4394 - Tiếng mẹ như… con nợ, phận chữ và phận nước (Phần 2)

Nguyễn Hoàng Văn


Tiếp theo phần 1

Chia rẽ là không… thống nhất và, trong sự hệ lụy này, có cả “thống nhất” với biến nghĩa là… đồng ý, cũng khiến gần như nửa nước dị ứng sau năm 1975, như một giới tuyến trong tiếng mẹ. Biến nghĩa này, có lẽ, là hệ quả từ sinh hoạt chính trị mà, để thông qua điều gì đó, phải có sự đồng ý của tập thế. Khi tập thể đã “thống nhất” về một điều gì đó thì có nghĩa là vấn đề đã được chấp thuận nên, dần dà, “thống nhất” bị đồng hóa với… “đồng ý”. Tiếng Việt, trong trường hợp này, cũng là con nợ hay thân tù của “chủ nghĩa tập thể”, cái đường lối đè bẹp nỗ lực khác biệt của từng cá nhân và, do đó, đè bẹp những giá trị tinh hoa.

Không phải ngẫu nhiên mà những từ ngữ gây chia rẽ đang đề cập như “hải quan”, “quan thuế” hay “thống nhất” đều là tiếng Hán-Việt. Suốt một thời gian dài, để “gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt”, chính quyền tại miền Bắc đã chủ ý loại bỏ tiếng Hán-Việt trong ngôn ngữ truyền thông với “máy bay lên thẳng”, “lính thủy đánh bộ”, “Nhà Trắng”, “Lầu Năm Góc”, “sân bay”, “tên lửa”, “chất đốt” v.v. trong khi người miền Nam vẫn bình thường với “trực thăng”, “thủy quân lục chiến”, “Tòa Bạch ốc”, “Ngũ giác đài”, “phi trường”, “hỏa tiễn”, “nhiên liệu” v.v. Nhưng, như một nghịch lý, nếu ngôn ngữ giao tiếp của người miền Nam vẫn nhẹ nhàng với tiếng “thuần Việt” thì khẩu ngữ tại đất Bắc đã bị Hán-Việt hay “tinh hoa hóa” một cách bất thường với những “tham quan”, “sự cố”, “nhất trí”, “đăng ký”, “đột xuất”, “quán triệt”, “thống nhất” v.v.. Tại sao, khi chính quyền cố sử dụng những tiếng “thuần Việt” ngô nghê thì người dân lại trịnh trọng hàn lâm mà không bình thường với “thăm viếng”, “trở ngại/ trục trặc”, “đồng lòng”, “ghi tên”, “bất ngờ”, “hiểu rõ”, “đồng ý” v.v. như ở bên kia vĩ tuyến 17?

Sự lộn sòng này, có lẽ, là do không khí ngột ngạt của xã hội Stalinist, nơi người dân vừa đều đều bị nhồi vào đầu những ngôn ngữ vừa tuyên truyền lại vừa để an toàn, phải máy móc làm cái máy phát âm thứ ngôn ngữ tuyên truyền đó.

Tuyên truyền là nỗ lực lèo lái nhận thức của người khác mà, để làm như thế thì, bên cạnh nhiều thủ thuật khác nhau, còn có cách che đậy, hư ảo hóa hay trừu tượng hóa những điều không dám nói thẳng ra bằng trò uyển ngữ. Xem “chó” là cái gì dơ bẩn qua những lời mắng chửi như “Đồ chó” nên, vì ghiền thịt chó, cần gọi khác đi như “thịt cầy”, “mộc tồn” hay “cờ tây”.

Nhưng phổ biến nhất là mơ hồ hay trừu tượng hóa những điều không muốn phơi bày, bằng tiếng Hán-Việt. Thay vì gọi đích danh “tên thật” của cơ quan sinh dục nữ hay nam thì trừu tượng hóa chúng như là cái “cửa của cõi âm” với “âm hộ”, hay “vật thể của tính dương”, là “dương vật”. Khi không dám thừa nhận rằng tình hình đất nước không khá hơn chút nào với những số liệu cụ thể, thì mơ hồ hóa như là “tương đối tốt”, “tương đối tiến bộ” hay, như gần đây, là “chuyển biến tích cực” v.v.

