4386 - Tiếng mẹ như… con nợ, phận chữ và phận nước (Phần 1)
Nguyễn Hoàng Văn
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về
Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ…
(Tiếng Việt, của Lưu Quang Vũ)
Hai thứ súng khác nhau ngụ ý hai ngả đường khác nhau và, trái với ước mơ của Lưu Quang Vũ, nửa thế kỷ hòa bình vẫn không khiến hai ngả ấy “quay về”. Thậm chí tiếng mẹ, cái tiếng nói mà nhà thơ mắc nợ suốt đời, còn bị giày vò thân nợ từ ràng buộc của một quá khứ bất hạnh mà, trong diễn ngôn chính thống, thường được giả lả biện minh như là “một thời ấu trĩ”.
Như ràng buộc của giới tuyến sau/ trước 1975, món nợ của cái quá khứ giết nhau thời chiến rồi hành hạ nhau thời bình. Đành rằng thời cuộc luôn tác động đến tiếng nói nhưng vấn đề ngôn ngữ, cao nhất, phải xem xét bằng tiêu chí của chữ nghĩa chứ sao lại là cái thước đo của cảm tính chính trị?
Như “quá độ” mà, gần như nửa nước, vẫn nhìn bằng mối ác cảm là “từ cộng sản”, đã làm phiền cái lỗ tai của mình từ tháng 4 năm 1975. Nhưng “quá độ”, theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh xuất bản năm 1931, là “Bến đò để qua sông – Chỗ tiếp hai cái trước sau kề nhau – Chỗ mới cũ giao tiếp” và vấn đề là, do bị lạm dụng quá mức, bị nhồi mãi vào tai, từ mấy bài học chính trị Mác – Lê sơ cấp, đến lời biện bạch qua loa cho những thảm bại kinh tế-xã hội “Chúng ta vẫn còn ở trong thời kỳ quá độ”, cái ấn tượng lệch lạc kia mới nảy sinh.
Nếu lằn ranh đó là giả thì vẫn còn có bao nhiêu là giới tuyến rất thực khi phận chữ nghiệt ngã hằn lên phận người như có thể thấy qua cuộc đời cầu thủ Đỗ Thế Vinh. Tên tuổi lẫy lừng một thời trên các sân cỏ Đông Nam Á này là trụ cột của đội bóng Quan Thuế dưới thời Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nhưng, sau tháng 4 năm 1975, đã quay ngoắt thành “cầu thủ Hải Quan” trước khi giạt về Sông Bé làm huấn luyện viên để rồi bị “đá” ra ngoài và, cuối cùng, âm thầm chấm hết đời mình một cách bi thảm, không ai hay biết.
Cũng bị “đá” ra khỏi lĩnh vực sở trường của mình rồi trở thành nhân vật số một của Hải Quan là trùm an ninh Nguyễn Tài, tên thật Nguyễn Tài Đông, từng bị mệnh danh là “Bin Laden Việt Nam” [2]. Là con trai nhà văn Nguyễn Công Hoan, gọi Lê Văn Lương – tức Nguyễn Công Miều, ủy viên Bộ Chính trị – là chú ruột, lại trui rèn qua hai cuộc chiến với nhiều công trạng và có quan hệ thân tình với Mai Chí Thọ, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh; Thứ trưởng Bộ Nội vụ (Công an) Nguyễn Tài rất có thể sẽ trở thành bộ trưởng và, biết đâu, còn được “cơ cấu” vào những vị trí cao hơn. Tuy nhiên, chưa đầy hai năm sau ngày thắng cuộc, Nguyễn Tài bị loại ra khỏi lĩnh vực tâm đắc của mình, bị điều tra và quản thúc, chật vật “đấu tranh” liên tục 11 năm trời mới được giải oan.
