArm Europe" mới của EU—được hậu thuẫn bởi khoản vay 175 tỷ USD từ chương trình Hành động An ninh cho Châu Âu (Security Action for Europe)—sẽ tài trợ cho việc mua sắm chung nhằm củng cố nền tảng công nghiệp quốc phòng của châu lục này.

Trong nhiều thập kỷ, chi tiêu quốc phòng của châu Âu luôn là vấn đề gây tranh cãi, với những lời phàn nàn từ phía Mỹ và sự trì hoãn từ phía châu Âu. Tuy nhiên, áp lực cưỡng ép từ ông Trump (cùng hành động gây hấn của ông Putin) đã đạt được điều mà nhiều thập kỷ gây sức ép ngoại giao của Mỹ không làm nổi: biến việc tái vũ trang trở thành điều được công chúng châu Âu chấp nhận, thậm chí mong muốn. Các nghị viện từng phản đối việc tăng ngân sách quốc phòng nay lại tỏ ra sốt sắng công bố các kế hoạch tăng chi tiêu này.

Thử thách trong lĩnh vực tình báo

Những thay đổi trong lĩnh vực tình báo có thể ít lộ rõ ​​hơn nhưng lại quan trọng không kém. Mối quan hệ căng thẳng giữa chính quyền Trump và chính cộng đồng tình báo Hoa Kỳ đã gây ra những hệ lụy tiêu cực dây chuyền đối với mối quan hệ giữa cơ quan này và các đối tác liên kết. Các thủ đô châu Âu lo ngại rằng thông tin tình báo họ chia sẻ với Washington có thể bị rò rỉ, bị chính trị hóa hoặc gián tiếp dẫn đến các hành động vi phạm luật pháp quốc tế. Trong một cuộc phỏng vấn chung vào tháng 10 năm 2025, lãnh đạo các cơ quan tình báo nội địa và quân sự của Hà Lan cho biết những lo ngại này đang khiến họ phải hạn chế hợp tác tình báo với Washington. Vào tháng 11 năm 2025, CNN đưa tin rằng chính phủ Anh đã bắt đầu giữ lại thông tin chia sẻ với Hoa Kỳ liên quan đến chống buôn lậu ma túy nhằm tránh bị coi là đồng lõa trong các cuộc tấn công tiềm tàng bất hợp pháp nhắm vào tàu thuyền; trong khi đó, Canada cũng áp đặt các giới hạn nghiêm ngặt hơn đối với việc sử dụng thông tin tình báo của chính mình vì cùng lý do lo ngại này.

Hiện tại, các đồng minh lâu năm của Washington chưa thể thay thế nguồn tin tình báo mà Hoa Kỳ cung cấp. Tuy nhiên, họ đang thực hiện chiến lược phòng ngừa rủi ro bằng cách đầu tư mạnh hơn vào năng lực phân tích và thu thập thông tin của chính mình. Sự thay đổi này thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực tình báo không gian: các quốc gia châu Âu đang mở rộng mạng lưới vệ tinh của mình để đảm bảo khả năng độc lập trong việc thu thập hình ảnh và giám sát bằng radar. Pháp tiếp tục phát triển các hệ thống trinh sát quang học và radar quân sự của mình. Bắt đầu từ năm 2022, Đức đã triển khai các vệ tinh tối tân để cung cấp cho Berlin khả năng chụp ảnh 24/24 trong mọi điều kiện thời tiết. Hiện nay, Ý vận hành một chùm vệ tinh nhỏ nhưng hiện đại, cung cấp hình ảnh độ phân giải cao về bề mặt Trái Đất—hoạt động cả ngày lẫn đêm và trong mọi điều kiện thời tiết—phục vụ công tác giám sát quân sự, an ninh hàng hải cũng như các mục đích dân sự như ứng phó thảm họa. Các quốc gia có ngân sách hạn hẹp hơn đang chuyển hướng sang các giải pháp thương mại và dữ liệu không gian địa lý mã nguồn mở để tìm kiếm các nguồn thông tin thay thế.