Sống giữa một xã hội đoàn ngũ hóa chặt chẽ với những cuộc họp liên miên ngột ngạt mùi đấu tố với những quy kết như “phát biểu vô ý thức”, “tư tưởng lệch lạc”, “chậm tiến”, “sai quan điểm” v.v. thì ai cũng gồng mình lên, chứng tỏ lập trường nên, hầu như, những phát biểu liên quan đến thời cuộc đều được sao chép y chang khẩu hiệu, nghị quyết hay bản tin thời sự. “Ăn như tù, ở như tu, nói như lãnh tụ”, mở miệng ra thì như báo, như đài, như nghị quyết nên, trong khi nền hành chánh và báo chí “thuần Việt” một cách ngô nghê, khẩu ngữ của công chúng lại kinh viện một cách vô duyên, trái khoáy.

Xa hơn, đó còn là hệ quả từ việc phủ nhận hay xem nhẹ những giá trị trung tâm và tinh hoa mà thủ phạm đầu tiên, mang tính nền tảng, là Trường Chinh với “Đề cương về văn hoá Việt-nam”. Trong dự phóng văn hóa vạch ra từ năm 1943 này, Trường Chinh này đã nhấn mạnh rằng “Đảng không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa” bởi, có vậy, “mới ảnh hưởng được dư luận” và “việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả”. Để được như thế, Trường Chinh nêu ra ba “nguyên tắc vận động” là: Thứ nhất, dân tộc hóa; thứ hai, đại chúng hóa, “chống mọi chủ trương hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng”; và thứ ba là khoa học hóa.

Có thể nói, nguyên tắc thứ hai là một sự can thiệp thô bạo đến sự phát triển lành mạnh của tiếng Việt. Ngôn ngữ hình thành và phát triển như là một chọn lựa cộng đồng dưới sự dẫn dắt của những giá trị tinh hoa, thể hiện ở cách vận dụng ngôn ngữ trong những tác phẩm đỉnh cao của những cây bút bậc thầy, từ Nguyễn Du đến Tú Xương, Tản Đà, Nguyễn Tuân, Thạch Lam v.v.. Nhưng khi “dẫn dắt” ấy nằm trong tay thiểu số quyền lực chỉ chăm chăm nhắm đến hiệu quả tuyên truyền thì mực thước ngôn ngữ phải nép mình dưới tiêu chí chính trị. Chính trị là một trò chơi quyền lực. Mà quyền lực độc tài là quyền cưỡng đoạt chân lý thì, tất nhiên, ngôn ngữ độc tài sẽ là một thứ ngôn ngữ bị cưỡng bức.

Như Trường Chinh đã cưỡng bức từ “phản động” vào năm 1956 để mở ra một ý nghĩa mới. Trước đó khi viết cuốn “Lý Thường Kiệt, Lịch Sử Ngoại Giao & Tông Giáo Đời Lý”, xuất bản năm 1949, Hoàng Xuân Hãn đã dành riêng một chương mang tên “Phản động của Vương An Thạch” và, ở đây, “phản động” chỉ ngụ ý là “phản ứng”, cũng như một “phản động lực” phát sinh khi một vật thể bị ngoại lực tác động theo định luật thứ ba của Issac Newton. Mà Hồ Chí Minh, trước đó, cũng chưa từng gọi ai là “phản động”, bất quá là “ác”, như bài báo “Địa chủ ác ghê” dưới bút danh C.B trên báo Nhân Dân số 125 ngày 21-27-1953. Nhưng qua tay Trường Chinh, bằng cụm từ “thế lực phản động đội lốt tôn giáo” trong bài viết “Sửa sai và tiến lên” đăng trên tạp chí Học Tập số 11 năm 1956, “phản động” đã bị lột xác. Khi Trường Chinh cho rằng ông ta, và bộ máy cầm quyền của ông ta, là chân lý, là tuyệt đối đúng, phải được phục tùng tuyệt đối thì, bất cứ “phản ứng” nào cũng ngụ ý một dấu hiệu phản nghịch, phải bị đè bẹp.

