4491 - Liệu khu vực tư nhân có thể cứu vãn Việt Nam?

Edmund J. Malesky and Viktoria Zlomova

Vì sao Đảng Cộng sản muốn nền kinh tế phát triển mạnh?

Một buôn bán đang vận chuyển hàng hóa tại Hà Nội, Việt Nam, tháng 5 năm 2025.Chalinee Thirasupa / Reuters

Cứ 5 năm một lần, giữa những lá cờ đỏ, những nghi lễ được dàn dựng công phu và những bài phát biểu hùng hồn của đại hội đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam lại công bố hai văn kiện chính sách trang trọng: báo cáo chính trị và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Mặc dù thấm đẫm ngôn từ của đảng, những văn bản này không chỉ đơn thuần là những tuyên bố về hệ tư tưởng. Chúng định hình chương trình nghị sự của chính phủ cho chu kỳ chính trị 5 năm tiếp theo. Trong một hệ thống mà chính trị chính thức còn nhiều điều chưa rõ ràng, những văn kiện này cung cấp cái nhìn rõ ràng nhất về những gì giới lãnh đạo muốn thực hiện.

Các văn kiện mới nhất, được công bố tại đại hội đảng hồi tháng Giêng, cho thấy Việt Nam đang hướng tới một hướng đi mới. Đảng đang chuyển đổi mô hình chính trị đã điều hành đất nước trong bốn thập kỷ qua. Văn kiện năm 2026 tăng cường vai trò trực tiếp của đảng trong việc quản lý công việc nhà nước, đồng thời thúc đẩy khu vực tư nhân và giảm bớt vai trò của các doanh nghiệp nhà nước. Lãnh đạo Việt Nam đang đặt cược rằng đất nước cần một kế hoạch tăng trưởng mới – một kế hoạch kết hợp giữa kiểm soát chính trị tập trung với phát triển do khu vực tư nhân dẫn đầu – với hy vọng đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP hàng năm đầy tham vọng là 10%.

Sự định hướng lại này diễn ra vào thời điểm đầy khó khăn đối với Việt Nam và Đảng Cộng sản cầm quyền. Kể từ khi bắt đầu cải cách thị trường vào cuối những năm 1980, Việt Nam đã dựa vào sự kết hợp giữa các doanh nghiệp tư nhân nhỏ, sản xuất hàng hóa giá rẻ chủ yếu cho thị trường nội địa; các tập đoàn đa quốc gia sản xuất phần lớn hàng xuất khẩu của Việt Nam; và các doanh nghiệp nhà nước lớn, tuy kém hiệu quả về kinh tế nhưng Đảng lại dựa vào đó để phân phối lại nguồn lực cho các vùng nghèo hơn của đất nước. Mô hình hỗn hợp này đã làm tăng thu nhập, giảm nghèo và hội nhập ngành công nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng khi Việt Nam thoát khỏi đại dịch COVID-19 vào năm 2021, những hạn chế của mô hình này ngày càng trở nên rõ ràng. Các doanh nghiệp nhà nước đã không thể cạnh tranh trên toàn cầu, và các doanh nghiệp tư nhân thiếu vốn để mở rộng quy mô, đầu tư vào công nghệ hoặc cạnh tranh ở nước ngoài. Điều này khiến Việt Nam phụ thuộc vào các tập đoàn đa quốc gia. Một sự đồng thuận mới nổi lên trong giới lãnh đạo đất nước rằng mô hình kinh tế hiện tại sẽ không còn duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh và phân phối lợi ích một cách hiệu quả.

Các nhà hoạch định chính sách đã thử nghiệm nhiều biện pháp riêng lẻ để giải quyết những điểm yếu này. Họ đã cố gắng tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước để tăng tính cạnh tranh, cải thiện môi trường kinh doanh bằng cách đơn giản hóa các quy định, và phát triển thị trường vốn bằng cách phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và sàn giao dịch chứng khoán. Nhưng những cải cách này liên tục bị đình trệ. Các thế lực quan liêu và lợi ích cấp tỉnh mạnh đã làm chậm quá trình thực hiện vì họ được hưởng lợi và tin tưởng vào vai trò hiện có của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam.