Đồng thời, các chính phủ châu Âu cũng đang có những động thái muộn màng nhằm nới lỏng các hạn chế pháp lý đối với cơ quan tình báo, đồng thời tăng cường năng lực tình báo tín hiệu và tình báo mạng thông qua việc xây dựng các nền tảng thu thập và khai thác dữ liệu kỹ thuật số độc lập, không còn phụ thuộc hoàn toàn vào các cơ quan của Hoa Kỳ. Đức là ví dụ điển hình nhất: sau Thế chiến II, cơ quan tình báo đối ngoại của nước này bị trói buộc bởi những hạn chế tự áp đặt trong hoạt động, dẫn đến tình trạng phụ thuộc quá mức vào Hoa Kỳ. Vào cuối năm 2025, Berlin đã đề xuất mở rộng đáng kể thẩm quyền và nguồn lực cho cơ quan tình báo, cho phép thu thập thông tin liên lạc nước ngoài trên quy mô rộng hơn và thực hiện các hoạt động tác chiến mạng mang tính tấn công. Các quốc gia châu Âu khác cũng đang tăng cường năng lực và thẩm quyền cho cơ quan tình báo của mình, mở rộng biên chế, mua sắm các công cụ tình báo nguồn mở và thành lập các đơn vị hợp nhất dữ liệu (fusion cells); các đơn vị này kết hợp báo cáo từ các lĩnh vực quân sự, tình báo, không gian mạng, thực thi pháp luật và khu vực tư nhân để đưa ra các đánh giá về mối đe dọa nhanh chóng và có giá trị thực tiễn cao hơn.

Những khoản đầu tư này không hoàn toàn xuất phát từ những lo ngại liên quan đến tình báo Hoa Kỳ. Đây là những bước đi cần thiết từ lâu, và các hành động xâm lược của ông Putin cũng đã phơi bày những điểm yếu cũng như lỗ hổng trong hệ thống an ninh và tình báo châu Âu. Tuy nhiên, việc củng cố năng lực tự chủ trong đánh giá tình hình là biện pháp phòng ngừa quan trọng trước một Hoa Kỳ đầy khó lường. Chẳng hạn, khi Hoa Kỳ rút lui khỏi vai trò nhà cung cấp thông tin tình báo lớn nhất cho Ukraine, Pháp đã có thể bù đắp đáng kể cho khoảng trống đó.

Phản ứng đầy nghịch lý

Điều trớ trêu là chi tiêu cho quốc phòng và tình báo của châu Âu hiện nay không chỉ chịu sự chi phối bởi mong muốn tăng cường năng lực cho liên minh xuyên Đại Tây Dương, mà còn bởi nhu cầu phòng ngừa rủi ro trước sự thiếu tin cậy từ phía Mỹ. Những khoản ngân sách lẽ ra có thể được dùng để bù đắp các lỗ hổng cấp bách nhất của NATO thì nay lại phải dành cho việc xây dựng các năng lực tự chủ, nhằm đảm bảo châu Âu vẫn có thể hành động ngay cả khi Mỹ không tham gia. Tuy nhiên, nếu niềm tin xuyên Đại Tây Dương được khôi phục, các khoản đầu tư hiện tại của châu Âu có thể tạo tiền đề cho sự hợp tác quân sự và tình báo mạnh mẽ hơn nhiều so với mối quan hệ vốn đã gần như bị Trump cắt đứt.

Việc gia tăng sản xuất đạn dược, củng cố nền tảng công nghiệp quốc phòng nội địa và phát triển năng lực tác chiến độc lập sẽ cho phép các đồng minh này duy trì các chiến dịch cường độ cao trong thời gian dài hơn, gánh vác trách nhiệm lớn hơn đối với các tình huống khẩn cấp trong khu vực, đồng thời giảm bớt áp lực lên năng lực của Mỹ. Điều này không chỉ giúp châu Âu trở thành một chủ thể an ninh đáng tin cậy hơn và củng cố thế trận răn đe, mà còn cho phép Mỹ linh hoạt hơn trong việc phân bổ lực lượng giữa các chiến trường, đặc biệt là tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Các đồng minh có khả năng tự chủ cũng có thể hành động nhanh chóng hơn trong giai đoạn đầu của một cuộc khủng hoảng, thay vì phải chờ đợi Washington khởi xướng mọi biện pháp ứng phó. Chẳng hạn, một châu Âu mạnh mẽ hơn sẽ đảm bảo rằng NATO có khả năng đẩy lùi một cuộc xâm lược bằng vũ khí quy ước của Nga mà không cần sự tham gia quá sâu từ phía Mỹ.