Tiếng Việt tôi ơi, tiếng Việt xót xa tình

Lưu Quang Vũ đã kết thúc bài thơ như thế nhưng, với cảnh “thân tàn ma dại” của tiếng mẹ hiện tại thì đâu chỉ có cái sự “xót xa tình”? Vần đề đã trở thành đau đớn, nhức nhối nếu vừa nhìn vào thực trạng của tiếng mẹ, vừa nghĩ đến lời cảnh cáo của Phạm Quỳnh, “Tiếng ta còn, nước ta còn”. Sự hiếp đáp của dự phóng văn hóa 1943 và những chiến dịch văn hóa – chính trị tiếp nối nhau không chỉ khiến tiếng nói của dân tộc lệch lạc mà còn khiến cả mối quan hệ người – người cũng lệch lạc theo. Và đó là điều mà Nguyễn Tài nhận ra nhưng không hiểu được, vào tháng 4 năm 1975 và nhiều năm sau đó:

“Tôi cũng bất giác nhớ đến ngày mới giải phóng Sài Gòn. Bộ đội ta vào trại tù 3 Bạch Đằng, giải thoát tôi trưa 30/4/1975. Đêm đó tạm đưa tôi sang nơi trú quân ở Bộ Tư lệnh Hải quân của Ngụy, cũng ở đường Bạch Đằng. Hôm sau, 1/5/1975, đơn vị này tiếp tục phải hành quân, nên gửi tôi cho đơn vị ở Dinh Độc lập, đợi Ủy ban Quân quản.

Tại đây, thấy anh em bộ đội ta mới vào Sài Gòn, kém cảnh giác quá (trong khi bọn sĩ quan Ngụy ở đây vẫn dễ dàng đến chỗ gom súng, thì anh em mãi đi gom lon bia cũ – hình như để làm đèn dầu). Tôi có góp ý với người chỉ huy. Thì anh ta nói rằng: Anh mới ra tù, mà gây rối. Và cho đuổi tôi khỏi Dinh Độc lập. Ra đường, không một xu, quần áo mặc của người khác, râu ria tua tủa. Chưa biết tính sao, thì gặp hai cháu nữ sinh, trạc 15-16 tuổi, đồng phục trắng, ở một phố gần Dinh Độc Lập. Hai cháu hỏi thăm tôi; tôi mới ra tù, tìm đến Ủy ban Quân quản, nhưng chưa gặp được; nên tìm về nhà cơ sở ở Bình Thới. Hai cháu liền bảo tôi đi theo. Đến một bến chờ xe buýt gần nhất, hai cháu cùng tôi lên; lấy vé cho tôi vào chợ Bến Thành. Hết chặng, hai cháu từ biệt; nhưng mua vé khác cho tôi về Bình Thới, và gửi một bà không quen cùng chuyến xe, dặn là khi đến Bình Thới thì nhắc tôi xuống.

Cho đến nay, tôi không biết tên hai cháu đó. Năm nay, chắc họ đã có gia đình.

Cách đối xử giữa đồng chí với nhau, mà không bằng người không hề quen biết”.

Nguồn ảnh: Báo Dân Việt

Cách đối xử khác nhau là do mối quan hệ người – người khác nhau, xem nhau như là con người hay… khác với con người. Nhìn vào một Nguyễn Tài tiều tụy như là “con người”, mà là một người đang cần sự giúp đỡ, hai nữ sinh đã hành xử với tấm lòng tử tế của mình. Nhưng những “đồng chí” của Nguyễn Tài thì chỉ đơn thuần xem ông ta là … “đồng chí”, nghĩa là một “đối tượng chính trị” với những quan hệ bè phái, những nguy cơ cạnh tranh, những thế mạnh phải dè chừng và những thế yếu phải xoáy sâu.

Xem nhau là đối tượng phải dè chừng thì ngôn ngữ sử dụng sẽ trở nên dè dặt và đầy cạm bẫy hay, trong thế mạnh, thì phủ đầu, ăn tươi nuốt sống. Nhưng xem nhau là người thì sẽ dành cho nhau ngôn ngữ của con người, là điều đã khiến một nhân chứng khác, Đạo diễn Đặng Nhật Minh, lấy làm ngạc nhiên khi lần đầu đặt chân đến Sài Gòn, cũng những ngày tháng ấy:

“Tuy sống trong vùng kiểm soát của chế độ thực dân kiểu mới, nhưng nhiều gia đình tôi tiếp xúc vẫn giữ được những nề nếp truyền thống của một gia đình Việt Nam. Tôi ngạc nhiên nhìn thấy các em nhỏ khoanh tay lễ phép chào hỏi những người lớn tuổi, một điều mà ở miền Bắc từ lâu đã không còn thấy” [9].