Khi Tô Lâm lên nắm quyền Tổng Bí thư Đảng Cộng sản vào năm 2024, nhiều nhà quan sát lo ngại rằng điều đó sẽ đánh dấu sự kết thúc của những nỗ lực cải cách kinh tế của Việt Nam. Họ dự đoán rằng ông Lâm, người từng lãnh đạo Bộ Công an, sẽ ưu tiên các mục tiêu an ninh quốc gia hơn các mục tiêu kinh tế. Nỗi lo sợ của họ dường như đã được chứng minh khi ông Lâm bắt đầu củng cố quyền lực và tầm ảnh hưởng. Ông cũng được hưởng lợi từ những thay đổi thể chế đang diễn ra, giúp tăng cường sự kiểm soát của Đảng đối với chính phủ và từ chiến dịch chống tham nhũng làm suy yếu các đối thủ chính trị và mạng lưới bảo trợ của họ. Chỉ trong vòng 18 tháng, ông Lâm đã trở thành nhà lãnh đạo quyền lực nhất của Việt Nam trong bốn thập kỷ.

Nhưng như đại hội đảng năm nay đã cho thấy rõ, ông Lâm đang sử dụng quyền lực mới giành được theo những cách không ngờ tới. Lãnh đạo Việt Nam đang định vị mình để thúc đẩy một cuộc chuyển đổi kinh tế theo hướng phát triển doanh nghiệp tư nhân và giảm thiểu vai trò của các doanh nghiệp nhà nước – một sự thay đổi mạnh mẽ so với cách tiếp cận tăng trưởng trước đây của đất nước. Đây là một canh bạc táo bạo và đầy rủi ro, có thể giải phóng tiềm năng tiềm tàng của đất nước hoặc đẩy đất nước vào nguy cơ suy thoái nội bộ như nhiều chế độ chính trị tập trung cao độ khác trên thế giới. Trong bối cảnh môi trường thương mại toàn cầu ngày càng bất ổn, Việt Nam đang đặt cược rằng một hình thức chủ nghĩa tư bản do đảng lãnh đạo mới sẽ dẫn dắt đất nước tiến lên.

NGƯỜI MÔI GIỚI QUYỀN LỰC

Trong phần lớn thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, Việt Nam duy trì hệ thống lãnh đạo tập thể được thiết kế để ngăn chặn bất kỳ chính trị gia nào thống trị nhà nước. Việt Nam phân chia quyền lực chính trị giữa bốn trụ cột: tổng bí thư Đảng Cộng sản, chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch Quốc hội. Quyền lực cũng được phân bổ giữa các lợi ích khu vực thông qua các khối bỏ phiếu trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cơ quan ra quyết định quan trọng nhất, trong đó các tỉnh nắm giữ gần một nửa số ghế. Hệ thống này thường vận hành chậm, nhưng nó tỏ ra rất ổn định.

Hệ thống lãnh đạo tập thể đã bị suy yếu nghiêm trọng. Ông Lâm bước vào đại hội đảng tháng Giêng với vị thế thống trị, kết quả của quá trình củng cố quyền lực kể từ khi ông nhậm chức và các xu hướng lớn hơn trong chính trường Việt Nam thập kỷ qua. Năm 2016, đảng đã phát động chiến dịch chống tham nhũng quy mô lớn, chính thức được gọi là "Lò Lửa Rực". Chiến dịch này đã kỷ luật hơn 168.000 đảng viên và cách chức hơn 100 quan chức cấp cao, bao gồm hai chủ tịch nước đương nhiệm và nhiều phó thủ tướng, lãnh đạo tỉnh, bộ trưởng và ủy viên Bộ Chính trị. Ông Lâm, người từng tham gia nhiều cuộc điều tra này khi còn là bộ trưởng Bộ Công an, đã được hưởng lợi từ chiến dịch này kể từ khi ông trở thành tổng bí thư. Bằng cách gạt bỏ các đối thủ chính trị, phá vỡ các mạng lưới bảo trợ đã ăn sâu và siết chặt sự kiểm soát của đảng đối với các đảng viên, chiến dịch chống tham nhũng đã chuyển dịch quyền lực về phía cấp cao nhất của đảng.