Nguyễn Tài, cựu Thứ Trưởng Bộ Công An. Nguồn: Hồi ký Nguyễn Tài
Sẽ không lạc đề nếu đi sâu vào đời riêng mà rất chung của Nguyễn Tài bởi những “khúc khuỷu đường đời” nói trên, theo “tổng kết” của chính ông ta, là, một, tình trạng “thiếu dân chủ trong đảng” và, hai, sự kém năng lực của nhiều cán bộ đầy trọng trách. Mà sự kém năng lực này, khúc chiết hóa từ tự sự của Nguyễn Tài, lại là; thứ nhất, về ngôn ngữ, là “quá dốt nát”; thứ hai, về tư tưởng, là kiên định lập trường một cách mù quáng; thứ ba, về lề lối làm việc, là “hồ đồ đại khái, vô trách nhiệm”, thậm chí “lấy cả sự ngu dốt để làm những việc quan trọng, đòi hỏi trí tuệ” và, thứ tư, cố chấp, không bao giờ nhận sai với quy tắc bất thành văn là, quyền lực càng cao thì, dẫu sai, càng phải ém nhẹm [4].
Từ trùm an ninh trở thành trùm hải quan thì có thể chỉ là “phận người” nhưng khi tên tuổi lừng lẫy một thời các sân cỏ Đông Nam Á, từ thân phận cầu thủ “Quan Thuế” quay ngoắt thành chân bóng “Hải Quan” thì vấn đề lại là “phận chữ” và đâu là cội rễ của vấn đề?
“Hải quan” không có mặt trong Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, xuất bản năm 1931. Loại “hải quan” ra khỏi cuộc chơi, Hội này chỉ ghi nhận “quan thuế” như là “Thuế đánh các hàng hóa ở nước ngoài đem vào” trong đó “quan” ngụ ý là “cửa ải”. Ra mắt cùng năm Hán – Việt Từ Điển của Đào Duy Anh cũng chú giải “quan thuế” như là “Thuế đánh các hàng hóa tiến khẩu và và xuất khẩu (droit de douanes)” và, đồng thời, còn giải thích “hải quan” là “Cơ quan đánh thuế các hàng hóa xuất cảng và nhập cảng (douanes maritimes)”. Khác biệt, cũng theo Đào Duy Anh, thuộc về cách biệt “khẩu”/ “cảng”. Trong khi “khẩu” là “cửa chính để ra vào” thì “cảng” là “cửa biển” nên, có thể thấy rất rõ, “hải quan” chỉ là một phần của “quan thuế”, đặt tại các cửa biển.
Như vậy, khi “quan thuế” trở thành “hải quan” giữa Tân Sơn Nhất, đó lại là cảnh tang hải… tức thì. Mất bao nhiêu năm thì bãi biển mới thành nương dâu còn, ở đây, chỉ với mấy chữ ký thôi, vào năm 1975, “cửa biển” đã xâm thực tận giữa lòng Sài Gòn và, bây giờ, còn lấn đến Trường Sơn, Hoàng Liên Sơn. Khi “hải quan” – là “trạm quan thuế tại cửa biển” – có thể mọc trên những sườn núi giữa biên giới Việt-Lào và Việt-Trung thì, liệu, chúng ta có thể áp dụng giọng điệu của Nguyễn Tài là “quá dốt nát”, là “hồ đồ vô trách nhiệm”, là “lấy cả sự ngu dốt để làm những việc quan trọng, đòi hỏi trí tuệ”, là “cứng nhắc với lập trường”, là “cố chấp, không bao giờ nhận sai”?