Như thế, tử tế và lễ phép là những ấn tượng đầu tiên mà kẻ chiến thắng nhận ra ở thế hệ tương lai của bên thua cuộc. Sự tử tế là một phần của nhân cách. Tính lễ phép còn phụ thuộc khuôn thước ngôn ngữ hay, diễn đạt rộng hơn, là trách nhiệm của con người với ngôn ngữ mà mình chọn lựa.

Nền giáo dục miền Nam thời đó, hẳn nhiên, không hề hoàn hảo nhưng, ít ra, vẫn đủ khai phóng và nhân bản để, cùng với nề nếp truyền thống của từng gia đình, dạy dỗ được những học trò như thế. Còn cái tình trạng kia – sự vô phép của trẻ em với người lớn và sự vô lễ của người lớn với tiếng mẹ – là gì, nếu không phải là hệ lụy từ cái chủ trương phi nhân bản, chỉ đơn thuần xem con người như là một “đối tượng chính trị” để “tác động” và “gây ảnh hưởng”?

Giới tuyến trong tiếng Việt, do đó, không đơn giản là chuyện ngôn ngữ. Đó là một vấn đề văn hóa mà chủ nợ lớn nhất, hay cai ngục cao nhất, là những nhà chính trị có quyền lực thật cao nhưng tầm vóc văn hóa thì thật thấp, cực kỳ thực dụng về chính trị và hoàn toàn vô trách nhiệm, vô lễ với tiếng mẹ.

Nhưng như thế thì vấn đề không chỉ là phận chữ, phận người, mà còn là phận nước, bởi đất nước, chính đất nước chúng ta, cũng đang long đong thân nợ hay kiếp tù, từ những ràng buộc của cái chủ trương văn hóa – chính trị tù túng, hẹp hòi, vô trách nhiệm và vô lễ đó…

_________

Chú thích:

1. Ngày 2/9/1975 Ðỗ Thới Vinh có mặt trong trận Hải Quan gặp Ngân Hàng (từ đội Việt Nam Thương Tín). Năm 1976 tỉnh Sông Bé thành lập hai đội bóng, mời Đỗ Thế Vinh về làm HLV. Năm 1978 Sông Bé tham gia giải bóng đá hạng A toàn quốc và đội thứ hai đoạt chức vô địch khu vực phía Nam. Sau giải, Sông Bé sáp nhập hai đội lại thành một đội tuyển và giao cho ông Nguyễn Kim Phụng làm HLV trưởng, sau ông Phụng là Phó Giám đốc sở TDTT tỉnh Bình Dương, Đỗ Thới Vinh bị cho ra rìa và sau đó qua đời lúc nào không ai hay biết.

2. Cách ví von này được cựu nhân viên CIA Merle Pribbenow đưa ra trong bài viết  “Limits to Interrogation: The Man in the Snow-White Cell” (Giới hạn của sự thẩm vấn – Gã đàn ông trong xà lim Bạch Tuyết) trên tập san Lê Văn Lương (1912-1995) vốn thuộc vây cánh Trường Chinh, từng là Trưởng Ban Tổ chức Trung ương nhưng do sai lầm trong Cải cách Ruộng đất nên bị giáng chức, về sau làm Bí thư Thành ủy Hà Nội.

3. Câu chuyện này đã được Nguyễn Tài thuật lại trong hồi ký “Khúc khuỷu đường đời – Mười một năm liên tục đấu tranh để sự thật và lẽ phải được thừa nhận”. Hồi ký này chỉ viết rồi chuyền tay, chưa hề được xuất bản nhưng đã được phổ biến toàn bộ trên mạng talawas. Những lời trích được trích từ hồi ký này: https://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5887&rb=08

Có thể đọc hồi ký này trên các trang: https://anyflip.com/mhnd/sula/basic

4. “Vụ bản Anh văn nói là lấy được trong va ly đoàn nước ngoài, do hồ đồ thiếu trách nhiệm ngay từ đầu đồng thời bị dịch sai một cách quá dốt nát; đã là căn cứ để Tổ chức đặt vấn đề bí mật nghi tôi là CIA từ 7/1976, và đình chỉ công tác tôi từ 10/1977”.

– “Làm việc hồ đồ đại khái, vô trách nhiệm; và có người lấy cả sự ngu dốt để làm những việc quan trọng, đòi hỏi trí tuệ”.

– “Một trong các nguyên nhân là, như Lenin đã từng nói: ‘Nếu dốt nát cộng với quyền lực thì như thuốc súng cộng với lửa, sẽ rất tai hại, sẽ cực kỳ nguy hiểm’.”

5. https://www.studocu.vn/vn/document/truong-dai-hoc-ngan-hang-thanh-pho-ho-chi-minh/thu-tuc-hai-quan/4010-i-lich-su-hinh-thanh-va-phat-trie0n-nganh-hai-quan-viet-nam/151704684

6. “Since Tai was a trained terrorist, he could hardly be expected to be a magnanimous victor”. Frank Snepp (1977) Decent Interval, Random House, New York. trang 37-38

7. Tài liệu này được Trọng Bình, cán bộ Cục chống gián điệp, thuộc Bộ Nội vụ, tìm thấy trong hồ sơ lưu trữ tại Tổng nha Cảnh sát ở Sài Gòn sau năm 1975. Tài liệu bằng tiếng Anh có kèm bản tiếng Việt. Trọng Bình giao tài liệu trên cho Trần Mão, cán bộ thuộc Phòng chống gián điệp Mỹ thuộc Cục chống gián điệp (E 4) mang về Bộ Nội vụ. Sau khi mang về Mão đã đưa thẳng Tài xem mà không báo cáo cấp trên.

Ngày 15/7/1976, sau khi xem xong tài liệu, Tài đã sai nhân viên mang đi photocopy làm ba bản trước khi giao cho Mão lưu hồ sơ. Ba bản này Tài giữ một bản, gửi cấp trên trực tiếp của mình thời hoạt động ở Trung ương Cục miền Nam là Mười Hương – lúc đó là Thường vụ Thành ủy Sài Gòn – một bản, và giao cho Cục chống gián điệp lưu một bản cùng tài liệu gốc.

Một cán bộ tập sự tên Trần Quốc Việt được sai đi photocopy đã mang qua Cục kỹ thuật của Bộ Nội Vụ (G3) chụp. Tại đây, chuyên viên chụp ảnh tên Lê Hồng Trang sử dụng phim thừa trong cuộn phim mới chụp các “tài liệu nước ngoài” chụp luôn tài liệu này. Cuộn phim được giao cho E4 và khi rửa hình thì E4 phát hiện tài liệu “Future handling of senior NVN and VC cadre” có tên Nguyễn Tài, do đó kết luận rằng, có “tài liệu nước ngoài” liên quan đến Tài. Kết hợp điều này với những thông tin như: Sau ngày 30.4.1975, Tài đã gọi những cựu nhân viên an ninh của VNCH lên thẩm vấn và tập hợp hồ sơ thẩm vấn về mình, phải chăng là Tài doạ nạt họ đồng thời thủ tiêu bằng chứng.

Tuy nhiên thực chất của “tài liệu thu được trong va ly nước ngoài” chỉ là phong thư gởi bằng đường hàng không bị kiểm duyệt, do đó bản photo những tài liệu trong phong thư này đều có vết gấp, trong khi “tài liệu Anh ngữ” liên quan đến việc “sử dụng Nguyễn Tài” thì không có vết gấp nào cả. Hơn thế nữa, đặc điểm của giấy, ảnh, kiểu in đều khác. Thế nhưng cũng phải mất 11 năm, đảng phải thay tới hai ông tổng bí thư, thì đảng mới giải quyết ra trắng ra đen.

8. Trong hồi ký, Nguyễn Tài đã năm lần đề cập đến việc Phan Văn Đáng bị thần kinh. “Sau này anh Thành cho biết, anh Nguyễn Duy Trinh đã gọi anh Thành báo cáo. Sau khi nghe, anh Trinh khen việc thẩm tra như vậy là tốt, nhưng ta ‘không nên kết luận khác với ý kiến anh Thọ và anh Hai Văn’.” Lúc đó Nguyễn Duy Trinh là Thường trực Ban Bí thư, sau trở thành Bộ trưởng Ngoại giao.

9. Đặng Nhật Minh, (2005) Hồi ký điện ảnh, Nhà xuất bản Văn Nghệ. tr. 69

(Hết)

https://baotiengdan.com/2026/06/27/tieng-me-nhu-con-no-phan-chu-va-phan-nuoc-phan-2/

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

4277 - Ông Nguyễn Tất Trung qua đời

5433 - The Vietnam War và khi Đồng Minh tháo chạy

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?