Quyền lực của bà Lam cũng gia tăng khi các thể chế do đảng kiểm soát ngày càng tham gia trực tiếp hơn vào việc hoạch định và thực thi chính sách. Từ tháng 12 năm 2024, một ủy ban chỉ đạo trung ương do Bộ Chính trị lãnh đạo, thay vì các bộ ngành nhà nước, đã điều phối chính sách quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới. Các nghị quyết của Bộ Chính trị ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong việc hoạch định chính sách kinh tế. Và các chỉ thị mới của đảng, như Quy định 196 được thông qua vào tháng 6, đã tăng cường quyền lực của các ủy ban đảng trong các doanh nghiệp nhà nước, củng cố sự kiểm soát của đảng đối với quản trị doanh nghiệp.

Hệ thống lãnh đạo tập thể đã bị suy yếu nghiêm trọng.

Các văn kiện chính sách từ đại hội đảng năm 2026 cho thấy đảng đang đảm nhận vai trò ngày càng lớn hơn. Sử dụng phân tích văn bản có sự hỗ trợ của máy học, chúng tôi đã đánh giá tần suất và tầm quan trọng của các từ khóa và khái niệm chính trong các báo cáo chính trị và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi đại hội đảng trong 25 năm qua. Vì các văn kiện này thiết lập chương trình nghị sự của chính phủ, tần suất chúng đề cập đến đảng cho thấy đảng dự định trực tiếp định hướng chính sách như thế nào. Số lần đề cập đến đảng trong các báo cáo chính trị chính thức đã tăng từ dưới 80 lần trên 10.000 từ vào năm 2021 lên gần 100 lần trên 10.000 từ vào năm 2026. Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tần suất tăng từ khoảng bốn lần đề cập trên 10.000 từ lên hơn mười lần trong cùng kỳ.

Dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy ông Lâm đã củng cố quyền lực đến mức nào xuất hiện vào tháng Tư, khi Quốc hội phá vỡ tiền lệ và bổ nhiệm ông làm chủ tịch nước với nhiệm kỳ 5 năm, bên cạnh chức vụ tổng bí thư đảng. Trước đây, Việt Nam chỉ áp dụng hình thức này tạm thời sau những cuộc khủng hoảng, chẳng hạn như khi chủ tịch đương nhiệm đột ngột qua đời. Mặc dù chức vụ chủ tịch nước theo hiến pháp phải trực thuộc sự lãnh đạo của đảng, nhưng nó lại gánh vác những trách nhiệm quan trọng trong ngoại giao và an ninh quốc gia. Việc bổ nhiệm ông Lâm đã chính thức củng cố quyền kiểm soát của ông đối với cả đảng và nhà nước, tạo ra một mức độ quyền lực cá nhân chưa từng có kể từ khi đảng tiến hành các cuộc cải cách kinh tế và chính trị lớn, được gọi là Đổi Mới, vào những năm 1980.

CỨU LẤY DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

Tuy nhiên, việc củng cố quyền lực này không phải là mục đích tự thân. Đảng hiện đang ở vị thế có thể đảm nhận vai trò lớn hơn trong việc điều phối chính sách, quản lý bộ máy hành chính và định hướng nền kinh tế so với trước đây. Đặc biệt, chính quyền của ông Lâm đang sử dụng quyền lực của mình để theo đuổi chiến lược kinh tế tập trung vào nâng cấp công nghiệp và mở rộng doanh nghiệp tư nhân trong nước. Việc áp dụng chiến lược như vậy vô cùng khó khăn dưới hệ thống chính trị cũ, nơi quyền lực phân tán rộng rãi và những thay đổi chính sách lớn đòi hỏi sự thương lượng giữa các nhóm đối thủ có ảnh hưởng đáng kể. Nhưng với ông Lâm nắm quyền vững chắc hơn, ông có thể thúc đẩy những thay đổi kinh tế quan trọng hơn.