Trong lĩnh vực tình báo, việc sở hữu thêm các chùm vệ tinh, bộ máy tình báo được đầu tư bài bản và đội ngũ giám sát dám chấp nhận rủi ro sẽ cho phép các đồng minh châu Âu đóng góp thông tin và các đánh giá từ nguồn tin riêng của họ, từ đó tạo ra cơ chế trao đổi tình báo mang tính tương hỗ hơn với Mỹ. Washington sẽ có thêm những góc nhìn mới, kiến ​​thức chuyên sâu về khu vực và độ bao quát thông tin rộng hơn. Dù có thể mất đi quyền định hướng chương trình nghị sự vốn có khi là nhà cung cấp tình báo chủ đạo, nhưng đổi lại, Mỹ sẽ có được những đối tác năng lực hơn, có khả năng xác nhận, phản biện hoặc hoàn thiện các đánh giá của chính họ.

Lịch sử đã chứng minh những cái giá phải trả khi các cơ quan tình báo trong một liên minh thiếu đi năng lực độc lập cần thiết. Trong giai đoạn chuẩn bị cho cuộc chiến tranh Iraq năm 2003, Berlin và Paris từng tỏ ra vô cùng hoài nghi trước những tuyên bố của Washington về việc Saddam Hussein sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt. Tuy nhiên, họ lại thiếu năng lực thu thập tình báo tương xứng để đưa ra những phản biện hiệu quả đối với các thông tin tình báo từ phía Mỹ. Nếu sở hữu các nền tảng tình báo kỹ thuật và mạng lưới nhân sự riêng bên trong Iraq, thì những nghi ngại của họ—nếu được củng cố bởi các nguồn tin độc lập đáng tin cậy—có thể đã mang đủ sức nặng bằng chứng để buộc Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc phải xem xét kỹ lưỡng hơn lập luận của Mỹ. Thay vào đó, thái độ hoài nghi của họ lại bị gạt bỏ và coi là sự do dự kiểu châu Âu, để rồi Mỹ tiến hành một trong những sai lầm chiến lược gây hậu quả nặng nề nhất kể từ Chiến tranh Việt Nam.

Niềm tin xuyên Đại Tây Dương sẽ không tự nhiên quay trở lại sau khi ông Trump rời nhiệm sở.

Gần đây hơn, cuộc chiến của Nga tại Ukraine đã cho thấy những bất cập của việc chia sẻ thông tin tình báo thiếu cân bằng trong một liên minh. Trước khi Moscow phát động cuộc xâm lược toàn diện vào năm 2022, các quan chức Mỹ và Anh đã khẩn cấp cảnh báo các đồng minh châu Âu. Tuy nhiên, một số thủ đô quan trọng vẫn nghi ngờ những cảnh báo này do thiếu năng lực tự thu thập và phân tích để kiểm chứng các báo cáo nhạy cảm nhất từ ​​Mỹ và Anh. Nếu sở hữu các cơ quan tình báo mạnh hơn, dù chưa chắc đã dự báo chính xác cuộc xâm lược, họ vẫn sẽ có vị thế tốt hơn để xác nhận và hành động dựa trên cảnh báo của Mỹ và Anh; khi đó, sẽ bớt lãng phí thời gian thuyết phục các đối tác rằng mối đe dọa là có thật, và dành nhiều thời gian hơn để chuẩn bị cho công tác phòng thủ của Kyiv. Logic tương tự cũng áp dụng cho năng lực quân sự độc lập: kho dự trữ lớn hơn và ngành công nghiệp quốc phòng mạnh hơn của châu Âu có thể đã giúp cung cấp thêm pháo binh, đạn dược, hệ thống phòng không và xe bọc thép ngay từ giai đoạn đầu cuộc chiến, đồng thời duy trì hỗ trợ Ukraine hiệu quả hơn khi Mỹ rút lại các nguồn cung khí tài.