Tôi đã tra cứu nhưng chẳng tìm ra một manh mối rõ ràng. “Lịch sử hình thành và phát triển ngành Hải quan Việt Nam” của Đại học Ngân Hàng, cùng rất nhiều tài liệu tương tự, cho biết, đầu tiên ngành này mang tên “thuế quan” theo sắc lệnh thành lập “Sở Thuế Quan và Thuế Gián Thu” vào ngày 10/9/1945 với chữ ký của nguyên Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp [5]. Nhưng làm sao mà “thuế quan” biến thành “hải quan” thì rất mơ hồ, chỉ biết mười năm sau, năm 1955, chính quyền thành lập “Sở Hải quan” và, đến ngày 27/2/1960, “trước yêu cầu nhiệm vụ mới của ngành Hải quan”, nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ban hành “Điều lệ Hải quan” rồi, sau đó, là những thay đổi về hành chánh, từ sở thành cục, từ cục thành tổng cục mà, tổng cục trưởng đầu tiên, chính là Nguyễn Tài.
“Hỏi em em cứ ỡm ờ không thưa” (Tú Xương), “ngành” đã kín miệng đến thế thì chúng ta chỉ có thể suy luận dựa theo mô thức kinh tế thời đó. Khi hoạt động ngoại thương chỉ đơn thuần là những chuyến tàu biển có thể đếm trên đầu ngón tay thì, tất cả, chỉ có các trạm “hải quan” và chúng, do đó, đã dần dà chiếm lĩnh đầu óc của bộ máy quan chức, chính quyền. Có thay tên, “thuế quan” cũng mất dần căn cước như một tiến trình “diễn tiến hòa bình” nhưng, đến năm 1975, khi đội bóng của Đỗ Thới Vinh đột ngột đổi đời, đó lại là sự áp đặt của kẻ thắng trận hãnh tiến để bây giờ hai bên vẫn đì đùng bắn nhau bằng tiếng Việt. Bên cứng rắn là “quan thuế” chứ làm gì có cái thứ “cửa biển” vô lý ngay giữa Tân Sơn Nhất hay trên sườn núi Trường Sơn, Hoàng Liên Sơn. Bên thì khư khư với “hải quan” đã chiếm lĩnh đầu óc, có lệnh chính quyền, có chữ ký thủ tướng hẳn hoi.
Tiếng Việt, ở đây, đã bị giày xéo như thể con nợ hay bị cầm tù với những trói buộc của một quá khứ chật hẹp lúc nền ngoại thương chỉ trông cậy vào mấy chuyến tàu biển lèo tèo. Nhưng khi nền kinh tế đã mở rộng, đã đa dạng hóa, việc xuất nhập có thể tiến hành bằng đường bộ, đường hàng không chứ không chỉ là đường biển thì tại sao lại tiếp tục cái góc nhìn chật hẹp của cái “thời xa vắng” ấy? Đây, phải chăng, là sự cố chấp của loài ếch, dẫu đã bò lên miệng giếng rồi mà vẫn khư khư cái nhìn của thời còn ngồi dưới đáy sâu nhìn lên thấy trời chỉ to bằng cái vung?
Đáng nói là, cũng vì sự cố chấp kiểu này mà Nguyễn Tài, ông trùm Hải Quan tương lai, mới thất bát cuộc đời. Đầu tiên, năm 1970, nó khiến ông bị kẻ thù của mình bắt giữ, mở đầu cho năm năm ngục thất với những cực hình thể chất. Sau đó, nó lại khiến ông bị chính những đồng chí của mình tra tấn tinh thần, hơn một thập niên.
Nguyễn Tài, có thể nói là một thứ công an hay mật vụ bẩm sinh. Vào đảng tháng 3 năm 1945, lúc 19 tuổi thì đến cuối năm, sau khi mãn một khóa huấn luyện, Nguyễn Tài được điều về Nha Công an Bắc bộ rồi, chỉ sau hai năm, khi bộ máy kháng chiến rút hết lên Việt Bắc, [Nguyễn Tài] đã ở lại làm trùm an ninh trong bóng tối của Hà Nội, đảm nhiệm các vụ ám sát, phá hoại nhắm vào người Pháp. Năm 1958, mới 32 tuổi, Nguyễn Tài đã là Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị thuộc Bộ Công An, chỉ huy các hoạt động trấn áp và phản gián. Năm 1964 Nguyễn Tài xung phong vào Nam và tháng 5 năm 1965 đã có mặt tại Củ Chi trong vai trò Trưởng ban an ninh Đặc khu uỷ Sài Gòn – Gia Ðịnh. Năm 1969, do tình hình căng thẳng sau Tết Mậu Thân, Nguyễn Tài cùng Đặc khu ủy dời về Bến Tre và, ngày 23/12/1970, khi trên đường đến dự cuộc họp của cấp ủy, đã bị bắt do “lập trường” của mấy cán bộ miền Nam lúc đó, tin rằng cái gì của miền Bắc xã hội chủ nghĩa cũng đều ưu việt.
Theo sắp đặt thì sáng sớm Nguyễn Tài sẽ trà trộn theo dân chúng đi chợ, đến điểm hẹn ở chợ Hồng Ngự sẽ có người ra đón. Khi cán bộ cơ sở cho biết dân chúng bắt đầu đi chợ vào 4:30 sáng, Nguyễn Tài chọn 5 giờ để dễ trà trộn nhưng, trên thực tế, người dân phải đợi đến 5:30 khi đã hết giờ giới nghiêm và lầm lẫn là do thời đó Hà Nội chọn múi giờ Bắc Kinh, trễ hơn Sài Gòn một tiếng đồng hồ. Mà thời ấy, với nhiều cán bộ miền Nam, miền Bắc là “niềm tin”, là “lẽ sống” nên, để “đúng lập trường”, họ nhất nhất chọn mốc giờ giấc theo “Đài Hà Nội”, báo hại ông trùm an ninh đã cố cho trễ mà thành ra quá sớm nên trở thành một mục tiêu lộ liễu.
Phát hiện Nguyễn Tài lò dò một mình trong giờ giới nghiêm, một toán lính VNCH chặn xét và phát hiện người đàn ông có “sinh quán Mỏ Cày” này lại nói tiếng Bắc toàn phần và, thế là, ông trùm sa lưới. Nhà tổ chức và chỉ huy những vụ đánh bom làm rúng động Hà Nội rồi Sài Gòn đã sa cơ một cách ngớ ngẩn và vô duyên, chỉ vì sự “kiên định lập trường” cũng rất ngớ ngẩn, vô duyên.
Là một thứ mật vụ bẩm sinh nên Nguyễn Tài đã, theo tự sự của ông ta, tỏ ra khôn khéo. Ngay từ đầu Nguyễn Tài “ngoan ngoãn” khai mình là Đại uý Nguyễn Văn Hợp, được Cục Nghiên cứu QÐND đưa vào Nam tạo vỏ bọc để chờ khi chiến tranh kết thúc, sang Pháp hoạt động lâu dài nhưng chỉ vừa mới cập bến thì đã bị bắt, hiện vẫn chưa rành cơ sở địa phương.
Tuy nhiên, CIA và Phủ đặc uỷ tình báo VNCH không phải tay mơ và điều tra được “Nguyễn Văn Hợp” này là ai và, thậm chí, còn tung ra đòn cân não với hình chụp Nguyễn Tài tháp tùng Hồ Chí Minh trong chuyến công du Indonesia năm 1958, giấu mặt sau gọng kính đen. Cuối cùng thì Nguyễn Tài phải thừa nhận nhưng chỉ có thế và, dẫu bị áp dụng đủ kiểu tra tấn, vẫn không khai báo một tin tức đáng giá nào. Kể từ đầu năm 1972, Nguyễn Tài bị nhốt trong một xà lim bịt kín, sơn toàn màu trắng, đèn điện mở sáng 24 trên 24 nên hoàn toàn lạc hướng, mất hết ý niệm về thời gian cho đến khi được giải thoát vào trưa ngày 30/4/1975.
Trong hồi ký Decent Interval, cựu phân tích gia CIA Frank Snepp đã dùng trọn chương “Man in the Sow White Cell” để viết về Nguyễn Tài, cho biết là trong những ngày cuối cùng của VNCH, CIA đã gợi ý việc thủ tiêu này bằng cách dùng trực thăng ném xuống biển bởi khó mà mong rằng “tên khủng bố nhà nghề này sẽ trở thành một người chiến thắng rộng lượng” [6]. Tuy nhiên, do tình hình gấp gáp, Nguyễn Tài đã bị bỏ quên nên thoát nạn và, oái ăm thay, trong khi kẻ thù không nghi ngờ gì về sự trung kiên của Nguyễn Tài với đảng, đảng lại nghi ngờ. Họ nghi ngờ rằng những gì Snepp viết ra chỉ là để cò mồi, tạo vỏ bọc cho gián điệp nhị trùng Nguyễn Tài. Và họ còn kiên định đến mức cho rằng sự khôn khéo ban đầu của Nguyễn Tài, thực chất, là một sự thiếu vững vàng, đánh mất lập trường.
Sự thể khơi mào từ một công văn trao đổi giữa các cơ quan tình báo – an ninh VNCH và Mỹ sau Hiệp định Paris 1973 với tiêu đề “Future handling of senior NVN and VC cadre”, thảo luận việc có nên trao trả bốn tù binh quan trọng, trong đó có Nguyễn Tài, hay không. Công văn chỉ ngụ ý “Cách giải quyết đối với cán bộ cao cấp của Bắc Việt và Việt Cộng trong tương lai”, thế nhưng một “chuyên viên Anh văn” của Cục chống gián điệp (E4) thuộc Bộ Nội vụ, vì hiểu sai, lại dịch là “cách sử dụng”. Mà những đối thủ chính trị của Nguyễn Tài chỉ cần có thế. Họ chăm chăm khai thác cái tiêu đề dịch sai này để suy diễn chứ không hề chú ý đến nội dung. Họ, dù là những chuyên gia an ninh, đã cố tình bỏ qua những dấu hiệu lộ liễu của sự luộm thuộm trong cách sắp xếp tài liệu khiến vấn đề còn nghiêm trọng: Những công văn tịch thu trong các công sở của VNCH đã, một cách vô duyên, bị biến thành “tài liệu” mà “tình báo nước ngoài” tuồn vào, qua đường bưu điện.
Đau đớn và tức tối không kém cho Nguyễn Tài là sự “kiên định lập trường” của Phan Văn Đáng, bí danh Hai Văn¸ lúc này là Phó ban Tổ chức Trung ương, kiêm Trưởng tiểu ban Bảo vệ đảng. Kẻ nắm trong tay sinh mạng của bao nhiêu người này, theo Nguyễn Tài, bị “thần kinh nặng”, “thiếu kiến thức về chuyên môn” và, cả khi những manh mối của sự lầm lẫn đã sáng tỏ, vẫn cố chấp, không chấp nhận sai, còn được cả bộ máy quyền lực bảo vệ cái sai bởi, một người nắm những trọng trách như ông ta sao có thể bị phán xét là không đúng.
Có vẽ như, những yếu tố như thế cũng đã góp phần vào việc bát nháo hóa tiếng mẹ, trong đó có việc hình thành nên giới tuyến sau/ trước 1975. Biển vẫn chưa xâm thực đến Tân Sơn Nhất và những trạm “hải quan” mọc lên ở Trường Sơn hay Hoàng Liên Sơn là điều cực kỳ trái khoáy và vô duyên nhưng chẳng ai chịu thừa nhận là sai, là vô duyên và, thậm chí, còn được bình thường hóa, được điển chế hóa nên, do đó, càng khiến người Việt chia rẽ nhau hơn trong tiếng mẹ.
(Còn tiếp)
https://baotiengdan.com/2026/06/27/tieng-me-nhu-con-no-phan-chu-va-phan-nuoc-phan-1/
Nhận xét
Đăng nhận xét