Các văn kiện chính sách từ Đại hội Đảng tháng 1 vừa qua đã cho thấy rõ sự thay đổi này: các nội dung đề cập đến khu vực tư nhân tăng lên đáng kể, trong khi ngôn ngữ về khu vực nhà nước giảm đi. Các văn kiện từ các kỳ Đại hội Đảng trước đây luôn mô tả các doanh nghiệp nhà nước là động lực hàng đầu thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam; tuy nhiên, kể từ tháng 5 năm 2025, khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 68, một văn kiện quan trọng thúc đẩy phát triển doanh nghiệp tư nhân, Đảng đã chấp nhận quan điểm rằng các doanh nghiệp tư nhân trong nước, chứ không phải khu vực nhà nước, mới là “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế. Số lượng đoạn văn trong các văn kiện Đại hội Đảng năm nay liên quan đến hoạt động kinh tế của khu vực tư nhân nhiều hơn gấp đôi so với các văn kiện năm 2021 .

Kể từ cuộc cải cách Đổi Mới, sự thành công của Việt Nam với tư cách là một nước xuất khẩu phụ thuộc vào các tập đoàn đa quốc gia nước ngoài hơn là các doanh nghiệp trong nước. Các công ty nước ngoài sản xuất gần 70% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, điều này đã thúc đẩy GDP của đất nước nhưng chưa tạo được nền tảng ổn định cho tăng trưởng dài hạn. Các công ty nước ngoài thường phụ thuộc nhiều hơn vào nguyên liệu trung gian nhập khẩu trong sản xuất so với các doanh nghiệp trong nước, và họ ít có khả năng chuyển giao công nghệ và kiến ​​thức có thể nâng cao năng suất của các doanh nghiệp địa phương. Các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng có nhiều khả năng rút lui nếu chi phí trong nước tăng cao, điều này làm giảm đầu tư vốn và cản trở sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước có tính đổi mới, những doanh nghiệp có thể vươn lên chuỗi giá trị và cạnh tranh về công nghệ. Thêm vào đó, khu vực tư nhân của Việt Nam vẫn còn phân mảnh: nó chứa đầy các doanh nghiệp nhỏ thiếu khả năng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển cũng như đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng cần thiết để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Lãnh đạo Việt Nam coi khu vực tư nhân là động lực tăng trưởng chính của đất nước.

Cách tiếp cận mới của đảng là bồi dưỡng một nhóm các doanh nghiệp nhà nước hàng đầu xuất phát từ khu vực tư nhân, thay vì thúc đẩy các tập đoàn nhà nước kém hiệu quả. Hà Nội đã mở cửa nhiều lĩnh vực từng do độc quyền nhà nước thống trị cho cạnh tranh tư nhân. Các dự án cơ sở hạ tầng lớn truyền thống dành riêng cho các doanh nghiệp nhà nước, bao gồm đường sắt, sân bay và các cơ sở sản xuất năng lượng, nay đã được mở thầu cho các nhà thầu tư nhân. Và mặc dù các doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực như tài chính và viễn thông, đất nước đang theo đuổi cái mà các nhà kinh tế Việt Nam gọi là cổ phần hóa, hay tái cấu trúc một số doanh nghiệp nhà nước bằng cách chuyển đổi chúng thành các công ty cổ phần có cổ đông tư nhân. Điều này buộc các doanh nghiệp phải hoạt động với kỷ luật thị trường cao hơn và cho phép chính phủ giám sát và kiềm chế hiệu quả hơn việc lãng phí và sử dụng sai mục đích các nguồn lực nhà nước.

Kể từ tháng 5 năm 2025, khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 68 về sự cần thiết phát triển khu vực tư nhân, các nhà hoạch định chính sách đã thông qua các biện pháp cụ thể để cải thiện điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân. Những biện pháp này bao gồm miễn thuế doanh nghiệp cho nghiên cứu và phát triển, ưu đãi và giảm giá khi tiếp cận đất công nghiệp, mở rộng hỗ trợ tín dụng, hạn chế thanh tra và kiểm toán, đơn giản hóa thủ tục cấp phép và tăng cường bảo vệ pháp lý chống lại việc thực thi quy định tùy tiện. Các cải cách này nhắm mục tiêu rõ ràng vào các doanh nghiệp tư nhân lớn nhằm mục đích giúp họ cạnh tranh quốc tế. Không giống như các doanh nghiệp nhà nước, vốn được miễn nhiễm khỏi áp lực thị trường, những doanh nghiệp hàng đầu quốc gia này vẫn phải chịu sự cạnh tranh, hạn chế ngân sách và các ưu đãi sở hữu tư nhân. Nhà nước có thể hỗ trợ trong khi vẫn dựa vào cơ chế thị trường để phân bổ vốn và khen thưởng sự đổi mới.

Việt Nam cũng đang định hướng lại chính sách công nghiệp sang các lĩnh vực có giá trị cao hơn, bao gồm bán dẫn, cơ sở hạ tầng số, năng lượng tái tạo và sản xuất tiên tiến. Chính phủ đã cam kết dành ít nhất 3% ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới và hiện đại hóa hành chính, trong đó có mục tiêu đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn vào năm 2030. Chính phủ đã đưa ra các ưu đãi thuế để đầu tư vào thiết kế, đóng gói và kiểm thử chip, đồng thời đang khôi phục kế hoạch mở rộng điện hạt nhân, vốn đã bị tạm dừng sau những lo ngại về an toàn sau sự cố tan chảy tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima ở Nhật Bản năm 2011. Trước đây, chính sách công nghiệp của Việt Nam chủ yếu dựa vào ưu đãi thuế và lao động giá rẻ để thúc đẩy tăng trưởng. Giờ đây, việc tập trung vào các lĩnh vực như năng lượng hạt nhân nhằm mục đích giảm bớt những nút thắt cổ chai lớn về cơ sở hạ tầng đã cản trở quá trình nâng cấp công nghiệp.

Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đang cải tổ bộ máy hành chính để hỗ trợ khu vực tư nhân. Để giảm bớt thủ tục rườm rà và nâng cao hiệu quả hoạt động của chính phủ, các nhà lãnh đạo đã sáp nhập các bộ (giảm từ 18 xuống còn 14), hợp nhất các tỉnh (từ 63 xuống còn 34) và số hóa các thủ tục hành chính. Từ cuối năm 2024 đến giữa năm 2025, Việt Nam đã cho thôi việc hoặc cho nghỉ hưu sớm hơn 100.000 công chức. Hy vọng là việc giảm chi phí kinh doanh và đẩy nhanh tiến độ thực hiện chính sách sẽ khuyến khích đầu tư tư nhân và cho phép các cải cách phát huy hiệu quả trước khi các nhóm lợi ích cố hữu, những người có thể bị thiệt hại trong các cuộc cải cách này, có thể phối hợp chống đối chính trị. Vào tháng 4, Quốc hội tiếp tục khuyến khích các cuộc cải cách này bằng cách bầu ông Lê Minh Hùng, một chuyên gia kỹ trị và cựu lãnh đạo ngân hàng trung ương, làm thủ tướng – một lựa chọn củng cố sự nhấn mạnh của lãnh đạo vào quản lý kinh tế vĩ mô, ổn định tài chính và năng lực nhà nước.

MỞ RA NHỮNG KHÁI NIỆM MỚI

Nhiều nhà quan sát đã so sánh bà Lâm Trịnh Nguyệt Nga với nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình, cả hai đều đã củng cố quyền lực chính trị, tăng cường sự kiểm soát của đảng đối với nhà nước và thúc đẩy các chiến dịch chống tham nhũng quy mô lớn, làm thay đổi nền chính trị của giới tinh hoa và gạt bỏ một số phe đối lập chính trị. Các nhà quan sát thường coi Việt Nam như một bản sao của Trung Quốc, cho rằng Hà Nội đang đi theo con đường của Bắc Kinh.

Tuy nhiên, khi nói đến chiến lược kinh tế, Việt Nam đang đi theo con đường riêng của mình. Dưới thời Tập Cận Bình, Trung Quốc đã hướng tới khu vực nhà nước. Bắc Kinh đã thúc đẩy việc hợp nhất các tập đoàn nhà nước thành những doanh nghiệp hàng đầu quốc gia, mở rộng ảnh hưởng của đảng trong các doanh nghiệp tư nhân và rót một lượng lớn tín dụng và hỗ trợ công nghiệp vào các lĩnh vực do nhà nước chi phối như bán dẫn và viễn thông. Các nhà phân tích ở Trung Quốc tóm tắt xu hướng này bằng cụm từ “nhà nước tiến lên, khu vực tư nhân lùi lại” – một sự đảo ngược của các cải cách theo định hướng thị trường mà nhiều người tin rằng Tập Cận Bình sẽ theo đuổi khi ông lên nắm quyền vào năm 2012.

Ngược lại, giới lãnh đạo Việt Nam ngày càng coi khu vực tư nhân là động lực tăng trưởng chính của đất nước. Việt Nam đang hướng tới khu vực tư nhân vì đó là điều bắt buộc. Các nhà lãnh đạo hiểu rằng Việt Nam thiếu nhiều lợi thế cấu trúc của Trung Quốc – một thị trường nội địa khổng lồ, các ngân hàng chính sách lớn và nguồn vốn dồi dào, cùng một hệ sinh thái sản xuất rộng lớn – những yếu tố đã cho phép Bắc Kinh xây dựng những tập đoàn nhà nước khổng lồ có khả năng cạnh tranh toàn cầu và thống trị toàn bộ các ngành công nghiệp. Nền kinh tế Việt Nam nhỏ hơn nhiều, phụ thuộc nhiều hơn vào thương mại và chuỗi cung ứng nước ngoài. Việc cố gắng xây dựng một mô hình phát triển tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp nhà nước sẽ tạo áp lực tài chính khổng lồ lên chính phủ, đồng thời làm chậm quá trình đổi mới và tăng trưởng năng suất.

Mô hình đặc thù mà Việt Nam đang phát triển sử dụng quyền lực chính trị tập trung để hỗ trợ sự mở rộng khu vực tư nhân, cải tiến công nghệ và hội nhập thị trường toàn cầu. Thay vì giống với Trung Quốc thời Tập Cận Bình, mô hình mới nổi của Việt Nam gần giống hơn với các quốc gia đang phát triển ở Đông Á như Hàn Quốc và Singapore, kết hợp quyền lực chính trị tập trung với chiến lược rõ ràng nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh toàn cầu. Tuy nhiên, không giống như các quốc gia đang phát triển ở Đông Á truyền thống do các cơ quan hành chính tách biệt về chính trị lãnh đạo, Việt Nam đặt chính Đảng Cộng sản vào trung tâm chiến lược của mình. Tại Việt Nam, các thể chế của Đảng, chứ không phải các cơ quan kỹ trị, chịu trách nhiệm điều chỉnh các bộ, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp nhà nước phù hợp với mục tiêu phát triển quốc gia.

CÔ ĐƠN TRÊN ĐỈNH CAO

Môi trường mà Việt Nam đang theo đuổi mô hình tăng trưởng mới không thuận lợi như các nhà lãnh đạo mong muốn. Chính sự cởi mở đã thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong bốn thập kỷ qua giờ đây lại tạo ra những điểm yếu ngày càng lớn. Nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đầu tư nước ngoài và chuỗi cung ứng toàn cầu, khiến nước này đặc biệt dễ bị tổn thương trước những cú sốc địa chính trị và sự gián đoạn trong thương mại thế giới.

Mô hình tăng trưởng mới cũng tiềm ẩn những nguy hiểm riêng. Hệ thống lãnh đạo tập thể trước đây của Việt Nam, phân tán quyền lực khắp các vùng miền, bộ ngành và các cơ quan đảng, đã làm chậm quá trình ra quyết định, đồng thời buộc các phe phái đối lập trong đảng phải thương lượng và thỏa hiệp với nhau. Lãnh đạo tỉnh, các chuyên gia kỹ thuật và các khối khác nhau trong đảng đều có đủ ảnh hưởng để làm chậm các chính sách mà họ phản đối. Vì không phe phái nào có thể hành động nếu không có sự đồng thuận rộng rãi, các nhà lãnh đạo phải phân phối lợi ích kinh tế rộng rãi để duy trì ổn định chính trị trong suốt nhiều thập kỷ tăng trưởng.

Quyền lực tập trung sẽ cho phép chính phủ thực hiện cải cách nhanh hơn và theo đuổi chính sách công nghiệp quyết liệt hơn vì có ít ràng buộc hơn đối với quyền lực của họ. Nhưng điều này lại làm giảm số lượng các cơ chế kiểm soát giúp các quan chức sửa chữa sai lầm trong chính sách và quản lý các bất bình khu vực. Khi quyền lực ngày càng tập trung, hệ thống có thể trở nên kém hiệu quả hơn trong việc ứng phó với các cú sốc kinh tế hoặc kết quả phát triển không đồng đều. Các chế độ phát triển tập trung cao độ khác, chẳng hạn như ở Philippines vào nửa cuối thế kỷ XX dưới thời Tổng thống Ferdinand Marcos và Indonesia dưới thời Tổng thống Suharto, đã tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh chóng trong những năm ngay sau khi củng cố chính trị, nhưng chúng đã gặp khó khăn khi các nhà lãnh đạo có quyền lực không bị kiểm soát mắc phải những sai lầm tốn kém và khó khắc phục.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã biện minh cho hàng thập kỷ cầm quyền độc đảng bằng việc nâng cao mức sống và duy trì tăng trưởng bền vững. Giờ đây, giới lãnh đạo đang nỗ lực thực hiện một trong những quá trình chuyển đổi chính trị - kinh tế đầy tham vọng - và rủi ro nhất trong lịch sử châu Á gần đây. Họ đặt mục tiêu duy trì tăng trưởng GDP hàng năm ở mức khoảng 10% đến năm 2030. Nếu chủ nghĩa tư bản do đảng lãnh đạo mới của Việt Nam thành công, đất nước cuối cùng có thể trở thành một cường quốc kinh tế ở Đông Nam Á. Nhưng nếu thất bại, Việt Nam có thể đối mặt với tình trạng trì trệ kinh tế và hệ thống chính trị có thể lung lay. Với quyền lực hiện tập trung ở tầng lớp thượng lưu, tương lai của Việt Nam phụ thuộc vào việc liệu sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn có mang lại cải cách bền vững hay làm suy yếu các cơ chế tự điều chỉnh đã ổn định đất nước trong suốt nhiều thập kỷ tăng trưởng.

EDMUND J. MALESKY là Giáo sư Kinh tế Chính trị tại Đại học Duke và Giám đốc Khoa học của Trung tâm Chuyển đổi Xanh Thông minh VinUniversity.

VIKTORIA ZLOMANOVA là nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành Khoa học Chính trị tại Đại học Duke.

Nguồn: Can the Private Sector Save Vietnam?

https://www.foreignaffairs.com/southeast-asia/can-private-sector-save-vietnam

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

4277 - Ông Nguyễn Tất Trung qua đời

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga