4742 - Thơ từ kinh Bà Bèo

Tác giả Lê Thị Kim Dung



Bà Bèo, ngày tháng năm…
Em cảm ơn anh còn nhớ tới con nhỏ mà suốt năm Đệ Tam anh ngồi sau lưng. Nhưng lẽ ra anh đừng nhớ vì năm sau em theo ba má lên Đà Lạt, gia đình đã gả em cho anh Đạt người bạn cùng khóa Thủ Đức với anh. Chuyện này anh đã biết em không nhắc lại đoạn sau. Lúc em có bầu đứa con gái đầu tiên, trong một lúc vui miệng Đạt kể lại lúc anh đi đề-lô cho Một Mười, Đạt là đại đội trưởng. Chiều hôm ấy tiểu đoàn rời mục tiêu cuối cùng ở phía bắc hướng ra quốc lộ 4, trên con đường đất trơn trợt ven kinh Bà Bèo. Ra gần tới quốc lộ mọi người đói meo, anh và anh Đạt ghé lại một quán lá mới lên ánh đèn dầu leo lét. Không có cà phê, hủ tíu, không có bún thịt nướng, đứa con gái con ông chủ quán mang ra hai tô bún với giá sống và một tô nước mắm tỏi ớt. Đạt kể, vậy mà anh và chồng em “xơi” ngon lành và còn thấy đói. Em dùng chữ xơi ở đây để anh nhớ chồng em là Bắc Kỳ di cư năm 54, cựu học sinh Chu Văn An. Em cũng không ngờ sau năm 1975 em mang ba đứa con về đây xin dạy học, có lẽ em bị ánh ảnh bởi cái chết của Đạt lúc căn cứ Đồng Tâm chuẩn bị thành lập, cũng trên bờ kinh Bà Bèo này và câu chuyện hai tô bún chan nước mắm của hai anh.
Lâu nay em cứ tưởng em sẽ chết già bên dòng nước lớn nước ròng của con kinh này. Nó mang phù sa từ sông Tiền vào đây bồi đắp cho những cánh đồng còn đậm chất phèn nhưng không hề bồi đắp cho lòng cô giáo trẻ 3 con còn nặng mùi thời thế. Em sống như thế đó giữa ông chủ tịch xã, anh hiệu trưởng mới từ bộ đội ra, mấy anh công an, cuốn sổ mua hàng và danh dự của một nhà giáo. Nhưng đọc thơ anh em mới biết anh chàng si tình em năm xưa cũng sẽ chết già như em ở xứ Hoa Kỳ xa xôi. Em tự an ủi rằng dù sao một bà giáo già và một nữ sinh trung học thì có khác gì nhau, cũng như số phận của chồng em và anh trong cuộc chiến, đã cùng yêu một người mà người ấy bây giờ đang già quắt, già queo, đang bèo nhèo từng ngày với những kỷ niệm còn mới tinh khôi. Em nói để anh mừng ba đứa con em nay đã trưởng thành, bốn mẹ con em vẫn đùm bọc nhau như lúc mới dắt díu nhau về đây. Đứa con gái đầu theo nghề làm cô giáo, đã lập gia đình và về nhà chồng bên Vĩnh Kim. Thằng con trai giữa của em nó giống bố nó như đúc ra từ một khuôn, từ ánh mắt đến nụ cười. Đó là cái vẻ bí hiểm của bố nó khiến em mềm lòng chấp nhận làm vợ Đạt khi chàng bỏ ngang chuyện sách vở tình nguyện vào Thủ Đức.
Em không có tài văn chương như anh nên viết chuyện nọ xọ qua chuyện kia mà chính em rất lấy làm buồn cười. Sau này chồng em có nói anh giỏi Việt Văn nhứt lớp năm Đệ Nhị và được thầy Bùi Xuân Uyên rất cưng. Bài luận văn nào của anh trước khi thầy trả lại cũng đem đọc trước lớp trước khi đọc cho các lớp buổi chiều nghe. Điều này em đã biết và giữ độc quyền bằng cách mượn bài mà không bao giờ trả lại anh để thách đố. Anh Đạt cũng nói anh ôm ấp giấc mộng trở thành một nhà văn nổi tiếng, nhưng chịu đứng dưới hai ông Lê Xuyên và Bình Nguyên Lộc. Nếu không làm được nhà văn anh sẽ là nhà thơ ít nhứt ngang hàng với Trần Dạ Từ. Hoặc đối đế sẽ trở thành một nhà báo danh tiếng cỡ ông Trần Tấn Quốc. Nhưng cuối cùng trong ba nhà ấy anh không là nhà nào hết mà anh và Đạt đều trở thành nhà binh…Anh ơi, cuộc đời của bọn thanh niên thiếu nữ chúng ta sinh ra trong thời chiến, nếu không đào thì thôi mà đào lên thì đầy những giọt nước mắt lẫn những tiếng cười.
Chắc anh còn nhớ cái năm Đệ Tam “dưỡng già” ấy, một mình em ngồi dãy bàn gần cửa ra vào. Mấy tuần sau anh lò dò im lặng đến ngồi sau lưng em. Em ngạc nhiên hết sức, không hiểu anh chàng này muốn giở trò gì…Nhưng thời gian trôi qua, đối với đứa con gái mới lớn như em, anh là một gả lừng khừng đáng mến và em biến anh thành tay sai để thỉnh thoảng quay lại hỏi bài mượn tập, mượn sách. Về sau em khám phá ra tụi con trai thách anh đến ngồi sau lưng em với mục đích kiếm cho được 10 sợi tóc của em và phần thưởng là một chầu nước mía Viễn Đông. Em thấy anh gan thiệt vì làm sao anh kiếm được cái gì trên đôi vai hay trên mái tóc mà em đã chải kỹ trước khi đi học. Nhưng cuối cùng anh cũng thành công và hôm nay em mới tiết lộ những sợi tóc đó là do em chuẩn bị trước, cứ mỗi lần em hất mái tóc ra sau em để lại trên vai một sợi. Đọc đến đây có lẽ anh hết tự hào nhưng dù sao nước mía anh cũng đã được uống rồi. Mấy cuốn English For Today em mượn anh rồi lấy luôn đến nay em vẫn còn giữ như của riêng thời đi học. Em biết anh có làm thơ nhưng anh thật tệ, những ngày tháng đó em mong đọc được một bài thơ tình vu vơ ghép trong trang sách nhưng em luôn thất vọng. Bây giờ em hỏi thiệt anh: sao lúc đó anh không nói với em một lời nào, “dù là một lời không đáng chi”?…
Dù sao cũng đến lúc phải chấm dứt thơ, em không hẹn sẽ viết tiếp nhưng em cũng không quên cầu chúc cho anh đầy đủ sức khỏe, ăn tô hủ tíu Mỹ Tho hay trái vú sữa Lò Rèn còn biết ngon.
Em
Cao Thị Thu Vân
(Hình minh họa chụp trên công viên trước rạp Rex năm 1970. Nguồn: manhhai Flickr)
Ẩn bớt

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

4277 - Ông Nguyễn Tất Trung qua đời

1360 - Điều gì giúp LDP thống trị nền chính trị Nhật Bản?

2945 - Chi tiết 'Chiến dịch Mạng nhện' của Ukraine nhằm vào máy bay ném bom của Nga