Châu Âu có thể sẽ lớn mạnh theo những cách mang lại lợi ích cho Mỹ. Tuy nhiên, mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương vẫn cần được chủ động hàn gắn để có thể gặt hái những thành quả trong tương lai từ cuộc khủng hoảng hiện tại. Niềm tin đã bị rạn nứt và sẽ không tự nhiên phục hồi sau khi ông Trump rời nhiệm sở. Việc khôi phục niềm tin đòi hỏi sự thay đổi dài hạn trong thái độ và cách hành xử của các nhà lãnh đạo Mỹ qua nhiều kỳ bầu cử, nhằm trấn an những đồng minh vốn đang cảm thấy cấp thiết phải học cách tự tồn tại mà không cần đến Mỹ. Washington sẽ cần tham vấn các đối tác xuyên Đại Tây Dương trước khi hành động, tuân thủ cả văn bản lẫn tinh thần của các cam kết hiệp ước, sử dụng ngôn từ chừng mực khi bất đồng quan điểm, thể hiện sự kiềm chế và tư duy chiến lược khi sử dụng vũ lực, đảm bảo các đánh giá tình báo không bị chi phối bởi các toan tính chính trị, cũng như duy trì sự ủng hộ đối với Ukraine và sườn phía đông của NATO trên tinh thần chia sẻ gánh nặng công bằng hơn.

Các đồng minh châu Âu không thể đặt cược an ninh tương lai của mình chỉ vào hy vọng rằng tổng thống tiếp theo của Hoa Kỳ sẽ hành xử dễ đoán định hơn. Họ cũng sẽ không từ bỏ các kế hoạch gia tăng quyền tự chủ ngay cả khi một người ủng hộ mạnh mẽ quan hệ xuyên Đại Tây Dương quay trở lại nắm quyền. Các đồng minh sẽ tìm kiếm những minh chứng dài hạn cho thấy các cam kết của Hoa Kỳ có thể duy trì bền vững qua các giai đoạn chuyển giao quyền lực và một lần nữa được củng cố bởi luật pháp, các thể chế, sự ủng hộ của Quốc hội, sự đồng thuận chính trị lưỡng đảng cũng như quy trình hoạch định quốc phòng thường lệ. Do đó, việc khôi phục lòng tin đòi hỏi Washington phải khôi phục kỷ luật hiến định – yếu tố từng mang lại sức nặng thể chế cho các cam kết của Hoa Kỳ: Quốc hội phải khôi phục quyền giám sát thực chất đối với việc sử dụng vũ lực của Mỹ, và văn hóa chính trị Mỹ cần coi các liên minh là những cam kết quốc gia bền vững thay vì những ân huệ tùy ý do tổng thống đương nhiệm ban phát. Công chúng Mỹ – những người may mắn có các nước láng giềng hòa bình và được bao bọc bởi những đại dương rộng lớn – dường như đã quên rằng các liên minh không phải là hoạt động từ thiện. Chúng mang lại cho Hoa Kỳ khả năng phòng thủ từ xa, năng lực tiếp cận thông tin tình báo, đòn bẩy ngoại giao và những đối tác sẵn sàng chia sẻ gánh nặng mà nếu không, Washington sẽ phải tự mình gánh vác.


Mặc dù những tổn hại và sự bất bình từ nhiệm kỳ thứ hai của ông Trump là rất sâu sắc, nhưng một chính quyền tương lai cam kết khôi phục các liên minh vẫn sẽ tìm thấy những đối tác sẵn sàng hợp tác. Theo thời gian – có thể mất cả thập kỷ hoặc thậm chí một thế hệ – nếu các đồng minh của Washington tin tưởng rằng Hoa Kỳ đã từ bỏ tham vọng bá quyền mang tính trục lợi, họ sẽ hăng hái tái cam kết với một cấu trúc an ninh xuyên Đại Tây Dương, nơi gánh nặng được chia sẻ công bằng hơn. Nghịch lý của những năm tháng dưới thời ông Trump là việc coi đồng minh như đối thủ (và coi các đối thủ thực sự là những bên đáng ngưỡng mộ), liên tục đòi hỏi sự nhượng bộ và hành xử như một cường quốc đế quốc bất tuân luật lệ, vị tổng thống này có thể đã thúc đẩy một sự chuyển đổi cần thiết, mở đường cho các quan hệ đối tác bình đẳng và cùng có lợi hơn. Nếu đạt được sự hòa giải, liên minh xuyên Đại Tây Dương được hình thành sau đó rốt cuộc có thể sẽ mang lại giá trị lớn hơn cho tất cả các thành viên.

DAVID V. GIOE là Giáo sư thỉnh giảng tại Khoa Nghiên cứu Chiến tranh thuộc King’s College London, Giám đốc Học thuật của Sáng kiến ​​An ninh Cambridge, đồng thời là cựu chuyên gia phân tích và sĩ quan tác chiến của CIA.

https://www.foreignaffairs.com/united-states/transatlantic-crucible

***

The Transatlantic Crucible

Why the Crisis Between Washington and Europe May Be a Blessing in Disguise

United States Secretary of State Marco Rubio and NATO Secretary General Mark Rutte shaking hands in Helsingborg, Sweden, May 2026 Julia Demaree Nikhinson / Pool / Reuters

Eighteen months into his second U.S. presidential term, it may appear that Donald Trump has permanently altered his country’s relationships with its transatlantic allies. His rhetoric toward partners has been corrosive and his policies erratic; his administration’s overall approach has undermined the post–World War II settlement and the post–Cold War security architecture in ways that seemed unthinkable even during his first term. By denigrating NATO, threatening to annex its members’ territory, potentially violating international law, withdrawing defense aid for Ukraine, politicizing intelligence, and halting routine troop deployments to Poland, the second Trump administration has hemorrhaged American soft and hard power. Yet as bleak as the present state of the transatlantic alliance might look, it is also forcing a long-overdue transformation that could ultimately leave the alliance more capable and more balanced than it was before.

Writing in Foreign Affairs in February, the political scientist Stephen Walt rightly observed that Trump was wielding American power like a “predatory hegemon” to “assert dominance over friends and foes alike.” At the World Economic Forum in Davos, Canadian Prime Minister Mark Carney observed a “rupture” in the rules-based international order, and the 2026 Munich Security Conference report scathingly described Trump as a “demolition man”; the implication is that there will be no going back. Although these characterizations accurately describe the current moment (and their pessimism is understandable), they also suffer from presentism. For beneath the mayhem and discord lies a counterintuitive possibility: the very crisis Trump created is forcing U.S. allies to develop military and intelligence capabilities that could eventually make Washington’s partnerships stronger than ever. The truth is that for decades, the transatlantic relationship had a real free-rider problem. Most European officials will concede that Trump’s second-term behavior—along with the rising threat from Russian revanchism—has finally convinced them to try to stand on their own feet in military and intelligence matters. 

European investments in satellite reconnaissance, air defense, drone development, and munitions production could augment U.S. capabilities by affording Washington more (and more diversified) intelligence, deeper joint stockpiles, redundancy in its communications systems, and a strengthened eastern flank. In short, the United States would no longer have to be the default provider of every critical element in a response to a European crisis. Capability, however, is only one part of the alliance equation; a harder question is whether its political and moral foundations can be repaired. Secretary of State Marco Rubio told the Munich Security Conference this winter that fundamental shared values still bind the United States and its historic allies in Europe. But that trust is now in tatters. Mending it is urgent because the threats facing both Europe and the United States are formidable: revisionist states such as China and Russia, the proliferation of weapons of mass destruction, terrorism, and even the national security implications of climate change.

Washington will have to restore trust through a mix of action and restraint. Beyond changing their tone toward Europe, future U.S. administrations must recommit publicly and repeatedly to NATO’s Article 5 guarantee and consult allies before launching major military operations, regardless of the theater: the Iran war has demonstrated the global repercussions of seemingly localized conflicts. They must support Ukraine’s sovereignty and enhance their deterrence posture on NATO’s eastern flank. And Washington must stop treating allied territory as an expansion opportunity and allied elections and domestic politics as opportunities for political interference.

The last straw

Long before 2025, Europe’s free-rider problem was a source of frustration for Washington. Especially after the Cold War ended, many European countries underinvested in defense and intelligence, seizing on a peace dividend to expand social programs and relying on the United States for high-end warfighting capabilities, intelligence, and military mass. Successive U.S. administrations tried to cajole European countries into sharing more of the burden of ensuring the continent’s security. But they never really succeeded. Trump’s consistent threat to withdraw from NATO, as well as Russian President Vladimir Putin’s aggression, has finally lent legitimacy and urgency to European rearmament.

The most obvious way Trump has ruptured the transatlantic relationship is with his rhetoric: beyond his threats to leave NATO—or seize its members’ territory—he has persistently harangued Europeans for failing to adequately help the United States during its so-called global war on terror and now during the prosecution of its war against Iran. In fact, NATO fulfilled its Article 5 duty after the September 11 attacks; many European countries contributed, and lost, troops in Afghanistan. So these broadsides have made Europe more reluctant to stand shoulder to shoulder with the United States in war.

Beyond its rhetoric, the Trump administration has proved that the United States might be unreliable in a crisis. Most NATO allies see Washington’s turn away from democratic Ukraine in its existential war against Russia and Trump’s apparent sympathy for Putin’s perspectives as a catastrophic breach of America’s guiding ideals. The White House has spurned the consultative norms that underpinned the transatlantic alliance, particularly ahead of its sudden attack on Iran in late February, for which it neither sought a UN resolution nor consulted with allies beyond Israel.

The United States’ transatlantic allies not only doubt its commitment to them; they are also questioning Washington’s fundamental strategic judgment. Viewing the recent war the United States and Israel launched against Iran as a mistake, U.S. allies mostly declined to help. But the trouble goes deeper still: many American allies are beginning to think of the United States as a security risk, as the Danish Defense Intelligence Service stated publicly last December. An independent review commissioned by the British government and released in late March warned of “an emerging willingness of foreign actors and private citizens, including from allies like the United States, to interfere in, and influence, politics abroad in pursuit of their own agenda.” The Trump administration’s recent actions have only deepened the concerns behind these threat assessments. Its own 2025 National Security Strategy called for “cultivating resistance to Europe’s current trajectory within European nations,” and both the U.S. vice president and secretary of state openly intervened in Hungary’s recent elections by campaigning for the incumbent.

Call to arms

Europe now has no choice but to hedge against an unreliable United States—and, in doing so, European countries are making structural changes to their defense and intelligence strategies that will persist no matter who next occupies the Oval Office. They are racing to decrease their dependence on Washington by, first, building out their defense industrial bases. Russia’s war on Ukraine exposed just how reliant Europe still was on the U.S. arsenal and supply chains. To rectify the problem, in July 2025, Germany broke with decades of fiscal orthodoxy and announced that it would double its defense budget to $178 billion by 2029, aiming to fill capability gaps and expand industrial depth. Other U.S. allies are banding together to coinvest in advanced platforms and limit their exposure to U.S. export decisions. Alongside historic investments in their domestic industrial bases, European countries are diversifying their sources of military equipment procurement and “friend shoring” supply chains, reducing their dependence on U.S. arms manufacturers by turning to domestic, European, South Korean, and other suppliers, especially for drones, air defense, and munitions.

In the short term, Europe’s effort to reduce its dependence on American arms is complicated by the fact that it is buying far more U.S. weapons than it did a decade ago. Yet these emergency purchases, driven by the need to arm Ukraine and refill European stockpiles, may represent a longer-term hedging strategy: to “de-risk” from Washington without foreclosing future military interoperability should the United States once again become a reliable ally. Europe is simultaneously building its mobilization capacity and growing its munitions stockpiles, pursuing greater operational autonomy, and ensuring that its logistics infrastructures can function without U.S. support. And European states are putting a renewed emphasis on territorial defense and resilience by hardening their ports, rail hubs, bridges, airfields, fuel depots, and power grids, as well as strengthening cyberdefenses and adding redundancy to their communications networks.

Washington used to guide NATO’s defense planning. Now, European states are picking up the slack in leadership. After the United States withdrew from chairing the Ukraine Defense Contact Group (which coordinates military support for Ukraine) in April 2025, for instance, Germany and the United Kingdom took the reins, signaling that European allies were prepared to assume more responsibility for sustaining Ukraine’s defense. European defense cooperation frameworks are deepening, creating a more distributed security architecture. For example, the German-led European Sky Shield Initiative is pooling air- and missile-defense efforts among 24 European countries, and the EU’s new ReArm Europe plan—backed by $175 billion in Security Action for Europe loans—will finance joint procurement to strengthen the continent’s defense industrial base.

For decades, European defense spending was the subject of American complaints and European procrastination. Trump’s coercion (and Putin’s aggression) accomplished what decades of U.S. diplomatic pressure could not: it made European rearmament acceptable, even desirable, to European publics. Parliaments that once resisted defense budget increases are now eager to announce them.

Intelligence test

The shifts happening in the intelligence domain may be less visible, but they are equally important. The Trump administration’s fraught relationship with the United States’ own intelligence community has had cascading negative effects on that apparatus’s relationship with liaison partners. European capitals worry that intelligence they pass to Washington could be leaked or politicized or might enable breaches of international law. In an October 2025 joint interview, the heads of the Dutch domestic and military intelligence agencies noted that these concerns were leading them to reduce intelligence cooperation with Washington. In November 2025, CNN reported that the British government had begun to withhold information from the United States related to countering drug trafficking to avoid complicity in potentially illegal strikes on boats, while Canada placed stricter limits on the operational use of its own intelligence because of the same concern.

Washington’s long-standing allies cannot currently replace the intelligence the United States provides. But they are hedging by investing more in their own analytical and collection capabilities. This shift is most visible in the realm of space-based intelligence: European states are expanding their satellite constellations to ensure independent imagery and radar coverage. France continues to grow its military optical and radar reconnaissance systems. Beginning in 2022, Germany fielded cutting-edge satellites to provide Berlin with all-weather, 24-hour imaging. Italy now operates a constellation of small, advanced satellites that provide high-resolution, all-weather, day-night images of the Earth’s surface for military surveillance and maritime security as well as civilian purposes such as disaster response. Countries with more modest budgets are turning to commercial solutions and open-source geospatial data for alternative information streams. 

And European governments are belatedly giving their spies far more legal leash and strengthening signals intelligence and cyber-intelligence capabilities by building interception platforms and digital exploitation capabilities that do not rely entirely on U.S. agencies. Germany is the best example: after World War II, its foreign intelligence service was constrained by a self-imposed operational straitjacket and ended up overly reliant on the United States. In late 2025, Berlin proposed a significant expansion to the intelligence service’s authorities and resources to permit broader foreign communications collection and offensive cyber-operations. Other European countries are also affording their intelligence services greater capabilities and authorities, expanding their staff, purchasing open-source intelligence tools, and creating fusion cells that integrate military, intelligence, cyber, law enforcement, and private-sector reports into faster, more actionable threat assessments. 

These investments are not explicitly tied to concerns about U.S. intelligence. They were long overdue, and Putin’s predations also underscored the weaknesses and gaps in European security and intelligence. But reinforcing the capacity for sovereign judgment is a critical hedge against an unpredictable United States. When the United States retreated from its role as the largest provider of intelligence to Ukraine, for instance, France was able to make up substantially for the gap.

Paradoxical reaction

The tragedy is that Europe’s defense and intelligence spending is now shaped as much by the need to hedge against American unreliability as by a desire to make the transatlantic alliance more capable. Money that might have gone toward filling NATO’s most urgent gaps must now be used to buy sovereign capabilities that ensure that Europe can act if the United States does not. But if transatlantic trust can eventually be restored, Europe’s present investments could yield a far more powerful military and intelligence collaboration than the one Trump has all but severed.

More munitions production, stronger domestic industrial bases, and more independent operational capabilities could allow these U.S. allies to sustain high-intensity operations longer, assume greater responsibility for regional contingencies, and reduce the strain on U.S. capabilities. This would not only make Europe a more credible security actor and strengthen its deterrence posture but also allow the United States to allocate forces more flexibly across theaters, particularly in the Indo-Pacific. Self-reliant allies can also move faster in the early phases of a crisis, rather than waiting for Washington to initiate every response. A stronger Europe would ensure, for instance, that NATO would be able to repel a conventional Russian incursion without a great deal of involvement from the United States.

In the intelligence realm, more satellite constellations, better resourced intelligence apparatuses, and more risk-tolerant overseers would allow European allies to contribute information and assessments derived from their own sources, creating a more reciprocal intelligence exchange with the United States. Washington would gain additional perspectives, regional expertise, and coverage depth. It might lose the agenda-setting power that came with being the dominant supplier of intelligence, but it would gain more capable partners that could usefully confirm or challenge and sharpen its assessments. 

History offers instructive examples of the costs that are incurred when an alliance’s different intelligence services lack adequate independent capability. In the lead-up to the 2003 Iraq war, Berlin and Paris were deeply skeptical of Washington’s claims that Saddam Hussein possessed weapons of mass destruction. But they lacked comparable intelligence collection capabilities to mount an effective challenge to U.S. intelligence. Had they possessed their own technical intelligence platforms and human networks inside Iraq, their doubts, if supported by credible independent collection, might have carried enough evidentiary weight to force a harder look at the American case at the UN Security Council. Instead, their skepticism was dismissed as European diffidence, and the United States proceeded toward one of the costliest strategic blunders since the Vietnam War.

Transatlantic trust will not simply reappear after Trump leaves office.

More recently, Russia’s war on Ukraine illustrates the downsides of unequal intelligence sharing within an alliance. Ahead of Moscow’s 2022 full-scale invasion, U.S. and British officials urgently warned their European allies. Yet some key capitals doubted the warnings because they lacked the sovereign collection and analytic capacity to corroborate the most sensitive U.S. and British reports. Stronger intelligence services might not have predicted the invasion with the same precision, but they would have been better positioned to confirm and act on U.S. and British warnings; less time would have been wasted in an attempt to persuade partners that the threat was real, and more time could have been spent preparing Kyiv’s defense. The same logic applies to independent military capability: larger European stockpiles and stronger defense industries could have delivered more artillery, ammunition, air defense, and armored vehicles earlier in the war and sustained Ukraine more effectively when U.S. materiel support was withdrawn.

Europe may grow stronger in ways that help the United States. But the transatlantic relationship will still need to be deliberately repaired in order to reap any future dividends from the current crisis. Trust has been broken, and it will not simply reappear after Trump leaves office. Restoring it requires a long-term change in the tone and behavior of U.S. leaders over multiple electoral cycles to reassure allies that already feel the urgency of learning how to survive without the United States. Washington will have to consult its transatlantic partners before it acts, abide by both the language and the spirit of its treaty commitments, offer measured rhetoric when it disagrees, exhibit restraint and strategic thought in the use of force, ensure its intelligence assessments are untainted by political considerations, and sustain its support for Ukraine and NATO’s eastern flank while sharing the burden more equitably.

European allies cannot stake their future security merely on the hope that the next U.S. president will be more predictable. Nor will they abandon their plans for greater autonomy if a committed Atlanticist returns to office. Allies will look for long-term evidence that the United States’ commitments can survive transitions of power and once again become anchored in law, institutions, congressional support, bipartisan political consensus, and routine defense planning. Rebuilding trust will therefore also require Washington to recover the constitutional discipline that once gave U.S. commitments institutional weight: Congress must restore meaningful oversight of America’s use of force, and the U.S. political culture must treat alliances as durable national commitments rather than discretionary favors done by a sitting president. The American public—blessed with peaceful neighbors and surrounded by large oceans—seems to have forgotten that alliances are not charity. They give the United States forward defense, intelligence reach, diplomatic leverage, and partners that can help carry burdens Washington would otherwise bear alone.

Although the damage and resentment from the second Trump term runs deep, a future administration committed to restoring alliances would find willing partners. Over time—and it may take a decade, even a generation—if Washington’s allies can be convinced that the United States has turned away from predatory hegemony, they will be eager to recommit to a transatlantic security architecture in which the burdens are more evenly shared. The paradox of the Trump years is that by treating allies as adversaries (and actual adversaries as admirable), seeking constant concessions, and operating as a rogue imperialist, the president may have catalyzed a needed transformation that enables more equal and beneficial partnerships. If reconciliation can be achieved, the transatlantic alliance that emerges may ultimately prove more valuable to all its members.

DAVID V. GIOE is a Visiting Professor in the Department of War Studies at King’s College London, Academic Director of the Cambridge Security Initiative, and a former CIA analyst and operations officer.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga