1060 - Câu chuyện một chiếc cầu
Phạm Nhật Bình
(Ảnh: Cầu Ông Lãnh hình chữ L nối hai bờ Rạch Bến Nghé, con đường có hàng cây cao là đại lộ Nguyễn Thái Học, đi thẳng tới sẽ gặp đại lộ Trần Hưng Đạo)
Việt Nam Sử Lược của tác giả Trần Trọng Kim chép: Ngày 15/3/1874 triều đình Huế dưới thời vua Tự Đức ký Hòa Ước Giáp Tuất 1874 với Pháp, nhượng đứt đất Nam Kỳ để đổi lấy 5 tàu chiến, 100 khẩu đại bác với 20 ngàn viên đạn, 1,000 khẩu súng trường mỗi khẩu có 5,000 viên đạn. Từ đó đất Nam Kỳ (Cochinchine) do Pháp trực tiếp cai trị với quy chế thuộc địa. Đó là lý do cắt nghĩa tại sao người Pháp bỏ nhiều công sức, tiền bạc ra xây dựng Sài Gòn trở thành một thành phố đẹp đẽ cho tương xứng với nơi làm việc của Toàn quyền Đông Dương (Dinh Norodom, sau này là Dinh Độc Lập) và Thống Đốc Nam Kỳ (dinh Gia Long) mà sau này có người ví Sài Gòn là Hòn Ngọc Viễn Đông.
Cầu Ông Lãnh trước năm 1975 là một trong nhiều cây cầu xây từ thời Pháp, bắc ngang rạch Bến Nghé, nối liền Quận Nhì và Quận Tư Đô thành Sài Gòn. Rạch Bến Nghé (trên bản đồ thời Pháp để tên Arroyo chinois: Kinh Tàu Hũ) nếu kể từ vàm Bến Nghé giáp sông Sài Gòn trở vào, trước hết có Cầu Quay (tên đầu tiên là cầu Bắc Bình Vương, sau đổi thành cầu Khánh Hội), Cầu Mống, tới Cầu Ông Lãnh là khu vực buôn bán sầm uất nhất nhì đất “Sài Thành hoa lệ”. Riêng cầu Calmette xây sau năm 1963 nối Quận Nhứt với Quận Tư từ đường Bác sĩ Calmette (Bourdais cũ) qua Bến Vân Đồn gặp đường Đỗ Thành Nhơn. Bên phía Quận Nhì, Cầu Ông Lãnh gần thẳng góc với đại lộ Nguyễn Thái Học, được thiết kế có một đường lên và một đường xuống gặp đường Bến Chương Dương. Bên phía Quận Tư, cầu chỉ có một đường lên xuống hai chiều để gặp đường Bến Vân Đồn. Từ trên Cầu Ông Lãnh khách bộ hành có thể đi theo một cầu thang xây xi măng để xuống thẳng phần đất Vĩnh Hội, Quận Tư, vừa đi vừa hít mùi thuốc lá của nhà máy thuốc lá Juan Bastos trước mặt, nằm ngay bên lề đường Bến Vân Đồn. Bên cạnh hãng Bastos là hãng phân bón Con Cò và con hẻm lớn dọc bờ tường của nó được người dân ở đây đặt tên là Hẻm Hãng Phân với chợ Hãng Phân buôn bán khá sung túc. Người Pháp trước đây đặt tên các bờ sông thường dùng chữ “Quai”; Quai Le Myre de Vilers, thời Việt Nam Cộng Hòa đổi lại là Bến Bạch Đằng; Quai de Belgique là Bến Chương Dương, Quai de la Marne là Bến Vân Đồn. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thường dùng những trận thủy chiến lừng danh đời nhà Trần chống quân Nguyên xâm lược để đặt tên, nêu cao lòng yêu nước của tiền nhân bảo vệ từng tấc đất giang sơn. Nhiều bạn sẽ hỏi: Ông Lãnh là ai mà đặt tên cho một cây cầu quan trọng như thế? Có hai nguồn gốc của cây cầu còn lưu lại. Một cho rằng sau Hòa ước Giáp Tuất 1874 công nhận chủ quyền vĩnh viễn của Pháp trên toàn cõi Nam Kỳ, nhà Nguyễn còn đặt một lãnh sự quán ở Sài Gòn, tại góc đường Đề Thám-Trần Hưng Đạo ngày nay. Vị "lãnh sự” đầu tiên là ông Nguyễn Thành Ý thường đi chiếc xe song mã qua lại khu vực chợ dưới bến Chương Dương, chỗ chiếc cầu neo đậu xuồng ghe của giới thương hồ, từ đó mới có tên gọi là Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Ông Lãnh. Đáng tin cậy hơn cả là cây cầu do quan Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng (1798-1866) là một võ tướng của nhà Nguyễn được phong chức lãnh binh dưới triều vua Tự Đức làm ra, người dân Gia Định gọi trực tiếp là Cầu Ông Lãnh. Việc gọi tên này phù hợp với tâm tình người dân đi khai hoang lập ấp thời các chúa Nguyễn mở rộng đất nước về phía Nam. Vì vậy mới có Chợ Cây Da Sà, Đồng Ông Cộ, Chợ Thị Nghè, Kinh Bà Bèo, Cầu Cổ Cò, Sông Ông Đốc! Khi ấy, quan Lãnh binh đang đóng quân ở đồn Cây Mai, cho xây một cây cầu bằng gỗ bắc ngang rạch Bến Nghé để thuận tiện việc qua lại. Năm 1929, người Pháp phá bỏ cầu gỗ, thay bằng một cầu đúc xi măng, dài 120 mét, có lan can và đường dành cho người đi bộ cả hai bên. Cầu đúc mới xây vẫn được người Việt gọi là Cầu Ông Lãnh cũng như ngôi chợ bên cạnh cùng tên Chợ Cầu Ông Lãnh để nhớ người đã có công làm chiếc cầu gỗ đầu tiên. Năm 1885 sau gần 20 năm ông Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng qua đời, nguồn gốc này được học giả Pétrus Trương Vĩnh Ký khẳng định khá rõ: “Chiếc cầu gỗ do ông Lãnh binh ở gần đó cho bắc qua, chắc là ông Lãnh Binh Thăng này, chớ không phải ai khác”. Năm 1955 Tư Bốn từ tỉnh lẽ Tân An ngồi “xe lửa” lên Sài Gòn ăn học, không sắm nổi chiếc xế điếc nên mỗi ngày phải cuốc bộ từ hẻm 266 Tôn Đản xuyên qua những con đường đất ngoằn ngoèo hai bên đầy mồ mả, ra tới hẻm Hãng Phân, băng qua đường Bến Vân Đồn, tà tà lên dốc Cầu Ông Lãnh vừa đi vừa nhìn cảnh trên bến dưới thuyền. Hẽm Hãng Phân là một con hẻm có tiếng vùng Vĩnh Hội, có ngôi chợ nhỏ nằm sát hãng phân bón hiệu Con Cò nên cũng mang tên Chợ Hãng Phân. Hãng thuốc lá Juan Bastos và hãng phân Con Cò nằm cạnh nhau trên đường Bến Vân Đồn như một cặp anh em song sanh. Qua khỏi Cầu Ông Lãnh Tư tiếp tục lang thang trên đại lộ Kitchener, sau đổi tên thành đại lộ Nguyễn Thái Học, băng qua ngã tư Nguyễn Công Trứ - Nguyễn Thái Học. Trường trung học tư thục Nguyễn Văn Khuê nằm ngay góc ngã ba mang tên hai danh nhân nước Việt Nguyễn Thái Học-Phan Văn Trường, đối diện bên kia đường là ngôi chợ rau cải Đà Lạt nổi tiếng: chợ Cầu Muối. Nguyễn Thái Học (1902-1930) là một anh hùng dân tộc của Việt Nam, từ 1927 là Chủ tịch Tổng bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng (Đảng Trưởng) lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Báy. Cuộc khởi nghĩa bất thành, ông cùng 12 đồng chí khác lên máy chém của Pháp tại Yên Báy ngày 17/6/1930, người nào cũng anh dũng hô to “Việt Nam muôn năm”, viết nên một trang sử oai hùng của dân tộc Việt. Luật sư Phan Văn Trường (1876-1933) vị Tiến sĩ Luật học đầu tiên của Việt Nam có văn phòng Luật sư tại Paris. Ông hoạt động trong nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp cùng Phan Châu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh. Luật sư Phan Văn trường là tác giả bản"Revendications du peuple annamite" ("Thỉnh nguyện thư của dân tộc An Nam" hay còn gọi là "Yêu sách của nhân dân Việt Nam"). Bản yêu sách này Luật sư Phan Văn Trường viết với văn phong luật học kinh điển của một luật gia yêu nước mà một học sinh mới qua tiểu học không thể viết được như hư cấu của sách báo tuyên truyền sau này. Ông cũng viết nhiều bài báo với bút danh chung của nhóm là Nguyễn Ái Quốc mà về sau có người ngang nhiên "cầm nhầm" và nguỵ xưng tên Nguyễn Ái Quốc! Cầu Ông Lãnh còn để lại trong lòng Tư Bốn một kỷ niệm khó quên. Năm 1961, học lớp Đệ Nhị B1 trường Nguyễn Văn Khuê, hàng ngày vẫn sử dụng “lô ca chân”. Hết giờ học, trên đường về Tư lẽo đẽo theo sau người bạn học cùng lớp, "chị" Cao Thị Vân Thu, qua Cầu Ông Lãnh vì nhà nàng ở hẻm Hãng Phân. Theo sau như bóng với hình. Một hôm đang đi, nàng quay lại nhìn tôi nghiêm mặt hỏi: “Sao anh ngày nào cũng đi theo tôi mà không…nói gì hết vậy?” Anh học trò trung học 18 tuổi còn trinh tiết như hoa soan bên thềm cũ lúc đó trả lời một câu rất vô duyên: “Đẹp…người ta mới đi theo.. chớ nói gì...” Nàng nhoẻn miệng cười quay đi, mắt long lanh sáng và chúng tôi đi tiếp như chưa bao giờ ai nói với ai lời nào! Rồi chiến tranh như một cơn gió lốc cuốn đi những mối tình học trò, những bài thơ “màu hoa đào” nắn nót trên trang lưu bút ngày xanh. Tôi chưa kịp trở thành nhà thơ, nhà văn, nhà báo hay nhà giáo thì đã nhanh chóng thành nhà binh. Hơn nửa trăm năm vèo bay như lá vàng, như mây trắng, như bọt sóng đầu sông. Trong khi lưu lạc xứ người ở Xứ Bưởi Thành Cam, tôi mới nghe Sáu Tà một người bạn cũng ở Hẻm Hãng Phân nói, Cao Thị Vân Thu đã chết trong Tết Mậu Thân. “Qua cầu dừng lại nhớ cầu Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu!”
Năm năm sau năm 1975, Cầu ông Lãnh bị phá bỏ để xây cầu mới nhưng hình ảnh chiếc cầu, mùi thuốc lá Bastos, màu áo trắng người bạn gái học chung lớp vẫn là những hình ảnh nồng nàn trong trái tim của một khứa lão còn ngây thơ vô số tội!

Nhận xét
Đăng nhận xét